Nghị định 355-TTg được ban hành năm 1958 bởi Thủ tướng Chính phủ quy định về việc quản lý các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai nhằm tăng cường quản lý nhà nước, bài trừ triệt để nạn đầu cơ, buôn lậu và góp phần ổn định vật giá.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với mọi cá nhân, hiệu tư doanh, tổ chức chế biến, thợ chuyên nghiệp và các cơ quan nhà nước có liên quan đến hoạt động quản lý, sử dụng, mua bán, chế tác kim khí quý, đá quý và ngọc trai trên lãnh thổ Việt Nam.
Nghiêm cấm các hoạt động kinh doanh tư nhân trái phép
- Cấm các hiệu tư doanh và cá nhân thực hiện hành vi buôn bán, tập trung đầu cơ các loại kim khí quý, đá quý và ngọc trai.
- Cấm tự ý xuất khẩu, nhập khẩu các loại tài sản này trừ trường hợp được Ngân hàng quốc gia Việt Nam cấp phép đặc biệt.
- Cấm sử dụng kim khí quý, đá quý, ngọc trai để làm phương tiện trao đổi, giao dịch, môi giới, cầm cố hoặc thanh toán nợ nần trực tiếp.
- Các hiệu vàng bạc tư doanh phải chấm dứt việc mua vào kể từ ngày công bố Nghị định và phải thực hiện bán hết số hàng tồn kho theo thể thức, thời hạn do Ngân hàng quốc gia Việt Nam quy định.
Phân loại chi tiết các loại kim khí quý và đá quý
- Kim khí quý bao gồm: Tất cả các loại vàng, bạc (dưới dạng thoi, khối, nén, lá, cốm, vụn, tiền vàng, tiền bạc); bạch kim; các đồ mỹ nghệ, đồ trang sức làm từ vàng, bạc, bạch kim; các loại hợp kim chứa các thành phần kim loại quý này.
- Đá quý bao gồm: Kim cương, các loại ngọc và đá xa-phia.
- Quy định đặc thù: Đối với bạc nén và bạc hoa xòe (bạc trắng, bạc đồng, bạc hào), Ngân hàng quốc gia Việt Nam phối hợp với Ủy ban Dân tộc ban hành quy định riêng cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số để phù hợp với tập quán ma chay, cưới xin và trao đổi nội bộ.
Thống nhất quản lý độc quyền nhà nước
- Toàn bộ hoạt động mua bán, kinh doanh kim khí quý, đá quý, ngọc trai, đồ trang sức và đồ mỹ nghệ liên quan từ nay được thống nhất đầu mối quản lý và thực hiện bởi Ngân hàng quốc gia Việt Nam.
- Ngân hàng quốc gia Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức cung cấp các loại kim khí quý, đá quý cho nhu cầu nghiên cứu khoa học, kỹ thuật của các cơ quan, xí nghiệp và nhu cầu trang sức chính đáng của nhân dân.
Quy định đối với thợ chế tác và việc vận chuyển, cất giữ
- Các tổ chế biến hoặc thợ chuyên nghiệp được cấp phép hoạt động chế biến, sửa chữa đồ trang sức, mỹ nghệ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về đăng ký kinh doanh, nghĩa vụ thuế, quy trình nghiệp vụ và chịu sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng quốc gia Việt Nam.
- Nghiêm cấm việc mang theo kim khí quý, đá quý, ngọc trai chưa chế biến nếu không có giấy phép của Ngân hàng quốc gia Việt Nam hoặc cơ quan được ủy quyền.
- Đối với đồ trang sức, mỹ nghệ đã chế biến (như nhẫn, hoa tai, chuỗi hạt...), cá nhân được phép mang theo người dưới hạn mức quy định của Ngân hàng quốc gia Việt Nam mà không cần xin phép, nhưng phải xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp khi có yêu cầu.
- Mọi công dân đều có quyền cất giữ kim khí quý, đá quý, ngọc trai. Ngân hàng quốc gia Việt Nam sẽ cấp giấy chứng nhận sở hữu để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và ngăn ngừa các hành vi gian lậu.
Chế tài xử phạt và chính sách khen thưởng
- Các hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này sẽ bị Ngân hàng quốc gia Việt Nam xử lý tùy theo mức độ vi phạm bằng các hình thức: Cảnh cáo; phạt tiền từ 10% đến 3 lần giá trị tang vật; trưng mua hoặc tịch thu một phần/toàn bộ tang vật; hoặc truy tố trước Tòa án.
- Đối với thợ chế tác vi phạm, ngoài các hình phạt trên, có thể bị đình chỉ hoạt động chế biến, sửa chữa có thời hạn hoặc vĩnh viễn.
- Các hành vi phạm pháp về vàng, bạch kim, đá quý, ngọc trai sẽ bị truy tố theo Điều 5 Sắc lệnh số 202-SL ngày 15 tháng 10 năm 1946; phạm pháp về bạc bị xử lý theo Điều 8 Sắc lệnh số 202-SL; các hành vi đầu cơ bị xử lý theo Sắc luật số 001-SLt ngày 19 tháng 04 năm 1957.
- Chính sách khen thưởng: Cá nhân (không phân biệt thường dân, bộ đội hay cán bộ nhà nước) có công phát hiện, hỗ trợ bắt giữ các vụ phạm pháp sẽ được khen thưởng. Nếu có phạt tiền và tịch thu tang vật, người có công được thưởng từ 10% đến 30% tiền phạt cộng với 10% đến 20% giá trị tang vật tịch thu (tối đa không quá một triệu đồng/vụ).
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
- Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành và bãi bỏ các Nghị định số 631-TTg ngày 13 tháng 12 năm 1955, Nghị định số 168-TTg ngày 20 tháng 04 năm 1957 cùng mọi quy định trước đây trái với Nghị định này.
- Ngân hàng quốc gia Việt Nam chịu trách nhiệm ban hành hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định.
- Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, Bộ trưởng các Bộ: Tài chính, Nội thương, Ngoại thương, Công an, Viện trưởng Viện Công tố, Chánh án Tòa án tối cao, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và Chủ tịch Ủy ban Hành chính các cấp chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 355-TTg | Hà Nội, ngày 16 tháng 07 năm 1958 |
QUY ĐỊNH VIỆC QUẢN LÝ CÁC LOẠI KIM KHÍ QUÝ, ĐÁ QUÝ, NGỌC TRAI
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Sắc lệnh số 202-SL ngày 15 tháng 10 năm 1946 quy định thể lệ xuất khẩu, chuyên chở và buôn bán vàng bạc;
Căn cứ Nghị định Thủ tướng Chính phủ số 631-TTg ngày 13 tháng 12 năm 1955 về quản lý vàng bạc;
Căn cứ Nghị định Thủ tướng Chính phủ số 168-TTg ngày 20 tháng 04 năm 1957 cấm xuất nhập khẩu bạch kim và các loại đá quý;
Căn cứ Sắc luật số 001-SLt ngày 19 tháng 04 năm 1957 cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế, được chuẩn y, sửa đổi và bổ sung do quyết nghị ngày 14 tháng 09 năm 1957 của Quốc hội;
Theo đề nghị của ông Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam và ông Bộ trưởng Bộ Nội thương;
NGHỊ ĐỊNH:
- buôn bán các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai;
- tập trung có mục đích đầu cơ các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai;
- xuất, nhập khẩu các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai, trừ trường hợp được Ngân hàng quốc gia Việt Nam cho phép;
- dùng các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai để trao đổi, giao dịch, mối lại, cầm cố, thanh toán nợ nần.
Về các loại bạc nén, bạc hoa xòe (bạc trắng, bạc đồng, bạc hào), Ngân hàng quốc gia Việt Nam cùng với Ủy ban Dân tộc sẽ có những quy định riêng cho những vùng dân tộc ít người mà đồng bào nơi đó còn có tập quán dùng các loại đó để trao đổi trong nội bộ dân tộc ít người về các loại ma chay, cưới xin, v.v...
Ngân hàng quốc gia Việt Nam sẽ quy định thể thức và thời hạn cho các hiệu nói trên được bán hết số hàng tồn kho.
Kim khí quý, đá quý, ngọc trai đã chế biến thành đồ trang sức hoặc đồ mỹ nghệ như vàng bạc, bạch kim đánh thành nhẫn, hoa tai v.v... đá quý, ngọc trai lắp vào mặt nhẫn, mặt hoa tai bay xâu thành chuỗi đeo, v.v... nếu chỉ mang dưới số lượng Ngân hàng quốc gia Việt Nam quy định thì không phải xin phép, nhưng người mang phải có đủ giấy tờ hợp pháp.
- cảnh cáo.
- phạt tiền bằng từ 10% đến 3 lần trị giá tang vật:
- trưng mua hoặc tịch thu một phần hay toàn bộ tang vật;
- truy tố trước Tòa án;
Đối với những tổ chế biến hoặc thợ chuyên nghiệp được phép làm đối với chế biến, sửa chữa đồ trang sức, đồ mỹ nghệ bằng kim khí quý, đá quý, ngọc trai, mà không theo đúng luật lệ hiện hành, thì ngoài việc xử lý theo những hình phạt trên đây, Ngân hàng quốc gia Việt Nam có thể đình chỉ công việc chế biến, sửa chữa đồ trang sức có thời hạn hay vĩnh viễn.
Những can phạm đưa ra truy tố trước tòa án có thể bị xử phạt theo điều 5 Sắc lệnh số 202-SL ngày 15 tháng 10 năm 1946 nếu là phạm pháp về vàng, bạch kim, đá quý, ngọc trai hoặc theo điều 8 Sắc lệnh nói trên nếu là phạm pháp về bạc.
Đối với những vụ phạm pháp có tính chất đầu cơ thì can phạm có thể bị xử phạt theo Sắc luật số 001-SLt ngày 19 tháng 04 năm 1957.
Điều 11. – Ngân hàng quốc gia Việt Nam quy định thể lệ chi tiết thi hành Nghị định này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1 Nghị định 168-TTg năm 1957 về việc cấm xuất, nhập khẩu bạch kim và các loại đá quý do Thủ Tướng ban hành
- 2 Sắc lệnh số 202 về việc quy định việc buôn bán vàng bạc do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- 3 Sắc luật số 001/SLT về việc cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế do Chủ tịch nước ban hành
- 1 Nghị định 168-TTg năm 1957 về việc cấm xuất, nhập khẩu bạch kim và các loại đá quý do Thủ Tướng ban hành
- 2 Nghị định 631-TTg năm 1955 về quản lý vàng bạc do Thủ Tướng ban hành.
- 3 Chỉ thị 223PH/VB năm 1958 hướng dẫn cấp giấy chứng nhận giữ vàng do Ngân hàng Quốc gia ban hành
- 4 Thông tư 17/2014/TT-NHNN về phân loại, đóng gói, giao nhận kim khí quý, đá quý do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 1 Nghị định 168-TTg năm 1957 về việc cấm xuất, nhập khẩu bạch kim và các loại đá quý do Thủ Tướng ban hành
- 2 Chỉ thị 223PH/VB năm 1958 hướng dẫn cấp giấy chứng nhận giữ vàng do Ngân hàng Quốc gia ban hành
- 3 Sắc lệnh số 202 về việc quy định việc buôn bán vàng bạc do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- 4 Sắc luật số 001/SLT về việc cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế do Chủ tịch nước ban hành
- 5 Thông tư 17/2014/TT-NHNN về phân loại, đóng gói, giao nhận kim khí quý, đá quý do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành