Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Năm 1955, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 631-TTg về quản lý vàng bạc nhằm thiết lập các biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động liên quan đến vàng và bạc trong bối cảnh kinh tế lúc bấy giờ. Văn bản quy định chi tiết về quyền sở hữu, lưu thông, kinh doanh vàng bạc, đồng thời đề ra các chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

Phạm vi áp dụng của Nghị định bao gồm tất cả các loại vàng bạc tồn tại dưới các dạng: vàng bạc thoi, khối, nén, vàng lá, vàng cốm, vàng vụn, tiền vàng, tiền bạc, đồ dùng và đồ trang hoàng bằng vàng bạc (như vật kỷ niệm, đồ trang sức, đồ thờ cúng) cùng các loại hợp kim có chứa vàng bạc. Đối tượng áp dụng là mọi cá nhân, tổ chức, các cửa hiệu kinh doanh vàng bạc và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trên lãnh thổ Việt Nam.

Quy định về quyền cất giữ, mua bán và vận chuyển vàng bạc

  • Quyền cất giữ: Mọi công dân đều có quyền tự do cất giữ vàng bạc hợp pháp.
  • Điều kiện mua bán: Bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào muốn thực hiện hoạt động mua bán vàng bạc đều phải được sự cho phép và cấp giấy phép từ Ngân hàng quốc gia Việt Nam hoặc cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy quyền.
  • Quy định về vận chuyển liên tỉnh: Khi mang vàng bạc từ tỉnh này sang tỉnh khác, không phân biệt số lượng, người vận chuyển bắt buộc phải xin giấy phép tại nơi đi và trình giấy phép tại nơi đến cho Ngân hàng quốc gia Việt Nam hoặc cơ quan được ủy quyền.
  • Trường hợp ngoại lệ: Công dân đeo đồ tư trang cá nhân có khối lượng dưới 01 lạng vàng và dưới 08 lạng bạc khi di chuyển liên tỉnh thì không phải thực hiện thủ tục xin và trình giấy phép nêu trên.

Chế độ kiểm soát nghiêm ngặt đối với các cửa hiệu vàng bạc

Các cửa hiệu kinh doanh vàng bạc phải chịu sự giám sát và kiểm soát trực tiếp từ Ngân hàng quốc gia Việt Nam. Các cửa hiệu này chỉ được phép giao dịch mua bán với những khách hàng đã được cấp giấy phép hợp lệ, đồng thời phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ sau:

  • Tiến hành kê khai toàn bộ số lượng vàng bạc hiện có ngay sau khi Nghị định này được công bố và có hiệu lực thi hành.
  • Thực hiện ghi chép sổ sách đầy đủ, rõ ràng về toàn bộ lượng vàng bạc xuất, nhập hàng ngày theo đúng thể thức do Ngân hàng quốc gia Việt Nam quy định.
  • Định kỳ 15 ngày một lần phải trình sổ sách và các chứng từ liên quan cho Ngân hàng quốc gia Việt Nam hoặc cơ quan được ủy nhiệm để kiểm tra. Ngoài ra, phải chấp nhận các đợt kiểm tra đột xuất từ cơ quan quản lý khi có yêu cầu.

Các hành vi bị nghiêm cấm tuyệt đối

  • Nghiêm cấm hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu vàng, bạc dưới mọi hình thức, trừ các trường hợp đặc biệt được Ngân hàng quốc gia Việt Nam cấp phép chính thức.
  • Nghiêm cấm việc sử dụng vàng, bạc để thay thế tiền tệ trong các giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dùng để thanh toán các khoản nợ.
  • Nghiêm cấm hành vi tàng trữ và lưu hành tất cả các loại tiền hoa (tiền xòe). Riêng đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, quy định về loại tiền này sẽ được hướng dẫn bằng văn bản riêng.

Chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm

Tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm, các cá nhân, tổ chức vi phạm sẽ bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt sau:

  • Phạt phê bình hoặc cảnh cáo đối với các vi phạm nhẹ.
  • Đối với hành vi vi phạm quy định về mua bán, vận chuyển, xuất nhập khẩu trái phép hoặc dùng vàng bạc thay tiền (vi phạm các Điều 2, 3, 5, 6, 7): Phạt tiền từ 30% đến 50% giá trị lượng vàng bạc vi phạm. Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ số vàng bạc tang vật.
  • Đối với các cửa hiệu vàng bạc vi phạm quy định kiểm soát (vi phạm Điều 4): Phạt tiền từ 10% đến 20% tổng số vốn kinh doanh của cửa hiệu, đồng thời có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động kinh doanh có thời hạn hoặc vĩnh viễn.
  • Đối với các trường hợp tái phạm nhiều lần hoặc vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, người vi phạm sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự trước Tòa án.

Chính sách khen thưởng và thẩm quyền xử lý

  • Chính sách khen thưởng: Những cá nhân có công tố cáo, phát hiện và hỗ trợ cơ quan chức năng bắt giữ các vụ vi phạm về quản lý vàng bạc sẽ được trích thưởng từ 10% đến 30% số tiền phạt thu được, đồng thời được hưởng từ 10% đến 30% số tiền thu được từ việc bán đấu giá số vàng bạc bị tịch thu.
  • Thẩm quyền xử lý: Ngân hàng quốc gia Việt Nam là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc thụ lý và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về quản lý vàng bạc.

Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện

Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Tất cả các quy định trước đây về quản lý vàng bạc có nội dung trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thi hành và hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Nghị định này.

PHỦ THỦ TƯỚNG
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 631-TTg

Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 1955

NGHỊ ĐỊNH

VỀ QUẢN LÝ VÀNG BẠC

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Để quản lý việc mua bán, chuyển vận vàng bạc, ngăn ngừa việc xuất nhập khẩu vàng bạc, có hại đến tài chính và tín dụng Quốc gia.
Theo đề nghị của ông Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Nghị định này quy định một số biện pháp về quản lý vàng bạc.

Vàng bạc nói trong nghị định này gồm tất cả các thứ vàng bạc thoi, khối, nén, vàng lá, vàng cốm, vàng vụn, tiền vàng, tiền bạc, đồ dùng và đồ trang hoàng bằng vàng bạc (vật kỷ niệm, đồ trang sức, đồ thờ cúng…) các đồ hợp kim có vàng bạc…

Điều 2. Mọi người đều có quyền cất giữ vàng bạc. Nhưng ai muốn mua bán vàng bạc thì phải có giấy phép của Ngân hàng quốc gia Việt Nam hay của cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm.

Điều 3. Ai muốn mang vàng bạc (không kể đồ tư trang dưới một số lượng nhất định) từ tỉnh này sang tỉnh khác, không phân biệt số lượng nhiều hay ít, đều phải thi hành đúng thủ tục dưới đây:

- Xin giấy phép của Ngân hàng quốc gia Việt Nam hay của cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm ở nơi đi.

Trình giấy phép tại Ngân hàng quốc gia Việt Nam hay cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm ở nơi đến.

Những người đeo tư trang, số lượng dưới một lạng vàng và tám lạng bạc, đi từ tỉnh này sang tỉnh khác không phải thi hành thủ tục trên.

Điều 4. Các cửa hiệu vàng bạc phải chịu sự kiểm soát của Ngân hàng quốc gia Việt Nam.

Các cửa hiệu vàng bạc chỉ được mua và bán vàng bạc đối với những người có giấy phép của Ngân hàng quốc gia Việt Nam và có nhiệm vụ:

1. Kê khai tất cả số vàng bạc hiện có ngay sau khi Ngân hàng quốc gia Việt Nam công bố thi hành nghị định này.

2. Ghi sổ tất cả số vàng bạc xuất nhập hàng ngày theo thể thức do Ngân hàng quốc gia Việt Nam ấn định.

3. Thường xuyên cứ 15 ngày một lần trình sổ sách và các giấy tờ cần thiết cho Ngân hàng quốc gia Việt Nam hay cho cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm để kiểm soát. Ngân hàng quốc gia Việt Nam hay cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm có quyền kiểm soát bất thường mỗi lúc xét cần thiết.

Điều 5. Cấm xuất nhập khẩu vàng, bạc trừ trường hợp được Ngân hàng quốc gia Việt Nam cho phép.

Điều 6. Cấm dùng vàng, bạc thay tiền để mua, bán hay thanh toán món nợ.

Điều 7. Cấm tàng trữ và lưu hành tất cả các loại tiền hoa (xòe) trừ ở vùng đồng bào thiểu số sẽ quy định riêng.

Điều 8. Những người làm trái nghị định này, tùy theo tội nặng nhẹ, sẽ xử phạt theo một hay nhiều hình thức dưới đây:

1. Phê bình, cảnh cáo.

2. Nếu phạm vào các điều 2, 3, 5, 6, 7 thì sẽ bị phạt tiền bằng số từ 30% đến 50% trị số vàng bạc mua bán, chuyển vận, sử dụng trái phép; trường hợp nặng có thể bị tịch thu một phần hay toàn bộ số vàng bạc này. Nếu phạm vào điều 4 thì sẽ bị phạt tiền bằng số từ 10% đến 20% số vốn kinh doanh và có thể bị đình chỉ kinh doanh có thời hạn hay vĩnh viễn.

3. Nếu phạm pháp nhiều lần, phạm pháp một cách nghiêm trọng thì có thể bị truy tố trước Tòa án.

Điều 9. Những người đã tố cáo và giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm bắt được những vụ phạm pháp sẽ được thưởng từ 10% đến 30% số tiền phạt và từ 10% đến 30% số tiền bán vàng bạc tịch thu.

Điều 10. Việc xử lý những vụ phạm pháp về vàng bạc do Ngân hàng quốc gia Việt Nam phụ trách.

Điều 11. Những điều khoản về quản lý vàng bạc trong văn bản ban hành trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 12. Ông Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, các ông Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Phạm Văn Đồng

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 631-TTg năm 1955 về quản lý vàng bạc do Thủ Tướng ban hành.

Số hiệu: 631-TTg
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 13/12/1955
Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày công báo: 31/12/1955
Số công báo: Số 19
Ngày hiệu lực: 28/12/1955
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Tiền tệ - Ngân hàng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 631-TTg năm 1955 về quản lý vàng bạ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký