Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 236-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 18 tháng 9 năm 1985, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 9 năm 1985, nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chế độ, chính sách đối với thương binh, bệnh binh, quân nhân phục viên, công nhân viên chức nghỉ hưu hoặc mất sức lao động, người có công với cách mạng và các đối tượng bảo trợ xã hội khác trong bối cảnh cải tiến chế độ tiền lương mới.

Phạm vi và đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm: công nhân, viên chức Nhà nước; quân nhân thuộc lực lượng vũ trang; thương binh, bệnh binh; quân nhân phục viên; người có công giúp đỡ cách mạng; thân nhân của người có công, liệt sĩ hoặc công nhân viên chức đã từ trần; và các đối tượng bảo trợ xã hội như trẻ mồ côi, người già yếu, người tàn tật không nơi nương tựa.

Chế độ lương hưu đối với công nhân, viên chức và quân nhân

  • Điều kiện hưởng lương hưu tiêu chuẩn: Nam đủ 60 tuổi (quân nhân đủ 55 tuổi) và có đủ 30 năm công tác; nữ đủ 55 tuổi (quân nhân đủ 50 tuổi) và có đủ 25 năm công tác. Thời gian công tác tại các môi trường đặc thù được quy đổi theo hệ số ưu đãi (1 năm tính bằng 1 năm 2 tháng, 1 năm 4 tháng hoặc 1 năm 6 tháng tùy điều kiện lao động, chiến đấu).
  • Trường hợp nghỉ hưu trước tuổi: Công nhân, viên chức và quân nhân làm các nghề nặng nhọc, độc hại, làm việc ở vùng khó khăn, gian khổ hoặc bị mất sức lao động do tai nạn, ốm đau được hưởng lương hưu khi đã đủ thời gian công tác nhưng chưa đủ tuổi đời.
  • Mức lương hưu hàng tháng: Đạt 75% mức lương chính và phụ cấp thâm niên (nếu có) đối với người đủ số năm công tác tiêu chuẩn (nam 30 năm, nữ 25 năm). Cứ mỗi năm công tác vượt chuẩn được cộng thêm 1%, tối đa không quá 95% lương chính và phụ cấp thâm niên.
  • Ưu đãi đối với cán bộ cách mạng và Anh hùng: Cán bộ hoạt động cách mạng trước tháng 8/1945 được hưởng phụ cấp ưu đãi 20 đồng/tháng cho mỗi năm thâm niên hoạt động; nếu không có lương thì hưởng sinh hoạt phí từ 160 đồng (hoạt động từ năm 1936 về sau) đến 220 đồng/tháng (hoạt động từ năm 1935 trở về trước). Anh hùng lao động và Anh hùng lực lượng vũ trang được phụ cấp thêm 5% tiền lương và phụ cấp thâm niên khi nghỉ hưu hoặc nghỉ mất sức.
  • Chuyển đổi lương hưu cũ: Người nghỉ hưu trước ngày ban hành Nghị định được chuyển đổi sang mức lương mới để tính lại lương hưu theo tỷ lệ đang hưởng, bảo đảm tối thiểu bằng 60% mức lương tối thiểu mới. Trường hợp đủ điều kiện tính theo quy định mới có lợi hơn thì được áp dụng mức mới.

Chế độ trợ cấp thương tật đối với thương binh

  • Phân hạng thương tật mới: Thương binh được xếp thành 4 hạng dựa trên tỷ lệ mất sức lao động: Hạng 1 (mất 81% - 100%, mất hoàn toàn khả năng lao động, cần người phục vụ); Hạng 2 (mất 61% - 80%, mất phần lớn khả năng lao động, tự phục vụ được); Hạng 3 (mất 41% - 60%, mất khả năng lao động trung bình); Hạng 4 (mất 21% - 40%, giảm nhẹ khả năng lao động).
  • Mức trợ cấp hàng tháng khi về gia đình: Tính theo tỷ lệ lương chính và phụ cấp thâm niên khi bị thương. Đối với thương binh loại A: Hạng 1 hưởng 100%, Hạng 2 hưởng 70%, Hạng 3 hưởng 50%, Hạng 4 hưởng 20%. Đối với thương binh loại B: Hạng 1 hưởng 80%, Hạng 2 hưởng 55%, Hạng 3 hưởng 35%, Hạng 4 hưởng 15%.
  • Mức lương căn cứ tính trợ cấp: Nếu hưởng sinh hoạt phí khi bị thương, mức lương tính trợ cấp thống nhất là 250 đồng (hoặc cao hơn nếu trước đó là công nhân viên chức có lương cao hơn). Thương binh đang làm việc hoặc hưởng lương hưu được nhận 30% mức trợ cấp khi về gia đình.
  • Các khoản phụ cấp bổ sung: Thương binh hạng 1 nuôi dưỡng tại gia đình được phụ cấp 70 đồng/tháng cho người phục vụ và hỗ trợ kinh phí mua phương tiện sinh hoạt. Thương binh dũng cảm được trợ cấp một lần bằng 2 tháng lương hoặc 500 đồng. Thương binh hạng 4 gặp khó khăn tại đô thị được xét trợ cấp khó khăn.
  • Bãi bỏ các chế độ hiện vật: Bãi bỏ việc cấp tem thư, miễn giảm vé tàu xe, vé xem hát; thay thế bằng việc cấp tiền trực tiếp khi đi khám bệnh, điều trị hoặc làm chân tay giả. Các trang thiết bị y tế, đồ dùng do nhu cầu thương tật không tính vào trợ cấp thương tật và được cấp phát riêng.

Chế độ đối với bệnh binh và quân nhân phục viên

  • Phân hạng bệnh binh: Quân nhân mất sức lao động từ 41% trở lên về gia đình được xếp thành 3 hạng bệnh binh: Hạng 1 (mất 81% - 100%); Hạng 2 (mất 61% - 80%); Hạng 3 (mất 41% - 60%).
  • Mức trợ cấp bệnh binh: Hưởng trợ cấp hàng tháng tương đương mức của thương binh loại B cùng hạng. Bệnh binh hạng 1 được phụ cấp 70 đồng/tháng cho người phục vụ nếu có chỉ định y khoa. Mức lương căn cứ tính trợ cấp tối thiểu là 250 đồng.
  • Trợ cấp phục viên một lần: Quân nhân phục viên được trợ cấp 1 tháng lương và phụ cấp cho bản thân, cộng thêm 1 tháng lương cho mỗi năm phục vụ trong quân đội. Mức lương tính trợ cấp tối thiểu là 250 đồng. Quân nhân đã phục viên trước đây đang hưởng trợ cấp hàng tháng được tính lại và chi trả một lần cho thời gian còn lại.

Trợ cấp mất sức lao động đối với công nhân, viên chức nghỉ việc

  • Trợ cấp hàng tháng: Áp dụng cho người mất sức lao động từ 61% trở lên hoặc già yếu hết tuổi lao động có đủ 15 năm công tác trở lên. Mức hưởng bằng 40% tiền lương và phụ cấp thâm niên, cộng thêm 1% cho mỗi năm công tác vượt chuẩn 15 năm.
  • Trợ cấp một lần: Áp dụng cho người chưa đủ 15 năm công tác, cứ mỗi năm công tác được trợ cấp 1 tháng lương và phụ cấp.
  • Yêu cầu giám định lại sức lao động: Người hưởng trợ cấp hàng tháng trong độ tuổi lao động phải giám định lại sức lao động định kỳ 2 năm một lần. Nếu sức lao động hồi phục sẽ dừng trợ cấp; trường hợp cơ quan cũ không tiếp nhận lại thì được trợ cấp thôi việc một lần (mỗi năm công tác bằng 1 tháng lương trừ đi thời gian đã hưởng trợ cấp hàng tháng).
  • Xử lý chuyển tiếp: Người đã nghỉ mất sức trước ngày ban hành Nghị định nếu chưa đủ 15 năm công tác (trừ đối tượng kháng chiến, ngành nghề độc hại, vùng khó khăn) sẽ chuyển sang hưởng trợ cấp một lần sau khi trừ đi thời gian đã nhận trợ cấp hàng tháng.

Chế độ đối với người có công giúp đỡ cách mạng

  • Thời kỳ trước Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945: Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" kèm bằng "Có công với nước" hoặc bằng "Có công với nước" được trợ cấp ưu đãi 50 đồng/tháng.
  • Thời kỳ kháng chiến: Người được tặng "Huân chương Kháng chiến" được trợ cấp ưu đãi 40 đồng/tháng.
  • Chế độ nuôi dưỡng: Người có công già yếu, mất sức lao động, không có người nuôi dưỡng được tiếp nhận vào cơ sở Nhà nước hoặc phường, xã với mức sinh hoạt phí 160 đồng/tháng.

Chi phí chôn cất và trợ cấp tuất khi từ trần

  • Chi phí mai táng: Công nhân, viên chức và quân nhân chết được Nhà nước hỗ trợ một khoản tiền chôn cất theo quy định của Bộ Thương binh và Xã hội.
  • Trợ cấp nguyên lương ngắn hạn cho thân nhân:
    • Thân nhân liệt sĩ hoặc cán bộ cách mạng trước tháng 8/1945: Hưởng 100% lương và phụ cấp của người chết trong 6 tháng đầu, hưởng 20% trong 12 tháng tiếp theo.
    • Chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Hưởng nguyên lương trong 5 tháng đầu, hưởng 20% trong 6 tháng tiếp theo.
    • Chết do bệnh thông thường, tai nạn rủi ro: Hưởng nguyên lương trong 4 tháng đầu, hưởng 20% trong 6 tháng tiếp theo.
  • Trợ cấp tuất hàng tháng dài hạn: Sau thời gian hưởng nguyên lương, thân nhân hết tuổi lao động hoặc chưa đến tuổi lao động được hưởng:
    • Thân nhân liệt sĩ/cán bộ tiền khởi nghĩa: 40 đồng/tháng/người.
    • Chết do tai nạn lao động/bệnh nghề nghiệp: 35 đồng/tháng/người (tổng tối đa 60% lương người chết).
    • Chết do bệnh thông thường (nếu người chết có từ 15 năm công tác trở lên): 30 đồng/tháng/người (tổng tối đa 50% lương người chết).
  • Chế độ nuôi dưỡng tập trung cho thân nhân: Thân nhân già yếu, mồ côi không nơi nương tựa được nuôi dưỡng tại cơ sở Nhà nước hoặc địa phương với mức sinh hoạt phí hàng tháng: 160 đồng (thân nhân liệt sĩ), 130 đồng (thân nhân người chết do tai nạn lao động/bệnh nghề nghiệp), 120 đồng (thân nhân người chết do bệnh thông thường/tai nạn rủi ro).

Trợ cấp xã hội và cứu tế xã hội

  • Bãi bỏ trợ cấp cũ: Bãi bỏ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 206-CP và Quyết định 174-CP, chuyển sang hưởng trợ cấp một lần (mỗi năm công tác bằng 1 tháng lương mới trừ đi thời gian đã hưởng trợ cấp hàng tháng).
  • Đối tượng bảo trợ xã hội tập trung: Trẻ mồ côi, người già yếu, người tàn tật không nơi nương tựa nuôi dưỡng tại cơ sở tập trung được cấp sinh hoạt phí 110 đồng/tháng và tổ chức lao động sản xuất phù hợp để tăng thu nhập.
  • Đối tượng giáo dục cải tạo: Được cấp sinh hoạt phí 110 đồng/tháng trong 6 tháng đầu, giảm dần và cắt hẳn sau năm thứ hai để tự lực bằng lao động.
  • Đối tượng y tế đặc thù: Người mắc bệnh tâm thần mãn tính, trẻ em suy dinh dưỡng, bại liệt tại các trung tâm phục hồi chức năng được cấp sinh hoạt phí 110 đồng/tháng.
  • Đối tượng tại địa phương: Ủy ban nhân dân các cấp xét trợ cấp cứu tế một lần hoặc thường kỳ, bảo đảm khẩu phần lương thực tối thiểu đủ sống cho trẻ mồ côi, người già yếu, người tàn tật không nơi nương tựa tại địa phương.

Điều khoản thi hành và hiệu lực pháp lý

  • Phụ cấp trượt giá và khu vực: Tất cả các khoản lương hưu và trợ cấp hàng tháng được cộng thêm phụ cấp chênh lệch giá sinh hoạt theo vùng (theo Nghị định 235-HĐBT) và phụ cấp khu vực nơi cư trú (nếu có).
  • Hiệu lực thi hành: Nghị định 236-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1985. Mọi quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
  • Trách nhiệm thực hiện: Bộ Thương binh và Xã hội phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thi hành. Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 236-HĐBT

Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm 1985

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 236-HĐBT NGÀY 18-9-1985 VỀ BỔ SUNG, SỬA ĐỔI MỘT SỐ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH VỀ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V);
Căn cứ nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng ngày 7-9-1985;
Tiếp theo nghị định số 235-HĐBT ngày 18-9-1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang,

NGHỊ ĐỊNH :

VỀ LƯƠNG HƯU

Điều 1.- Nam công nhân viên chức đủ 60 tuổi (nếu là quân nhân thì đủ 55 tuổi) và có đủ 30 năm công tác, nữ công nhân, viên chức đủ 55 tuổi (nếu là quân nhân thì đủ 50 tuổi) và có đủ 25 năm công tác thì được hưởng lương hưu.

Tuỳ theo điều kiện lao động và chiến đấu, thời gian công tác được quy đổi theo hệ số; một năm công tác được tính là 1 năm, hoặc 1 năm 2 tháng, hoặc 1 năm 4 tháng, hoặc 1 năm 6 tháng.

Điều 2.- Công nhân, viên chức và quân nhân làm các nghề nặng nhọc, độc hại, hoặc làm việc ở những vùng có nhiều khó khăn, gian khổ, hoặc vì bị thương, bị tai nạn, ốm đau mà mất sức lao động, đã có đủ điều kiện về thời gian công tác, nhưng chưa đủ điều kiện về tuổi đời thì cũng được hưởng lương hưu.

Điều 3.- Lương hưu hàng tháng đối với nam có đủ 30 năm công tác, đối với nữ có đủ 25 năm công tác, được tính bằng 75% lương chính và phụ cấp thâm niên (nếu có); ngoài ra thêm mỗi năm công tác được thêm 1%, tối đa không quá 95% lương chính và phụ cấp thâm niên.

Điều 4.- Cán bộ hoạt động cách mạng trước tháng Tám năm 1945 thuộc diện thi hành quyết định số 128-HĐBT ngày 8-10-1984 của Hội đồng Bộ trưởng, cứ mỗi thâm niên hoạt động cách mạng trước tháng 8 năm 1945 được phụ cấp ưu đãi hàng tháng 20 đồng.

Cán bộ hoạt động cách mạng trước tháng 8 năm 1945 nhưng lâu nay không có lương, thì được hưởng sinh hoạt phí hàng tháng 220 đồng nếu hoạt động từ năm 1935 trở về trước được hưởng sinh hoạt phí hàng tháng 160 đồng nếu hoạt động từ năm 1936 về sau.

Anh hùng lao động và anh hùng lực lượng vũ trang nghỉ hưu hoặc nghỉ mất sức được hưởng phụ cấp ưu đãi hàng tháng bằng 5% tiền lương và phụ cấp thâm niên (nếu có).

Điều 5. - Công nhân, viên chức và quân nhân đã nghỉ hưu trước ngày ban hành nghị định này thì căn cứ vào mức lương cũ khi nghỉ hưu chuyển đổi sang mức lương mới cùng thang bậc lương để tính lại lương hưu theo tỷ lệ đang hưởng, thấp nhất cũng được hưởng bằng 60% mức lương tối thiểu mới. Trường hợp thấy có lợi và có đủ điều kiện để tính lại lương hưu theo quy định mới (điều 1 và điều 3 trên đây) thì tính lại để hưởng theo mức ấy.

VỀ TRỢ CẤP THƯƠNG TẬT

Điều 6.- Thương binh được xếp thương tật theo 4 hạng:

- Hạng 1: mất từ 81% đến 100% sức lao động do thương tật; mất hoàn toàn khả năng lao động, cần có người phục vụ.

- Hạng 2: mất từ 61% đến 80% sức lao động do thương tật: mất phần lớn khả năng lao động, còn tự phục vụ được.

- Hạng 3: Mất từ 41% đến 60% sức lao động do thương tật: mất khả năng lao động ở mức trung bình.

- Hạng 4: Mất từ 21 đến 40% sức lao động do thương tật: giảm nhẹ khả năng lao động.

Bộ Y tế cùng Bộ Thương binh xã hội quy định cụ thể tiêu chuẩn các hạng thương tật mới nói ở trên và việc chuyển đổi từ các hạng cũ sang các hạng mới.

Điều 7.- Thương binh loại A và thương binh loại B được hưởng trợ cấp thương tật hàng tháng tính trên lương chính và phụ cấp thâm niên (nếu có) khi bị thương như sau:

Hạng thương tật

Trợ cấp thương tật khi về gia đình

Thương binh loại A

Thương binh Loại B

Hạng 1

100%

80%

Hạng 2

70%

55%

Hạng 3

50%

35%

Hạng 4

20%

15%

Nếu khi bị thương, thương binh thuộc diện hưởng sinh hoạt phí thì trợ cấp thương tật được tính trên mức lương thống nhất là 250 đồng. Công nhân, viên chức trước khi vào bộ đội đã có mức lương cao hơn 250 đồng thì tính theo mức lương ấy.

Thương binh (cả loại A và loại B) đang hưởng lương hoặc lương hưu thì được trợ cấp thương tật bằng 30% mức trợ cấp thương tật khi về gia đình.

Điều 8.- Ngoài trợ cấp thương tật nói ở điều 7, thương binh hạng 1 được nuôi dưỡng ở gia đình, phường xã, còn được phụ cấp hàng tháng 70 đồng cho người phục vụ và được cấp một khoản tiền để mua sắm những phương tiện sinh hoạt cần thiết theo quy định của Bộ Thương binh xã hội.

Thương binh có hành động dũng cảm mà bị thương, khi về gia đình được phụ cấp ưu đãi một lần một khoản tiền bằng 2 tháng lương khi bị thương hoặc 500 đồng nếu thương binh thuộc diện hưởng sinh hoạt phí.

Thương binh hạng 4 về gia đình cư trú ở thành phố, thị xã, nếu đời sống có nhiều khó khăn thì cơ quan thương binh và xã hội xét trợ cấp khó khăn.

Điều 9.- Thương binh đã được xác nhận trước ngày ban hành Nghị định này chuyển sang xếp hạng thương tật theo quy định ở điều 6, và căn cứ vào mức lương cũ khi bị thương chuyển đổi sang mức lương mới cùng thang bậc lương để tính lại trợ cấp thương tật theo quy định ở điều 7, điều 8.

Điều 10.- Những trang thiết bị và đồ dùng cần thiết cho thương binh, bệnh binh do nhu cầu của thương tật và bệnh lý thì không tính vào trợ cấp thương tật. Bộ Thương binh và xã hội quy định cụ thể việc cấp phát những trang thiết bị và đồ dùng này.

Từ nay, bãi bỏ việc cấp tem thư, việc miễn giảm tiền tàu xe, vé xem hát, v v... Bộ Thương binh và xã hội quy định cụ thể việc cấp tiền cho thương binh, bệnh binh khi đi khám bệnh, chữa bệnh và làm chân tay giả.

VIỆC TRỢ CẤP ĐỐI VỚI BỆNH BINH VÀ QUÂN NHÂN PHỤC VIÊN

Điều 11.- Quân nhân bị mất sức lao động từ 41% trở lên về sinh sống với gia đình (kể cả quân nhân hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động theo nghị định số 500-NĐ-LB ngày 12-11-1985 của Liên bộ Quốc Phòng - Cứu tế xã hội - Tài chính và nghị định số 523-TTg ngày 6 tháng 1 năm 1958 của Thủ tướng Chính phủ; theo điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ quân nhân ban hành bằng nghị định số 161-CP ngày 30-10-1964 của Hội đồng Chính phủ) và bệnh binh (theo quyết định số 78-CP ngày 13-4-1978 của Hội đồng Chính phủ) nay gọi chung là bệnh binh và xếp theo 3 hạng:

- Hạng 1: mất từ 81% đến 100% sức lao động

- Hạng 2: mất từ 61% đến 80% sức lao động.

- Hạng 3: mất từ 41% đến 60% sức lao động.

Điều 12.- Bệnh binh các hạng 1, 2, 3 được hưởng trợ cấp hàng tháng bằng mức trợ cấp của thương binh loại B khi về gia đình có cùng hạng mất sức lao động nói ở điều 7. Bệnh binh thuộc diện hưởng sinh hoạt phí thì trợ cấp sức hàng tháng tính trên mức lương thống nhất là 250 đồng; công nhân, viên chức trước khi vào bộ đội đã có mức lương cao hơn thì tính theo mức lương ấy. Bệnh binh hạng 1 được nuôi dưỡng ở gia đình, ngoài trợ cấp nói trên, còn được phụ cấp hàng tháng 70 đồng cho người phục vụ nếu có quyết định của Hội đồng giảm định y khoa.

Điều 13.- Từ nay, quân nhân phục viên về địa phương được trợ cấp một lần một khoản tiền bằng 1 tháng lương và các khoản phụ cấp (nếu có), ngoài ra, cứ mỗi năm phục vụ trong quân đội được trợ cấp 1 tháng lương và các khoản phụ cấp (nếu có). Khoản tiền này do đơn vị quân đội cấp phát trước khi quân nhân về địa phương. Nếu trước khi phục viên, quân nhân thuộc diện hưởng sinh hoạt phí thì trợ cấp được tính trên mức lương thống nhất là 250 đồng; công nhân, viên chức trước khi vào bộ đội đã có mức lương cao hơn thì tính theo mức lương ấy.

Quân nhân đã phục viên trước đây còn đang hưởng trợ cấp hàng tháng thì được tính lại trợ cấp theo lương mới và theo cách tính nói trên và được cấp phát hết một lần cho thời gian còn lại.

VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC NGHỈ VIỆC VÌ MẤT SỨC LAO ĐỘNG

Điều 14.- Công nhân, viên chức vì ốm đau (không phải do bệnh nghề nghiệp), vì tai nạn (không phải do tai nạn lao động) mà mất sức lao động từ 61% trở lên, hoặc vì già yếu hết tuổi lao động được nghỉ việc thì hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động như sau:

1. Nếu có thời gian công tác đủ 15 năm trở lên (năm công tác tính theo hệ số nói ở điều 1) thì được hưởng trợ cấp hàng tháng. Người có đủ 15 năm công tác được tính trợ cấp bằng 40% tiền lương và phụ cấp thâm niên (nếu có); Ngoài ra, cứ thêm mỗi năm công tác được tính thêm 1%.

2. Nếu chưa có đủ 15 năm công tác thì được hưởng trợ cấp một lần: cứ mỗi năm công tác được trợ cấp 1 tháng lương và các khoản phụ cấp (nếu có). Trường hợp đời sống có nhiều khó khăn thì được xét trợ cấp cứu tế theo quy định của Bộ Thương binh và xã hội.

Điều 15.- Công nhân, viên chức nghỉ việc vì mất sức lao động, hưởng trợ cấp hàng tháng, còn trong độ tuổi lao động thì 2 năm phải giám định lại sức lao động một lần. Chứng nhận về mất sức lao động là điều kiện bắt buộc để được nhận trợ cấp tiếp.

Những người trước đây về nghỉ việc không qua giám định sức lao động, những người mà chính quyền cơ sở phát hiện là khoẻ mạnh, lao động bình thường thì phải tổ chức giám định lại sức lao động. Bộ Y tế và Bộ Thương binh xã hội quy định cụ thể quy chế và tổ chức giám định sức lao động.

Điều 16.- Công nhân, viên chức nghỉ việc vì mất sức lao động, được xác định sức lao động đã hồi phục, thì thôi hưởng trợ cấp hàng tháng.

Những người không được cơ quan, xí nghiệp tiếp nhận lại làm việc thì cơ quan, xí nghiệp cũ trợ cấp thôi việc một lần; cứ mỗi năm công tác được trợ cấp bằng 1 tháng lương và các khoản phụ cấp (nếu có) tính trên số năm công tác trừ đi số thời gian đã hưởng trợ cấp hàng tháng.

Điều 17.- Công nhân, viên chức đã về nghỉ việc vì mất sức lao động từ trước ngày ban hành nghị định này và đang hưởng trợ cấp hàng tháng thì nay phải giám định lại sức lao động. Đối với những trường hợp mất sức lao động như quy định ở điều 14 thì giải quyết như sau:

1. Nếu có đủ thời gian công tác quy định ở điểm 1, điều 14 thì được căn cứ vào mức lương cũ chuyển đổi sang mức lương mới cùng thang bậc lương để tính lại trợ cấp hàng tháng theo quy định ở điểm 1, điều 14.

2. Nếu chưa có đủ 15 năm công tác thì thôi hưởng trợ cấp hàng tháng để hưởng trợ cấp một lần: cứ mỗi năm công tác được trợ cấp bằng 1 tháng lương và các khoản phụ cấp (nếu có) tính trên số năm công tác trừ số thời gian đã hưởng trợ cấp hàng tháng.

Đối với những trường hợp tuy chưa đủ 15 năm công tác nhưng đã tham gia kháng chiến, hoặc đã làm những ngành nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, hoặc đã hoạt động ở những vùng có nhiều khó khăn gian khổ thì có thể được xét trợ cấp dài hạn theo quy định cụ thể của Bộ Thương binh và xã hội.

VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ CÁCH MẠNG

Điều 18.- Những người được xác nhận có công giúp đỡ cách mạng trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 thuộc diện quy định tại Thông tư số 83-TTg ngày 22 tháng 8 năm 1962 đã được tặng thưởng kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" kèm theo bằng "Có công với nước" hoặc được tặng thưởng bằng "Có công với nước", thì được trợ cấp ưu đãi hàng tháng 50 đồng.

Những người được xác nhận có công giúp đỡ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến thuộc diện quy định tại Thông tư số 54-TTg ngày 22-8-1962 và quyết định số 208-CP ngày 20-7-1977 được tặng thưởng "huân chương Kháng chiến" thì được trợ cấp ưu đãi hàng tháng 40 đồng.

Điều 19.- Những người có công giúp đỡ cách mạng nói ở điều 18, nếu già yếu, mất sức lao động và gia đình không có điều kiện nuôi dưỡng, thì được nuôi dưỡng ở cơ sở của Nhà nước hoặc ở phường, xã; sinh hoạt phí nuôi dưỡng hàng tháng là 160 đồng.

VỀ CHI PHÍ CHÔN CẤT VÀ TRỢ CẤP VÌ MẤT NGƯỜI NUÔI DƯỠNG

Điều 20.- Công nhân, viên chức và quân nhân chết được chi một khoản tiền về chôn cất. Bộ Thương binh và xã hội quy định cụ thể khoản tiền này.

Điều 21.- Khi công nhân, viên chức và quân nhân chết, thân nhân được hưởng trợ cấp như sau:

1. Nếu người chết được xác nhận là liệt sĩ, hoặc người chết là cán bộ hoạt động cách mạng trước tháng tám năm 1945 thuộc diện quy định tại Quyết định số 128-HĐBT ngày 8-10-1984 của Hội đồng Bộ trưởng thì thân nhân tiếp tục được hưởng nguyên lương và các khoản phụ cấp (nếu có) của người chết trong 6 tháng. Trong 12 tháng tiếp sau, được hưởng 20%.

Nếu chết vì tai nạn lao động hoặc vì bệnh nghề nghiệp thì thân nhân tiếp tục được hưởng nguyên lương và các khoản phụ cấp (nếu có) của người chết trong 5 tháng. Trong 6 tháng tiếp được hưởng 20%.

Nếu chết do ốm đau thông thường hoặc do tai nạn rủi ro thì thân nhân tiếp tục được hưởng nguyên lương và các khoản phụ cấp (nếu có) của người chết trong 4 tháng. Trong 6 tháng tiếp sau, được hưởng 20%.

2. Nếu người chết thuộc diện hưởng sinh hoạt phí thì lấy mức 250 đồng để tính lương; nếu người chết, trước khi vào bộ đội có mức lương cao hơn 250 đồng thì lấy mức lương ấy để tính.

Điều 22.- Sau thời gian hưởng nguyên lương như đã nói ở điều 21, thân nhân chủ yếu của người chết đã hết tuổi lao động hoặc chưa đến tuổi lao động hoặc mất sức lao động, được trợ cấp tiền tuất hàng tháng như sau:

1. Nếu người chết được xác nhận là liệt sĩ hoặc người chết là cán bộ hoạt động cách mạng trước tháng 8 năm 1945 thì mỗi thân nhân được trợ cấp hàng tháng 40 đồng.

2. Nếu chết vì tai nạn lao động hoặc vì bệnh nghề nghiệp, thì mỗi thân nhân được trợ cấp hàng tháng 35 đồng, nhưng tổng số tiền trợ cấp của gia đình nhiều nhất không quá 60% tiền lương và các khoản phụ cấp (nếu có) của người chết.

3. Nếu chết vì ốm đau thông thường hoặc vì tai nạn rủi ro, và nếu đã có đủ 15 năm công tác trở lên, thì mỗi thân nhân được trợ cấp hàng tháng 30 đồng, nhưng tổng số tiền trợ cấp của gia đình nhiều nhất không quá 50% tiền lương và các khoản phụ cấp (nếu có) của người chết.

Điều 23.- Công nhân, viên chức và quân nhân chết, nếu còn cha mẹ, vợ, chồng đã già yếu, mất sức lao động và gia đình không có điều kiện nuôi dưỡng hoặc có con mồ côi cả cha mẹ, thì những người này được nuôi dưỡng ở các cơ sở của Nhà nước hoặc ở phường, xã.

Sinh hoạt phí nuôi dưỡng hàng tháng của mỗi thân nhân liệt sĩ là 160 đồng, của mỗi thân nhân người chết vì tai nạn lao động, vì bệnh nghề nghiệp là 130 đồng, của mỗi thân nhân chết vì ốm đau, vì tai nạn rủi ro là 120 đồng.

VỀ TRỢ CẤP XÃ HỘI VÀ TRỢ CẤP CỨU TẾ CHO CÔNG DÂN CÓ NHIỀU KHÓ KHĂN TRONG ĐỜI SỐNG

Điều 24.- Từ nay bãi bỏ việc trợ cấp hàng tháng theo quyết định số 206-CP ngày 30 tháng 5 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ.

Những người được trợ cấp theo quyết định số 174-CP ngày 4-6-1980 của Hội đồng Chính phủ, từ nay thôi hưởng trợ cấp hàng tháng để hưởng trợ cấp một lần: cứ mỗi năm công tác được trợ cấp bằng 1 tháng lương mới tính trên số năm công tác trừ số thời gian đã hưởng trợ cấp hàng tháng.

Trường hợp đời sống có nhiều khó khăn thì Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố xét trợ cấp cứu tế.

Điều 25.- Trẻ mồ côi, người già yếu, người tàn tật không nơi nương tựa, nếu nuôi dưỡng ở các cơ sở tập trung do Nhà nước quản lý thì được cấp sinh hoạt phí hàng tháng 110 đồng, ngoài ra, cần tổ chức cho họ lao động sản xuất dưới những hình thức thích hợp để có thêm thu nhập.

Các đối tượng còn sức lao động mà cần tập trung giáo dục cải tạo thì được cấp sinh hoạt phí hàng tháng 110 đồng trong 6 tháng đầu, sau đó thì giảm dần, đến hết năm thứ hai thì thôi cấp, trại viên phải sống bằng lao động sản xuất của mình.

Điều 26.- Người mắc bệnh tâm thần mãn tính được tập trung nuôi ở các trại, trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em bị bại liệt và những người khác được tiếp nhận vào các trung tâm phục hồi chức năng, được nuôi dưỡng với mức sinh hoạt phí hàng tháng 110 đồng.

Bộ Thương binh xã hội quy định cụ thể mức đóng góp của gia đình có người được tiếp nhận vào trại và các trung tâm phục hồi chức năng.

Điều 27.- Đối với trẻ mồ côi, người già yếu, người tàn tật không nơi nương tựa sinh sống tại địa phương thì Uỷ ban Nhân dân tỉnh, huyện, xã và cấp hành chính tương đương xét trợ cấp cứu tế một lần hoặc thường kỳ, bảo đảm cho mỗi người hàng tháng thấp nhất cũng có được một khẩu phần lương thực đủ sống.

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 28.- Tất cả các khoản lương hưu và trợ cấp hàng tháng nói trong nghị định này đều được cộng thêm phụ cấp chênh lệch giá sinh hoạt theo vùng quy định tại điểm 2, điều 5, Nghị định số 235-HĐBT ngày 18 tháng 9 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang.

Điều 29.- Công nhân, viên chức, quân nhân, thương binh, bệnh binh được hưởng phụ cấp khu vực của nơi cư trú (nếu nơi đó có phụ cấp khu vực) tính trên lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng.

Điều 30.- Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1985.

Mọi quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 31.- Bộ Thương binh và xã hội cùng các Bộ, các cơ quan có liên quan quy định cụ thể và hướng dẫn thi hành Nghị định này.

Điều 32.- Thủ trưởng các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Tố Hữu

(Đã ký)

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 236-HĐBT năm 1985 về việc sửa đổi chế độ, chính sách thương binh và xã hội do Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành

Số hiệu: 236-HĐBT
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 18/09/1985
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Tố Hữu
Ngày công báo: 30/10/1985
Số công báo: Số 19
Ngày hiệu lực: 01/09/1985
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 236-HĐBT năm 1985 về việc sửa đổi c...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký