Nghị định số 374-HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Văn bản quy định rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhà trường và gia đình trong việc bảo đảm các quyền lợi hợp pháp, sức khỏe, giáo dục và sự phát triển toàn diện của trẻ em Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với mọi trẻ em là công dân Việt Nam đang sinh sống trong nước và nước ngoài; trẻ em có quốc tịch nước ngoài hoặc không có quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam. Đồng thời, văn bản quy định trách nhiệm cụ thể đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình và mọi công dân trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Quy định chung về quyền và bổn phận của trẻ em
- Trẻ em là công dân Việt Nam sinh sống trong nước được hưởng đầy đủ các quyền theo quy định pháp luật và phải làm tròn bổn phận của mình. Trẻ em Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước bảo hộ quyền lợi theo pháp luật Việt Nam và nước sở tại, hoặc theo Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989.
- Trẻ em có quyền được khai sinh theo họ cha hoặc họ mẹ chậm nhất là 01 tháng sau khi sinh (trường hợp khó khăn tối đa không quá 03 tháng). Mọi trẻ em chưa được khai sinh đều có quyền yêu cầu cơ quan chức năng thực hiện thủ tục này một cách thuận lợi, không bị gây phiền hà.
- Trẻ em chưa có quốc tịch hoặc muốn thay đổi quốc tịch có quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xác định hoặc thay đổi quốc tịch theo quy định pháp luật.
- Trẻ em không rõ cha, mẹ có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ. Cơ quan nhận đơn có trách nhiệm giải quyết hoặc hướng dẫn, chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền để giải quyết kịp thời, không được thoái thác.
Trách nhiệm chăm sóc sức khỏe và bảo vệ môi trường sống của trẻ em
- Trách nhiệm của Bộ Y tế: Xây dựng mạng lưới y tế từ trung ương đến cơ sở; ban hành quy chế phòng, khám và chữa bệnh; thực hiện khám sức khỏe định kỳ và lập sổ theo dõi sức khỏe cho trẻ em. Bảo đảm trẻ em dưới 6 tuổi được khám, chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế nhà nước. Đặc biệt quan tâm đến trẻ em suy dinh dưỡng, tàn tật, khuyết tật. Bảo đảm sản xuất đủ thuốc men, đào tạo cán bộ chuyên khoa nhi và trang bị máy móc chất lượng.
- Trách nhiệm của gia đình: Cha mẹ, người đỡ đầu phải thực hiện nghiêm túc các quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng định kỳ cho trẻ em theo kế hoạch của y tế cơ sở và tuân thủ chỉ định của thầy thuốc.
- Bảo vệ môi trường sống: Nghiêm cấm phân công người đang mắc bệnh truyền nhiễm làm việc tại các vị trí tiếp xúc hàng ngày với trẻ em. Nghiêm cấm đặt kho chứa chất nổ, chất cháy, chất độc hại hoặc cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, tiếng ồn lớn gần nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế, văn hóa của trẻ em. Không được xây dựng các cơ sở dành cho trẻ em gần những khu vực nguy hiểm này.
Trách nhiệm giáo dục và phát triển thể chất, tinh thần
- Trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Hướng dẫn xây dựng, mở rộng mạng lưới nhà trẻ, mẫu giáo, trường học cả quốc lập và dân lập. Phối hợp phát triển các lớp năng khiếu, trường lớp chuyên biệt cho trẻ em tàn tật, khuyết tật. Ban hành quy chế quản lý trường lớp; bảo đảm học sinh tiểu học trường công lập không phải đóng học phí. Đưa chương trình giáo dục y tế học đường và pháp luật phù hợp vào giảng dạy.
- Khuyến khích xã hội hóa giáo dục: Nhà nước khuyến khích thành lập Hội cha mẹ học sinh, Hội bảo trợ học đường để cùng nhà trường chăm lo cơ sở vật chất, quản lý và giáo dục học sinh.
- Phối hợp giáo dục gia đình: Các Bộ, ngành phối hợp với các đoàn thể tổ chức bồi dưỡng kiến thức nuôi dạy con cho cha mẹ. Ủy ban nhân dân các cấp tạo điều kiện cho Đoàn Thanh niên và Hội Phụ nữ tổ chức các phong trào thiếu nhi, phong trào "nuôi con khỏe, dạy con ngoan".
Hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao và vui chơi giải trí
- Trách nhiệm của Bộ Văn hóa - Thông tin và Thể thao, Bộ Thương mại và Du lịch: Hướng dẫn phương pháp luyện tập thể chất phù hợp lứa tuổi. Xây dựng kế hoạch phục vụ nhu cầu văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch của trẻ em.
- Chỉ tiêu văn hóa phẩm: Bảo đảm tỷ lệ sách báo, phim ảnh, âm nhạc, sân khấu dành riêng cho trẻ em đạt ít nhất 15% tổng số tác phẩm xuất bản hàng năm. Sản xuất dụng cụ thể dục thể thao, giáo dục thẩm mỹ chuyên dụng cho trẻ em.
- Sử dụng công trình công cộng: Dành ít nhất 20% quỹ thời gian tại các công trình văn hóa, thể thao chung để phục vụ trẻ em nếu chưa có công trình riêng. Quy định cụ thể danh mục phim, tiết mục sân khấu cấm trẻ em và nghiêm cấm phát sóng các nội dung này trên đài phát thanh, truyền hình hoặc cho trẻ em vào xem tại rạp.
- Nghiêm cấm văn hóa phẩm độc hại: Cấm tuyệt đối việc sản xuất, nhập khẩu, sao chép, tàng trữ và lưu hành đồ chơi, văn hóa phẩm có hại cho sự phát triển của trẻ em. Mọi công dân có quyền phát hiện và báo cáo sai phạm; cơ quan chức năng phải xử lý kịp thời và thông báo kết quả cho người báo tin.
Chính sách lao động, bảo trợ xã hội và sản xuất hàng hóa
- Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội: Ban hành danh mục công việc cấm sử dụng lao động trẻ em và danh mục công việc chỉ được sử dụng lao động trẻ em trong độ tuổi quy định. Quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em là con liệt sĩ, con thương binh nặng, trẻ em không nơi nương tựa. Tổ chức chỉnh hình, phục hồi chức năng, dạy nghề và tạo việc làm phù hợp cho trẻ em tàn tật còn khả năng lao động.
- Các hành vi bị nghiêm cấm: Cấm bắt trẻ em đi ăn xin hoặc làm các công việc không lành mạnh để kiếm tiền cho người lớn; cấm lợi dụng danh nghĩa nuôi con nuôi để bóc lột, bắt trẻ em làm việc nặng nhọc quá sức; cấm quỵt lương hoặc trả công không tương xứng với sức lao động của trẻ em.
- Sản xuất hàng hóa phục vụ trẻ em: Các Bộ Công nghiệp nhẹ, Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Thương mại và Du lịch có kế hoạch sản xuất, cung ứng đầy đủ lương thực, thực phẩm, dược phẩm, học phẩm, đồ chơi, quần áo, giày dép cho trẻ em với chất lượng tốt.
Quản lý cơ sở vật chất, an ninh trật tự và kế hoạch phát triển
- Bảo vệ cơ sở vật chất: Không được sử dụng nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế, văn hóa, thể thao của trẻ em vào mục đích khác. Trường hợp đặc biệt vì lợi ích chung cần chuyển đổi mục đích sử dụng, phải có sự thỏa thuận của ngành chủ quản, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và phải bố trí cơ sở khác tương xứng thay thế.
- Phòng ngừa và xử lý vi phạm pháp luật: Bộ Nội vụ phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật và đoàn thể ngăn chặn việc lôi kéo, xúi giục trẻ em phạm pháp; có biện pháp giáo dục, cải tạo trẻ em lầm lỗi; xử lý nghiêm khắc các hành vi giam giữ trái phép, đánh đập, tra tấn, xâm phạm sức khỏe và danh dự của trẻ em.
- Lồng ghép kế hoạch kinh tế - xã hội: Chỉ tiêu bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em phải được thể hiện rõ trong kế hoạch 5 năm và hàng năm của các cấp, các ngành. Ủy ban Vật giá Nhà nước phối hợp đề xuất chính sách ưu đãi về giá đối với các mặt hàng và dịch vụ vui chơi, giải trí dành cho trẻ em.
- Chính sách ưu đãi: Ban hành quy chế ưu đãi, giảm giá vé cho trẻ em khi sử dụng phương tiện giao thông công cộng, tham quan danh lam thắng cảnh, khu vui chơi giải trí.
Quỹ bảo trợ trẻ em và trách nhiệm của gia đình
- Quỹ bảo trợ trẻ em: Khuyến khích thành lập Quỹ bảo trợ trẻ em ở các cấp, các ngành. Quỹ do Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em cùng cấp (hoặc Công đoàn đối với nơi không có Ủy ban) quản lý, sử dụng đúng mục đích bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, nghiêm cấm sử dụng vào việc khác.
- Trách nhiệm giáo dục của gia đình: Cha mẹ, người đỡ đầu và các thành viên lớn tuổi có bổn phận giáo dục trẻ em làm tròn nghĩa vụ; ngăn cấm trẻ em tham gia đánh bạc, uống rượu, hút thuốc, dùng ma túy. Cha mẹ, người đỡ đầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi vi phạm của trẻ em do mình nuôi dưỡng.
- Giải quyết kháng nghị: Khi nhận được kháng nghị của các đoàn thể, tổ chức xã hội về quyết định xâm phạm quyền lợi trẻ em, cơ quan, đơn vị liên quan phải giải quyết và trả lời bằng văn bản trong thời hạn chậm nhất là 01 tháng.
Khen thưởng, xử lý vi phạm và hiệu lực thi hành
- Khen thưởng: Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em các cấp theo dõi, đánh giá và đề xuất khen thưởng kịp thời cho các tổ chức, gia đình, cá nhân có thành tích xuất sắc.
- Xử lý vi phạm: Người vi phạm pháp luật về trẻ em tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, bồi thường dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản pháp luật liên quan.
- Hiệu lực thi hành: Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành và thay thế Nghị định số 293/CP ngày 04 tháng 7 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 374-HĐBT | Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 1991 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em công bố ngày 16 tháng 8 năm 1991;
Theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt nam và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
NGHỊ ĐỊNH
Các quyền của trẻ em được tôn trọng và thực hiện.
Trẻ em phải làm tròn bổn phận của mình theo quy định của pháp luật.
2. Trẻ em là công dân Việt Nam, trong thời gian sinh sống ở nước ngoài, được Nhà nước bảo vệ quyền các em được hưởng và làm tròn bổn phận của mình theo quy định của Luật pháp Việt Nam và luật pháp của nước trẻ em Việt Nam đang sinh sống; trường hợp luật pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và luật pháp của nước trẻ em đang sinh sống có quy định khác nhau, thì quyền và bổn phận của trẻ em được thực hiện theo quy chế quản lý người nước ngoài của nước sở tại, theo thủ tục ngoại giao hai nước và theo tinh thần công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 mà hai nước đã tham gia.
3. Trẻ em có quốc tịch nước ngoài, trẻ em không có quốc tịch sinh sống ở Việt Nam được Nhà nước Việt Nam bảo hộ các quyền của trẻ em quy định tại Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em theo quy chế quản lý người nước ngoài của Việt Nam và thủ tục ngoại giao hai nước.
Điều 3. Trẻ em được quyền khai sinh theo họ cha hoặc họ mẹ.
Sau khi sinh con, chậm nhất là một tháng, cha mẹ phải làm giấy khai sinh cho con.
Trường hợp có khó khăn, thời hạn khai sinh cho con chậm nhất không quá ba tháng.
Trẻ em trong mọi độ tuổi, không kể vì lý do gì, nếu chưa được khai sinh thì bản thân, cha mẹ hay người đỡ đầu có quyền yêu cầu cơ quan chức năng tiến hành khai sinh cho trẻ em. Cơ quan chức năng phải đáp ứng yêu cầu đó một cách thuận lợi, không được gây khó khăn, phiền hà.
Cơ quan có chức năng, thẩm quyền sau khi nhận đơn, phải giúp đương sự thực hiện yêu cầu, không được thoái thác trách nhiệm của mình.
Điều 6. Trong việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em, Bộ Y tế có trách nhiệm:
1. Dựa vào Ngân sách Nhà nước dành cho y tế, khả năng huy động xã hội đóng góp và viện trợ quốc tế, tiến hành xây dựng, củng cố mạng lưới y tế từ trung ương đến cơ sở, ban hành quy chế về phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh cho trẻ em: từng bước thực hiện việc khám sức khoẻ định kỳ và lập sổ theo dõi sức khoẻ cho trẻ em; bảo đảm cho trẻ em dưới 6 tuổi được khám bệnh và chữa bệnh tại cơ sở y tế của Nhà nước không phải trả tiền; đặc biệt quan tâm đến trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em tàn tật và trẻ em có khuyết tật, tạo điều kiện để các em trở lại cuộc sống bình thường.
2. Có kế hoạch sản xuất các thứ thuốc cần thiết cho trẻ em, bảo đảm điều kiện và chất lượng khám bệnh và chữa bệnh, đặc biệt là số lượng và chất lượng cán bộ, nhân viên y tế chuyên khoa nhi, cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, thuốc men.
3. Cùng với Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Bộ Giáo dục và Đào tạo, xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các chế độ phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh cho trẻ em, khám và chữa bệnh cho những người làm công việc hàng ngày tiếp xúc với trẻ em; hướng dẫn cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng các em cách phòng bệnh và chữa một số bệnh thông thường.
Không được xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, cơ sở y tế, văn hoá phục vụ trẻ em gần những nơi có kho tàng và cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các loại nói trên.
Điều 10. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm:
1. Hướng dẫn và giúp Uỷ ban nhân dân các cấp xây dựng, mở rộng mạng lưới nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học cả quốc lập và dân lập, để ngày càng thu nhận được nhiều trẻ em trong độ tuổi vào học.
2. Phối hợp với các ngành hữu quan ở trung ương và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức, chỉ đạo xây dựng và phát triển các lớp năng khiếu cho trẻ em, các trường lớp dành riêng cho trẻ em tàn tật và trẻ em có khuyết tật.
3. Ban hành Quy chế về nhà trẻ, trường lớp mẫu giáo, trường phổ thông, nhằm bảo đảm những điều kiện cần thiết cho việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em đạt hiệu quả tốt; học sinh học tại các trường, lớp tiểu học của Nhà nước không phải trả học phí.
4. Kết hợp với các ngành Y tế và Tư pháp đưa chương trình giáo dục y tế học đường, chương trình giáo dục pháp luật phù hợp với học sinh từng độ tuổi, vào giảng dạy tại các trường, lớp mẫu giáo, phổ thông.
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm giúp đỡ tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả, theo sự hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế và Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em.
Điều 14. Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao, Bộ Thương mại và Du lịch, có trách nhiệm:
1. Phối hợp với các ngành hữu quan nghiên cứu, hướng dẫn, thực hiện kế hoạch và phương pháp luyện tập tăng cường sức khoẻ cho trẻ em phù hợp với từng lứa tuổi.
2. Phối hợp với Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội khác, các Hội văn học nghệ thuật và các ngành hữu quan, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phục vụ nhu cầu văn hoá, nghệ thuật, thể thao, du lịch của trẻ em; chỉ đạo các cơ quan thuộc phạm vi, quản lý của Bộ và Uỷ ban nhân dân các địa phương thực hiện các kế hoạch đó, chú trọng các mặt sau đây:
a) Tổ chức việc sáng tác, xuất bản, phát hành các loại sách báo, phim ảnh, nhạc, hoạ và xây dựng các tiết mục sân khấu như múa, hát, nhạc, kịch, xiếc v.v... thích hợp với trẻ em, bảo đảm tỷ lệ ít nhất là 15% so với tổng số tác phẩm, văn hoá phẩm sản xuất, xuất bản hàng năm.
b) Tổ chức việc sản xuất các dụng cụ thể dục thể thao, dụng cụ giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em.
c) Xây dựng các thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hoá, nhà hát, rạp chiếu phim, cơ sở tập luyện, v.v... dành cho trẻ em. Nếu chưa có điều kiện xây dựng những công trình riêng cho trẻ em, phải quy định ít nhất là dành 20% thời gian cho trẻ em trong kế hoạch sử dụng các công trình chung.
3. Quy định những bộ phim và những tiết mục sân khấu không được chiếu, biểu diễn cho trẻ em xem. Các nhà hát, rạp chiếu phim hoặc đơn vị tổ chức chiếu, biểu diễn, không được để trẻ em vào xem những phim và tiết mục sân khấu đó; không phát trên Đài phát thanh, Đài truyền hình những phim, tiết mục sân khấu nói trên.
Công dân Việt Nam phát hiện những văn hoá phẩm, đồ chơi có hại cho việc giáo dục trẻ em, có trách nhiệm báo cho cơ quan hoặc viên chức có chức năng, thẩm quyền biết sự việc để xem xét xử lý.
Cơ quan, viên chức nhận được thông báo của công dân, phải tiến hành xem xét, xử lý kịp thời và thông báo kết quả xử lý cho công dân đó biết.
Điều 16. Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội có trách nhiệm:
1. Ban hành danh mục những loại công việc không được sử dụng lao động trẻ em và danh mục những công việc chỉ được sử dụng lao động trẻ em trong độ tuổi quy định.
2. Tổ chức quản lý, chỉ đạo việc chăm sóc, giáo dục trẻ em là con liệt sĩ, con thương binh nặng, và trẻ em không nơi nương tựa; phối hợp với các cơ quan, các ngành, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội hữu quan chỉ đạo việc tổ chức, xây dựng mạng lưới nuôi dạy các em.
3. Tổ chức quản lý và chỉ đạo việc chỉnh hình, phục hồi chức năng cho trẻ em có khuyết tật; tổ chức việc dạy nghề và lao động cho những trẻ em tàn tật nhưng còn khả năng lao động, nghiên cứu sản xuất và cung cấp các phương tiện lao động, sinh hoạt chuyên dùng cho trẻ em.
4. Nghiêm cấm: việc bắt trẻ em đi ăn xin hoặc làm những việc không lành mạnh để kiếm tiền cho người lớn; việc lợi dụng danh nghĩa nuôi con nuôi để bóc lột trẻ em, bắt trẻ em làm công việc nặng nhọc, quá sức mình; việc không trả công lao động cho trẻ em tương xứng với công sức các em bỏ ra.
Nếu vì lợi ích chung, cần sử dụng những cơ sở nói trên vào mục đích khác, phải được sự thoả thuận của ngành chủ quản và được Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền quản lý ra quyết định, sau khi đã bố trí cơ sở khác tương xứng để thay thế.
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em các cấp có trách nhiệm giúp Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp, xét duyệt, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; theo định kỳ, báo cáo kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đó ở địa phương, ngành mình lên cấp trên trực tiếp.
Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc quản lý và sử dụng quỹ bảo trợ trẻ em ở các cấp, các ngành.
Cha mẹ, người đỡ đầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi vi phạm pháp luật của trẻ em do mình nuôi dạy; trách nhiệm đó càng nặng nếu những vi phạm của trẻ em lại do tác động của cha mẹ, người đỡ đầu.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị có quyết định xâm phạm đến quyền và lợi ích của trẻ em, khi nhận được kháng nghị của đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội, phải trả lời và thông báo cách giải quyết của mình cho đoàn thể, tổ chức kháng nghị biết, chậm nhất là một tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị.
Việc xử lý kỷ luật được áp dụng theo điều lệ về kỷ luật do Hội đồng Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 195/CP ngày 31 tháng 12 năm 1964.
Việc xử phạt hành chính được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính công bố ngày 07 tháng 12 năm 1989 và các quy định pháp luật khác có liên quan đến xử phạt hành chính.
Việc bồi thường thiệt hại dân sự, được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự.
Việc xử lý bằng biện pháp hình sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật hình sự và Luật bổ sung, sửa đổi Bộ luật hình sự.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1 Nghị định 293-CP năm 1981 thi hành Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2 Chỉ thị 102/CT năm 1989 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Nghị định 36/2005/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- 1 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991
- 3 Thông tư 15/1998/TT-BTC hướng dẫn quản lý và sử dụng Quỹ bảo trợ trẻ em do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Chỉ thị 102/CT năm 1989 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành