Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 293-CP được Hội đồng Chính phủ ban hành năm 1981 nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho hệ thống chính sách toàn diện về bảo vệ quyền lợi, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và phát triển thể chất, tinh thần cho trẻ em Việt Nam trong giai đoạn đầu xây dựng đất nước.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định áp dụng đối với toàn bộ trẻ em Việt Nam, đặc biệt chú trọng đến các nhóm đối tượng ưu tiên như trẻ em là con liệt sĩ, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa và trẻ em tàn tật. Đồng thời, văn bản quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức xã hội, hợp tác xã, nhà trường cùng toàn thể gia đình trong việc thực hiện các quyền của trẻ em.

Nội dung cốt lõi của Nghị định 293-CP năm 1981

1. Chế độ cung cấp nhu yếu phẩm và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em

  • Bảo đảm tiêu chuẩn dinh dưỡng và mặc: Trẻ em được hưởng đầy đủ các tiêu chuẩn về lương thực, thực phẩm, vải mặc theo từng lứa tuổi do Nhà nước quy định. Bộ Lương thực, Bộ Công nghiệp thực phẩm và Bộ Nội thương chịu trách nhiệm bảo đảm nguồn cung này. Trong điều kiện khó khăn, trẻ em là đối tượng ưu tiên hàng đầu. Ngành thương nghiệp phải bảo đảm cung cấp đủ sữa chất lượng, đúng hạn cho trẻ em có mẹ bị thiếu sữa hoặc mất sữa.
  • Trách nhiệm của Bộ Y tế: Thực hiện khám sức khỏe định kỳ và lập sổ theo dõi sức khỏe cho toàn bộ trẻ em; lên kế hoạch sản xuất thuốc chuyên biệt cho từng lứa tuổi; tăng tỷ lệ giường bệnh nhi khoa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế khoa nhi. Đồng thời, phối hợp xây dựng chế độ phòng, khám và chữa bệnh cho những người tiếp xúc hàng ngày với trẻ em.
  • Phòng ngừa dịch bệnh: Nghiêm cấm các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã phân công người mắc bệnh truyền nhiễm làm việc tại các vị trí tiếp xúc trực tiếp với trẻ em.

2. Bảo đảm môi trường sống an toàn và lành mạnh

  • Khoảng cách an toàn độc hại: Nghiêm cấm đặt các kho chứa thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, chất độc hại gần nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, cơ sở y tế, văn hóa của trẻ em. Ngược lại, không được xây dựng các cơ sở phục vụ trẻ em gần các khu vực kho tàng độc hại này.
  • Phòng chống tệ nạn: Nghiêm cấm trẻ em uống rượu, bia, hút thuốc lá và sử dụng ma túy. Người lớn có trách nhiệm giáo dục, ngăn chặn và tuyệt đối không được bán các chất gây hại này cho trẻ em.
  • Bảo vệ cơ sở vật chất của trẻ em: Không được sử dụng nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học vào mục đích khác. Trường hợp đặc biệt vì lợi ích chung, phải được sự cho phép của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và phải bố trí cơ sở thay thế tương xứng.

3. Phát triển giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao

  • Mạng lưới giáo dục: Ủy ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em Trung ương, Bộ Giáo dục và UBND các cấp phải tăng cường mạng lưới nhà trẻ, mẫu giáo, trường phổ thông cơ sở đạt chuẩn để thu nhận và giáo dục trẻ em đúng độ tuổi. Bộ Giáo dục có trách nhiệm củng cố, phát triển các trường năng khiếu cho trẻ em.
  • Phát triển thể chất: Tổng cục Thể dục thể thao phối hợp nghiên cứu, hướng dẫn phương pháp luyện tập sức khỏe phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ.
  • Hoạt động văn hóa, nghệ thuật: Bộ Văn hóa và Thông tin cùng Tổng cục Thể dục thể thao phối hợp xây dựng kế hoạch sáng tác, xuất bản sách báo, tranh ảnh, sản xuất phim, kịch, xiếc, dụng cụ thể thao, đồ chơi thẩm mỹ cho trẻ em. Đồng thời, củng cố hệ thống thư viện, câu lạc bộ, rạp hát dành riêng cho trẻ em hoặc bố trí khung giờ sử dụng thích đáng tại các công trình công cộng chung.
  • Kiểm soát văn hóa phẩm độc hại: Nghiêm cấm sản xuất, nhập khẩu, tàng trữ, lưu hành văn hóa phẩm có hại cho việc giáo dục trẻ em. Mọi công dân có quyền tịch thu và nộp các ấn phẩm này cho cơ quan văn hóa cấp huyện trở lên.
  • Quản lý nội dung biểu diễn: Bộ Văn hóa và Thông tin quy định danh mục phim, tiết mục sân khấu không dành cho trẻ em. Các rạp chiếu phim, nhà hát và đài truyền hình phải thông báo trước và kiểm soát chặt chẽ, không cho trẻ em vào xem các nội dung này.

4. Chính sách ưu đãi đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

  • Trẻ em là con liệt sĩ và trẻ mồ côi: Bộ Thương binh và Xã hội phối hợp mở rộng mạng lưới nuôi dạy để thu nhận toàn bộ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa. Trẻ em là con liệt sĩ được ưu tiên nhận vào các nhà trẻ, lớp mẫu giáo và trường học.
  • Trẻ em tàn tật: Bộ Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế tiến hành điều tra, lập kế hoạch điều trị, phục hồi chức năng lao động, dạy văn hóa và dạy nghề phù hợp cho trẻ em tàn tật.

5. Chính sách miễn giảm giá dịch vụ và hàng hóa

  • Giảm giá hàng hóa thiết yếu: Ủy ban Vật giá Nhà nước cùng Bộ Nội thương trình Chính phủ phê duyệt danh mục các mặt hàng giảm giá dành riêng cho trẻ em, ưu tiên hàng đầu là học phẩm và thuốc chữa bệnh.
  • Giảm giá vé dịch vụ công cộng: Trẻ em từ 7 tuổi đến 15 tuổi được giảm 50% giá vé khi sử dụng các phương tiện giao thông công cộng và khi vào các địa điểm vui chơi, giải trí công cộng.

6. Trách nhiệm của chính quyền, cơ sở sản xuất và gia đình

  • Chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước: Các ngành, địa phương phải đưa các chỉ tiêu bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em vào kế hoạch Nhà nước 5 năm và hàng năm. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Ủy ban kế hoạch các cấp chịu trách nhiệm xét duyệt, kiểm tra việc thực hiện.
  • Giám sát của Hội đồng nhân dân: HĐND các cấp thành lập "Ban bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" để nghiên cứu, giám sát việc thực thi chính sách pháp luật về trẻ em tại địa phương.
  • Đóng góp của cơ sở sản xuất: Các xí nghiệp, hợp tác xã phải trích một tỷ lệ thích đáng từ quỹ phúc lợi hoặc quỹ công ích hàng năm để chi cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
  • Vai trò của gia đình: Khuyến khích thành lập các hội cha mẹ học sinh để phối hợp với nhà trường, Đoàn Thanh niên, Ủy ban thiếu niên nhi đồng quản lý trẻ em. Các Bộ ngành liên quan có trách nhiệm bồi dưỡng kiến thức nuôi dạy con cho các bậc cha mẹ.

7. Quyền kháng nghị của các tổ chức xã hội khi trẻ em bị xâm phạm

  • Xử lý kháng nghị: Khi Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam kháng nghị về hành vi, quyết định xâm phạm quyền lợi trẻ em, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải kịp thời xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc hình sự.
  • Thời hạn giải quyết: Cơ quan bị kháng nghị phải trả lời bằng văn bản trong vòng 7 ngày và giải quyết dứt điểm trong vòng 1 tháng. Nếu không đồng ý với kháng nghị, phải trả lời nêu rõ lý do trong vòng 7 ngày. Tổ chức kháng nghị có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiếp của cơ quan vi phạm; cấp trên phải đưa ra hướng giải quyết trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận khiếu nại.

8. Quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm

  • Các hình thức xử phạt hành chính: Bao gồm cảnh cáo, phạt tiền từ 1 đồng đến 50 đồng, và phạt lao động công ích từ 1 ngày đến 3 ngày. Đối với cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước vi phạm, ngoài phạt hành chính còn bị xử lý kỷ luật theo quy định hiện hành.
  • Thẩm quyền xử phạt:
    • UBND cấp xã, phường: Có quyền cảnh cáo, phạt tiền từ 1 đến 5 đồng, phạt lao động công ích 1 ngày.
    • UBND cấp huyện, quận: Có thẩm quyền áp dụng tất cả các hình thức xử phạt hành chính nêu trên.
  • Thời hạn khiếu nại quyết định xử phạt: Người bị phạt có quyền khiếu nại trong vòng 5 ngày đối với quyết định của UBND cấp xã và 7 ngày đối với quyết định của UBND cấp huyện. UBND cấp trên phải giải quyết khiếu nại trong vòng 7 ngày. Quyết định giải quyết của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định cuối cùng.

Hiệu lực thi hành

Nghị định 293-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các điều khoản quy định tại Nghị định này.

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 293-CP

Hà Nội, ngày 04 tháng 7 năm 1981

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 293/CP NGÀY 4 THÁNG 7 NĂM 1981 VỀ VIỆC THI HÀNH PHÁP LỆNH NGÀY 14-11-1979 VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ do Quốc hội thông qua ngày 14-7-1960;
Căn cứ điều 27 của Pháp lệnh ngày 14-11-1979 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp chế của Chính phủ,

NGHỊ ĐỊNH:

VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

Điều 1. Trẻ em được hưởng đầy đủ các tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm, vải mặc đã được Nhà nước quy định cho từng lứa tuổi. Bộ Lương thực, Bộ Công nghiệp thực phẩm và Bộ Nội thương có trách nhiệm bảo đảm những tiêu chuẩn đó cho các em. Trong trường hợp có khó khăn, trẻ em là đối tượng được ưu tiên phân phối lương thực, thực phẩm và vải mặc. Về tiêu chuẩn cung cấp sữa cho trẻ em có mẹ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, ngành thương nghiệp có trách nhiệm bảo đảm cung cấp đủ số lượng, chất lượng và đúng kỳ hạn.

Điều 2. Trong việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em, Bộ Y tế có trách nhiệm:

1. Từng bước thực hiện việc khám sức khoẻ định kỳ cho tất cả trẻ em và lập sổ theo dõi sức khoẻ trẻ em.

2. Có kế hoạch tổ chức sản xuất các thứ thuốc cần thiết cho từng lứa tuổi trẻ em; từng bước tăng tỷ lệ giường bệnh dành cho trẻ em, bảo đảm số lượng và chất lượng cán bộ, nhân viên làm việc ở các khoa nhi.

3. Cùng với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em và Bộ Giáo dục xây dựng, hoàn chỉnh và tổ chức thực hiện tốt các chế độ phòng bệnh, khám bệnh và chữa bệnh cho những người có nhiệm vụ hằng ngày tiếp xúc với trẻ em.

Điều 3. Các cơ quan, xí nghiệp và các hợp tác xã, các đoàn thể không được phân công những người có bệnh truyền nhiễm vào những công tác có tiếp xúc với trẻ em.

Điều 4. Cấm đặt các loại kho chứa thuốc trừ sâu, phân bón, các chất hoá học, chất độc hại khác gần các nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, cơ sở y tế và văn hoá phục vụ trẻ em.

Không được xây dựng các nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học, sơ cở y tế và văn hoá phục vụ trẻ em gần những nơi có những kho tàng nói trên.

Điều 5. Cấm trẻ em uống rượu, uống bia, hút thuốc và sử dụng ma tuý, v.v... Người lớn có trách nhiệm giáo dục và ngăn chặn các em vi phạm điều này. Không ai được bán cho trẻ em những thứ có hại nói trên.

Điều 6. Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em Trung ương, Bộ Giáo dục và Uỷ ban nhân dân các cấp có kế hoạch tăng cường mạng lưới nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường phổ thông cơ sở theo đúng những tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, để hàng ngày thu nhận được nhiều và giáo dục tốt các trẻ em trong độ tuổi.

Điều 7. Không được dùng các nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường học và các cơ sở khác phục vụ sự nghiệp chăm sóc, giáo dục trẻ em vào những mục đích khác.

Nếu vì lợi ích chung mà cần phải dùng những cơ sở nói trên vào mục đích khác, thì phải được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương cho phép, và phải bố trí những cơ sở tương xứng để thay thế.

Điều 8. Tổng cục Thể dục thể thao có trách nhiệm phối hợp với các ngành có liên quan nghiên cứu hướng dẫn thực hiện kế hoạch và phương pháp luyện tập sức khoẻ phù hợp với các lứa tuổi trẻ em.

Điều 9. Bộ Giáo dục có trách nhiệm phối hợp với các ngành có liên quan ở Trung ương và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương củng cố và phát triển các trường năng khiếu cho trẻ em.

Điều 10. Bộ Văn hoá và Thông tin, Tổng cục Thể dục thể thao có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban thiếu niên và nhi đồng, các đoàn thể nhân dân, các Hội văn học nghệ thuật và các ngành có liên quan xây dựng các kế hoạch phục vụ nhu cầu văn hoá, nghệ thuật của trẻ em, và chỉ đạo các cơ quan thuộc quyền và các địa phương thực hiện các kế hoạch ấy, chú trọng các mặt sau đây:

a) Tổ chức việc sáng tác, xuất bản, phát hành các loại sách báo tranh ảnh, xây dựng các loại phim, các tiết mục múa, nhạc, kịch, xiếc v.v... thích hợp với trẻ em;

b) Tổ chức việc sản xuất các dụng cụ thể dục thể thao, các dụng cụ giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em;

c) Củng cố và xây dựng mới các thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hoá, rạp hát, cơ sở luyện tập v.v... dành cho trẻ em. (Nếu chưa có điều kiện xây dựng những công trình riêng cho trẻ em, thì phải quy định thích đáng thời gian dành cho trẻ em trong kế hoạch sử dụng các công trình chung).

Điều 11. Nghiêm cấm việc sản xuất, nhập khẩu, sao lại, tàng trữ và lưu hành những văn hoá phẩm có hại cho việc giáo dục trẻ em.

Khi phát hiện những văn hoá phẩm trên đây, bất cứ công dân nào cũng có quyền tịch thu và nộp cho cơ quan văn hoá sở tại từ cấp huyện, quận hoặc cấp tương đương trở lên.

Điều 12. Bộ Văn hoá và Thông tin có trách nhiệm quy định những bộ phim và những tiết mục sân khấu mà trẻ em không được xem.

Khi chiếu những phim và biểu diễn những tiết mục đó, các rạp phải thông báo trước, nhân viên kiểm soát vé và giữ trật tự ở những nơi này không được cho trẻ em vào xem.

Khi chiếu trên vô tuyến truyền hình những phim, những tiết mục sân khấu không nên để trẻ em xem, các đài truyền hình phải thông báo trước.

ĐỐI VỚI TRẺ EM LÀ CON LIỆT SĨ, TRẺ EM MỒ CÔI VÀ TRẺ EM TÀN TẬT

Điều 13. Trên cơ sở điều tra tình hình trẻ em là con liệt sĩ, trẻ em mồ côi, Bộ Thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan chỉ đạo các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã và các đoàn thể nhân dân xây dựng và mở rộng mạng lưới cơ sở nuôi dạy trẻ để dần dần thu nhận hết các trẻ em là con liệt sĩ, các trẻ em mồ côi không nơi nương tựa.

Trẻ em là con liệt sĩ được ưu tiên nhận vào các nhà trẻ, các lớp mẫu giáo và các trường học.

Điều 14. Bộ Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và các ngành có liên quan có trách nhiệm phối hợp chỉ đạo các địa phương điều tra tình hình trẻ em tàn tật, trên cơ sở đó có kế hoạch điều trị, phục hồi chức năng lao động, dạy văn hoá và dạy nghề cho trẻ em tàn tật.

VỀ CHÍNH SÁCH BÁN GIÁ HẠ CÁC MẶT HÀNG DÀNH CHO TRẺ EM

Điều 15. Căn cứ vào tình hình phát triển sản xuất từng thời kỳ, Uỷ ban Vật giá Nhà nước cùng Bộ Nội thương trình Chính phủ xét duyệt danh mục các mặt hàng giá hạ dành bán cho trẻ em, chú trọng trước hết là học phẩm, thuốc chữa bệnh, khi có điều kiện thì mở rộng đến các mặt hàng khác.

Điều 16. Khi sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, vào những nơi vui chơi, giải trí công cộng, trẻ em từ 7 tuổi đến 15 tuổi được giảm 50% tiền vé.

VỀ TRÁCH NHIỆM CHUNG CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP VÀ CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ

Điều 17. Trong kế hoạch Nhà nước 5 năm và hằng năm, các ngành và các địa phương phải ghi rõ các chỉ tiêu về các mặt bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nêu trong Pháp lệnh ngày 14-11-1979.

Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm giúp Hội đồng Chính phủ, Uỷ ban kế hoạch các cấp có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp xét duyệt và kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đó.

Điều 18. Hội đồng nhân dân các cấp thành lập "Ban bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" theo tinh thần các điều 28-29 và 30 của Luật ngày 27-10-1962 về tổ chức hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, để giúp Hội đồng nhân dân nghiên cứu và giám sát việc thực hiện các chính sách và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở địa phương.

Điều 19. Các xí nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất kinh doanh khác có trách nhiệm góp phần vào việc xây dựng những cơ sở vật chất cần thiết cho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Hằng năm, các đại hội công nhân, viên chức, đại hội xã viên phải quyết định trích quỹ phúc lợi hoặc quỹ công ích với tỷ lệ thích đáng để chi cho sự nghiệp đó.

VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM

Điều 20. Nhà nước khuyến khích việc thành lập các hội cha mẹ học sinh để phối hợp với các trường học, các tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các Uỷ ban thiếu niên và nhi đồng và các đoàn thể nhân dân khác trong việc quản lý, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm giúp đỡ các hội cha mẹ học sinh.

Điều 21. Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em Trung ương, Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Văn hoá và thông tin, căn cứ chức năng của mình, có trách nhiệm phối hợp với các ngành có liên quan và các đoàn thể nhân dân, tổ chức việc giáo dục, bồi dưỡng cho những người làm cha mẹ những kiến thức cần thiết về nuôi dạy con.

VỀ QUYỀN KHÁNG NGHỊ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH VÀ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHỮNG HÀNH VI HOẶC QUYẾT ĐỊNH XÂM PHẠM QUYỀN LỢI CỦA TRẺ EM

Điều 22. Đối với những hành vi hoặc những quyết định xâm phạm quyền lợi của trẻ em, khi có kháng nghị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải kịp thời xem xét và có biện pháp xử lý ngay. Nếu thấy cần thiết, các cơ quan Nhà nước đó có quyền áp dụng những biện pháp xử lý nêu trong Điều 26 của Pháp lệnh ngày 14-11-1979.

Việc xử lý bằng biện pháp hành chính sẽ theo những quy định trong các Điều 24, 25 và 26 của Nghị định này.

Việc xử lý bằng biện pháp hình sự sẽ theo những quy định của luật hình sự.

Điều 23. Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội có hành vi hoặc quyết định xâm phạm quyền lợi của trẻ em, chậm nhất là 7 ngày sau khi nhận được kháng nghị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, phải trả lời và thông báo cách giải quyết của mình cho tổ chức đã kháng nghị biết và chậm nhất là 1 tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị phải giải quyết xong.

Nếu không đồng ý với kháng nghị, thì trong thời hạn 7 ngày, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội nói trên phải trả lời và nêu rõ lý do trong trường hợp này. Các đoàn thể đã kháng nghị có quyền khiếu nại lên cấp trên của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội đã vi phạm. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày được khiếu nại, tổ chức cấp trên của cơ quan hoặc tổ chức bị kháng nghị phải thông báo cho đoàn thể đã kháng nghị về cách giải quyết của mình.

VỀ PHẠT HÀNH CHÍNH

Điều 24. Các hình thức phạt hành chính theo Điều 26 của Pháp lệnh ngày 14-11-1979 bao gồm:

- Cảnh cáo.

- Phạt tiền từ 1 đồng đến 50 đồng.

- Phạt lao động công ích từ 1 ngày đến 3 ngày.

Nếu trong khi thừa hành nhiệm vụ, cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước vi phạm Pháp lệnh ngày 14-11-1979 thì ngoài những hình thức phạt hành chính trên đây, còn có thể bị thi hành kỷ luật theo điều lệ về kỷ luật do Hội đồng Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 195/CP ngày 31-12-1964.

Điều 25. Uỷ ban nhân dân xã, phường và cấp tương đương có quyền cảnh cáo, phạt tiền từ 1 đến 5 đồng; phạt lao động công ích 1 ngày.

Uỷ ban nhân dân huyện, quận hoặc cấp tương đương có quyền áp dụng tất cả các hình thức phạt hành chính quy định ở điểm 24 trên đây.

Điều 26. Người bị phạt hành chính có quyền khiếu nại đối với những quyết định của Uỷ ban nhân dân nếu xét thấy không thoả đáng, thời gian để khiếu nại được quy định như sau:

- 5 ngày đối với quyết định của Uỷ ban nhân dân xã, phường.

- 7 ngày đối với quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, hoặc cấp tương đương.

Trong thời hạn 7 ngày sau khi nhận được khiếu nại, uỷ ban nhân dân cấp trên phải có quyết định chính thức giải quyết việc khiếu nại. Quyết định xử lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu là quyết định cuối cùng.

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 27. Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Tố Hữu

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 293-CP năm 1981 thi hành Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Hội đồng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 293-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 04/07/1981
Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
Người ký: Tố Hữu
Ngày công báo: 15/07/1981
Số công báo: Số 12
Ngày hiệu lực: 19/07/1981
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Giáo dục
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 293-CP năm 1981 thi hành Pháp lệnh...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký