Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định số 38-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1991 nhằm hướng dẫn thi hành chi tiết Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc giải quyết các tranh chấp hành chính, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước các quyết định hành chính hoặc hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức khi thi hành công vụ.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định áp dụng đối với mọi công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; các cơ quan, tổ chức, cán bộ, nhân viên Nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận, thụ lý và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Văn bản cũng điều chỉnh các khiếu nại liên quan đến tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và các lĩnh vực đặc thù như quốc phòng, an ninh.

Quy định chi tiết về quyền khiếu nại và thủ tục tiếp nhận đơn

  • Quyền khiếu nại và người đại diện: Công dân thực hiện quyền khiếu nại đối với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của mình. Đối với người ốm đau, già yếu, khuyết tật hoặc chưa thành niên, người mắc bệnh tâm thần, việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp (cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em ruột đã thành niên, người đỡ đầu hoặc người giám hộ) và phải được Ủy ban nhân dân cấp cơ sở xác nhận.
  • Yêu cầu đối với đơn khiếu nại: Đơn phải ghi rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của người khiếu nại; thông tin người bị khiếu nại; nội dung sự việc, chứng cứ và yêu cầu giải quyết. Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một sự việc thì từng người phải ký tên vào đơn hoặc cử đại diện trình bày trực tiếp.
  • Xử lý đơn chưa rõ ràng và địa điểm tiếp nhận: Nếu nội dung đơn chưa rõ ràng, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu bổ sung hoặc lập biên bản ghi nhận lời trình bày có chữ ký xác nhận của hai bên. Việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại bắt buộc phải thực hiện tại trụ sở cơ quan Nhà nước.
  • Thời hiệu khiếu nại: Thực hiện theo quy định của Pháp lệnh. Trường hợp gặp trở ngại khách quan (thiên tai, địch họa, đi công tác xa, học tập ở nước ngoài), thời gian trở ngại không tính vào thời hiệu và phải được cơ quan quản lý hoặc UBND cấp cơ sở xác nhận.
  • Xử lý đơn không thuộc thẩm quyền: Trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận đơn, nếu không thuộc thẩm quyền, cơ quan nhận đơn phải thông báo cho đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân (nếu họ chuyển đơn đến) và hướng dẫn người khiếu nại gửi đúng nơi quy định.

Phân định thẩm quyền giải quyết khiếu nại các cấp

  • Cấp cơ sở và cấp huyện: Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn và thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi của mình hoặc cán bộ thuộc quyền quản lý. Chánh thanh tra huyện giải quyết theo thẩm quyền thanh tra. Chủ tịch UBND huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định của mình và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với các vụ việc Chánh thanh tra huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại hoặc có kháng nghị.
  • Cấp sở và cấp tỉnh: Chánh thanh tra sở và Giám đốc sở giải quyết khiếu nại trong phạm vi quản lý. Giám đốc sở ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với các vụ việc do Chánh thanh tra sở đã giải quyết. Ở cấp tỉnh, Chánh thanh tra tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện thẩm quyền tương tự, trong đó Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với các vụ việc Chánh thanh tra tỉnh đã giải quyết.
  • Cấp Bộ và Trung ương: Chánh thanh tra Bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng giải quyết khiếu nại thuộc phạm vi quản lý. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với các quyết định của Chánh thanh tra Bộ hoặc khi có kháng nghị của Tổng thanh tra Nhà nước. Tổng thanh tra Nhà nước giải quyết khiếu nại đối với quyết định của chính mình và quyết định này là quyết định cuối cùng.

Thủ tục giải quyết khiếu nại và chế định kháng nghị

  • Quy trình thụ lý và ban hành quyết định: Cơ quan có thẩm quyền phải thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ lập hồ sơ vụ việc. Quyết định giải quyết phải nêu rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có) và phải được gửi cho các bên liên quan trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký.
  • Thời hạn và căn cứ kháng nghị: Thời hạn kháng nghị quyết định giải quyết khiếu nại tối đa là 01 năm kể từ ngày ký quyết định. Căn cứ kháng nghị bao gồm việc phát hiện tình tiết mới (chứng cứ đã có nhưng chưa được phát hiện khi giải quyết) hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật (áp dụng sai luật, vi phạm thủ tục gây thiệt hại).
  • Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại: Quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh. Cá nhân không thi hành sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Người lợi dụng quyền khiếu nại để gây rối trật tự công cộng sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo

  • Hình thức và nội dung tố cáo: Công dân có thể tố cáo bằng đơn hoặc trực tiếp trình bày. Đơn tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, người bị tố cáo và hành vi vi phạm. Đối với tố cáo nặc danh (không rõ họ tên, địa chỉ) nhưng có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể thì thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định việc xem xét, xác minh.
  • Thời hạn chuyển đơn và thụ lý tố cáo: Nếu không thuộc thẩm quyền, cơ quan nhận đơn phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền trong vòng 10 ngày. Trường hợp khẩn cấp đe dọa tính mạng, tài sản thì phải báo ngay cho cơ quan công an hoặc UBND nơi gần nhất để ngăn chặn. Nếu thuộc thẩm quyền, cơ quan phải ra quyết định thụ lý trong vòng 10 ngày và thông báo cho người tố cáo.
  • Xác minh và thông báo kết quả: Cơ quan giải quyết phải thu thập chứng cứ, lập hồ sơ, ban hành kết luận hoặc quyết định xử lý. Trong vòng 10 ngày kể từ ngày có kết luận, phải thông báo kết quả cho người tố cáo. Nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm, phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

  • Trách nhiệm của Tổng thanh tra Nhà nước: Giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quản lý thống nhất công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên phạm vi cả nước; hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra các ngành, các cấp và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ lên Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng.
  • Trách nhiệm của Bộ trưởng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh: Tổ chức tốt công tác tiếp dân, bố trí cán bộ đủ năng lực, phẩm chất; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 3 tháng một lần về tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo gửi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Tổng thanh tra Nhà nước.
  • Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc: Thủ trưởng các cấp, các ngành có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và Thanh tra nhân dân giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo; có quyền kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết.

Khen thưởng, xử lý vi phạm và điều khoản thi hành

  • Khen thưởng và kỷ luật: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích hoặc người tố cáo có công ngăn ngừa thiệt hại được khen thưởng. Người vi phạm quyền khiếu nại, tố cáo hoặc thiếu trách nhiệm trong giải quyết sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời phải bồi thường thiệt hại nếu có.
  • Hướng dẫn đặc thù: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ sau khi thống nhất với Tổng thanh tra Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lực lượng quân đội và công an.
  • Quy định chuyển tiếp: Các khiếu nại, tố cáo phát sinh trước ngày 01 tháng 8 năm 1991 đang trong quá trình giải quyết thì tiếp tục áp dụng các quy định của Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 5 năm 1991 để giải quyết.

Hiệu lực thi hành

Nghị định 38-HĐBT năm 1991 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành và thay thế hoàn toàn Nghị định số 58-HĐBT ngày 29 tháng 3 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 38-HĐBT

Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 1991

NGHỊ ĐỊNH

CUẢ HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 38-HĐBT NGÀY 28-1-1991 VỀ VIỆC THI HÀNH PHÁP LỆNH KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN

HỘIĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 2 tháng 5 năm 1991;
Theo đề nghị của Tổng Thanh tra Nhà nước,

NGHỊ ĐỊNH:

I. KHIẾU NẠI VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI

Điều 1.

1. Công dân thực hiện quyền khiếu nại trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với quyết định hành chính hoặc việc làm của nhân viên cơ quan Nhà nước khi thi hành công vụ, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Công dân khiếu nại trước tiên với cơ quan Nhà nước đã ra quyết định hành chính nói trên hoặc cơ quan Nhà nước có nhân viên làm trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý hành chính.

Điều 2.

1. Các khiếu nại về việc vi phạm pháp luật trong tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội được giải quyết theo quy định Pháp luật; nếu khiếu nại về việc vi phạm Điều lệ hoạt động thì được giải quyết theo Điều lệ của tổ chức đó.

2. Các khiếu nại mà thẩm quyền, thủ tục giải quyết đã được các Luật hoặc Pháp luật khác quy định thì giải quyết theo các văn bản Pháp luật đó.

Điều 3.

1. Những người ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất (câm, điếc, mù) hoặc vì một lý do nào khác không thể tự mình khiếu nại được, có thể thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

2. Cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em ruột đã thành niên, người đỡ đầu hoặc người giám hộ có thể khiếu nại trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mắc bệnh tâm thần đã bị xâm phạm.

3. Việc đại diện khiếu nại phải được Uỷ ban Nhân dân cấp cơ sở xác nhận.

4. Người đại diện có nghĩa vụ trình bày đầy đủ, trung thực nội dung sự việc khiếu nại.

Điều 4. - Đơn khiếu nại phải ghi rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, cơ quan, đơn vị (nếu có) của người khiếu nại ; họ tên, chức vụ, cơ quan, đơn vị công tác của người bị khiếu nại; ghi rõ nội dung sự việc, cung cấp các bằng chứng, tài liệu cần thiết và yêu cầu giải quyết. Nếu khiếu nại về một quyết định (kể cả quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà đương sự còn khiếu nại) thì phải kèm theo quyết định hoặc bản sao quyết định đó.

Trường hợp nhiều người khiếu nại trong cùng một đơn về một sự việc thì từng người phải ghi rõ họ tên, địa chỉ và ký tên vào đơn; nếu trực tiếp trình bày thì cử đại diện đến trình bày với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Điều 5. - Đơn khiếu nại mà nội dung ghi chưa rõ ràng, đầy đủ thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết yêu cầu đương sự bổ sung. Trong trường hợp cần thiết phải ghi nhận lời trình bày của người khiếu nại thì cán bộ trực tiếp nhận phải ghi chính xác, đầy đủ nội dung, sau khi đọc cho đương sự nghe, người khiếu nại và cán bộ tiếp nhận cùng ký tên xác nhận.

Việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại chỉ được tiến hành tại Trụ sở cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Điều 6. - Thời hiệu khiếu nại đã được quy định tại Điều 19 Pháp lệnh. Hết thời hạn đó đương sự không có quyền khiếu nại nữa.

Nếu người khiếu nại vì những trở ngại như thiên tai, địch hoạ, đi công tác đột xuất ở nơi xa, đi công tác hoặc học tập ở nước ngoài không thể thực hiện quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời hiệu khiếu nại được tính từ ngày những trở ngại không còn nữa. Những trở ngại nói trên phải được thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp hoặc Uỷ ban Nhân dân cấp cơ sở xác nhận.

Điều 7.

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại theo quy định tại Điều 6 Pháp lệnh, cơ quan Nhà nước nhận được đơn nếu xác định không thuộc thẩm quyền của mình giải quyết, thì phải có thông báo cho đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân biết rõ lý do và hướng dẫn người khiếu nại gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

2. Cơ quan Nhà nước nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan, thì thụ lý phần thuộc thẩm quyền của mình đồng thời hướng dẫn người khiếu nại với các cơ quan khác có thẩm quyền giải quyết những nội dung còn lại.

Điều 8. - Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn, thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban Nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của mình, khiếu nại đối với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình.

Điều 9. - Chánh thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết theo quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh, giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình.

Điều 10. - Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết:

1. Khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến trách nhiệm quản lý của mình;

2. Xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại mà Chánh thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã giải quyết, khi:

a) Đương sự còn khiếu nại;

b) Phát hiện có tình tiết mới hoặc phát hiện việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

c) Có kháng nghị của Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Điều 11. - Chánh thanh tra sở có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết theo quy định tại Điều 12 Pháp lệnh, giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình.

Điều 12. - Giám đốc Sở có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết:

1. Khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình;

2. Xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại mà Chánh thanh tra Sở đã giải quyết, khi:

a) Đương sự còn khiếu nại;

b) Phát hiện có tình tiết mới hoặc việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

c) Có kháng nghị của Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Điều 13. - Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết theo quy định tại Điều 13 Pháp lệnh, giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình.

Điều 14. - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết:

1. Khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình.

2. Xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại mà Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã giải quyết, khi:

a) Đương sự còn khiếu nại;

b) Phát hiện có tình tiết mới hoặc phát hiện việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm Pháp luật;

c) Có kháng nghị của Tổng thanh tra Nhà nước.

Điều 15. - Chánh thanh tra Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết theo quy định tại Điều 14 Pháp lệnh, giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình.

Điều 16. - Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết theo quy định tại Điều 16 Pháp lệnh và giải quyết:

1. Khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình;

2. Xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại mà Chánh thanh tra Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng đã giải quyết khi:

a) Đương sự còn khiếu nại;

b) Phát hiện có tình tiết mới hoặc việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm Pháp luật;

c) Có kháng nghị của Tổng thanh tra Nhà nước.

Điều 17. - Tổng thanh tra Nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết theo quy định tại Điều 17 Pháp lệnh, giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của chính mình, khiếu nại đối với cán bộ thuộc quyền quản lý trực tiếp mà nội dung khiếu nại liên quan đến phạm vi quản lý của mình; quyết định của Tổng thanh tra trong trường hợp nêu trên là quyết định cuối cùng.

Điều 18. - Cơ quan Nhà nước khi nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình phải thụ lý, tiến hành thẩm tra xác minh, thu thập chứng cứ lập thành hồ sơ.

Trên cơ sở hồ sơ, chứng cứ đã thu thập được, căn cứ vào các quy định của Pháp luật, Thủ trưởng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định giải quyết. Trường hợp người bị thiệt hại được bồi thường thì quyết định phải ghi rõ tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bồi thường.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký, quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi cho những người nói tại Điều 25 của Pháp lệnh.

Cơ quan Nhà nước đã ra quyết định giải quyết khiếu nại có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền để quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh, kịp thời.

Điều 19. - Thời hạn kháng nghị nói tại Điều 13 và Điều 17 của Pháp lệnh không quá một năm kể từ ngày ký quyết định giải quyết khiếu nại.

Kháng nghị được gửi cho thủ trưởng cùng cấp của tổ chức thanh tra đã ra quyết định giải quyết và tổ chức thanh tra đó, đồng thời thông báo cho người khiếu nại, người bị khiếu nại biết.

Điều 20. - Căn cứ kháng nghị là phát hiện có tình tiết mới hoặc giải quyết có dấu hiệu vi phạm Pháp luật.

1. Tình tiết mới là những chứng cứ đã có từ trước mà trong quá trình giải quyết, cơ quan có thẩm quyền chưa phát hiện được và với chứng cứ đó thì việc khiếu nại phải được giải quyết lại mới bảo đảm tính đúng đắn.

2. Dấu hiệu vi phạm Pháp luật là những dấu hiệu chứng tỏ khi quyết định giải quyết đã áp dụng không đúng các quy luật của Pháp luật, hoặc cơ quan có thẩm quyền đã vi phạm thủ tục giải quyết, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Điều 21. - Quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh.

1. Cá nhân có trách nhiệm mà không thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thì tuỳ theo mức độ vi phạm nặng hoặc nhẹ, thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp cá nhân đó có thể áp dụng biện pháp xử lý kỷ luật hành chính, trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng đề nghị cơ quan Pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 127 Bộ luật Hình sự.

2. Nếu người khiếu nại, người bị khiếu nại hoặc những người liên quan không chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thì Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thích hợp theo quy định của Pháp luật buộc họ phải thực hiện.

Người nào lợi dụng quyền khiếu nại để gây rối trật tự công cộng thì tuỳ theo mức độ vi phạm nặng hoặc nhẹ có thể xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 198 Bộ luật Hình sự.

3. Nếu Thủ trưởng có trách nhiệm mà không áp dụng biện pháp cần thiết nói tại khoản 1 và 2 Điều này để thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thì tuỳ theo mức độ vi phạm nặng hoặc nhẹ có thể bị xử lý kỷ luật hành chính, nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 220 của Bộ luật Hình sự.

II. TỐ CÁO VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO

Điều 22. - Công dân có quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bằng hình thức gửi đơn hoặc trực tiếp trình bày.

Đơn tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo; nêu rõ sự việc, các bằng chứng mà mình đưa ra; họ tên, địa chỉ, chức vụ người bị tố cáo.

Các tố cáo về hành vi phạm tội thì giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Công dân thực hiện quyền tố cáo trước tiên tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 29 Pháp lệnh.

Điều 23.

1. Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận các tố cáo của công dân. Nếu người tố cáo đến trình bày trực tiếp thì phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ tên địa chỉ người tố cáo, người bị tố cáo; trong trường hợp cần thiết có thể ghi âm lời tố cáo.

Nếu người tố cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tố cáo thì cơ quan Nhà nước có trách nhiệm phải biên nhận và bảo quản chu đáo. Bản ghi nội dung tố cáo, băng ghi lời tố cáo phải cho đương sự đọc lại, nghe lại, yêu cầu họ cùng cán bộ tiếp nhận ký tên xác nhận.

2. Những đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra xác minh, thì tuỳ tính chất, sự việc mà thủ trưởng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định xem xét hoặc không xem xét.

Điều 24. - Cơ quan Nhà nước nhận được tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì chậm nhất trong thời hạn 10 ngày phải chuyển đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo và tài liệu, chứng cứ liên quan (nếu có) cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo biết nếu họ có yêu cầu. Trường hợp cần thiết, đe doạ gây thiết hại tính mạng và tài sản của công dân, lợi ích của Nhà nước, của tập thể thì cơ quan nhận được tố cáo phải báo ngay cơ quan công an hoặc Uỷ ban Nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật.

Điều 25.

1. Cơ quan Nhà nước nhận được tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được phải ra quyết định thụ lý, đồng thời thông báo cho cơ quan đã chuyển đơn tố cáo hoặc người tố cáo biết.

2. Tố cáo thuộc thẩm quyền cấp dưới giải quyết, quá thời hạn mà không được thụ lý thì cơ quan cấp trên trực tiếp ra quyết định buộc cấp dưới giải quyết. Những tố cáo mà cấp dưới đã giải quyết dùng Pháp luật thì thông báo cho người tố cáo biết.

3. Những tố cáo đã được giải quyết nhưng phát hiện có tình tiết mới hoặc việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm Pháp luật như quy định tại Điều 20 Nghị định này, thì được giải quyết theo quy định tại các Điều 31, Điều 32, Điều 33 Pháp lệnh.

Điều 26. - Trong quá trình giải quyết tố cáo, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải thu thập tài liệu, chứng cứ lập thành hồ sơ và ra văn bản kết luận, quyết định giải quyết. Nếu phải tiến hành thanh tra thì thực hiện theo quy định của Pháp luật về thanh tra. Nếu thấy có dấu hiệu tội phạm thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Điều 27. - Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có kết luận hoặc quyết định tố cáo thì cơ quan đã giải quyết phải có thông báo cho người tố cáo biết. Nội dung kết luận hoặc quyết định giải quyết tố cáo phải nêu rõ căn cứ, xác định rõ đúng sai, biện pháp xử lý, thời hạn thi hành và người phải thi hành. Trường hợp chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát thì phải ghi rõ.

III. QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CAÓ CUẢ CÔNG DÂN

Điều 28. - Tổng thanh tra Nhà nước giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thực hiện việc quản lý thống nhất công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong phạm vi cả nước; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra các ngành, các cấp trong việc xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhằm bảo đảm cho các quyết định giải quyết được đúng đắn và thi hành nghiêm chỉnh; kiến nghị các biện pháp cần thiết để thi hành Pháp lệnh; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về công tác xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo lên Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, đồng thời có thông báo cho Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Các tổ chức Thanh tra Nhà nước thực hiện quyền thanh tra Nhà nước trong việc thực hiện Pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quản lý công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.

Điều 29. - Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tổ chức và quản lý tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong ngành, địa phương mình; bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt làm công tác xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; ba tháng một lần có báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Tổng thanh tra Nhà nước về tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo trong ngành, địa phương mình.

Điều 30. - Thủ trưởng các cấp, ngành có trách nhiệm tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, Thanh tra nhân dân giám sát việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân. Nếu phát hiện những hành vi trái pháp luật của cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thì Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, thanh tra nhân dân có quyền kiến nghị cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan vi phạm xem xét, giải quyết và trả lời cho các tổ chức xã hội đã kiến nghị biết.

IV - ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 31. - Những khiếu nại, tố cáo trước ngày 1 tháng 8 năm 1991 mà đang được giải quyết thì vẫn tiếp tục giải quyết theo quy định của Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 2 tháng 5 năm 1991.

Điều 32. - Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tập thể, công dân thì được khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước.

Người nào vi phạm quyền khiếu nại, tố cáo, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân quy định tại Điều 44 Pháp lệnh thì tuỳ theo mức độ và tính chất vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 33. - Căn cứ vào đặc điểm về tổ chức và hoạt động, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, sau khi thống nhất với Tổng thanh tra Nhà nước hướng dẫn chi tiết việc giải quyết khiếu nại trong quân đội và công an.

Điều 34. - Tổng thanh tra Nhà nước, Bộ trưởng, Chủ nhiệm uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 35. - Nghị định này thay thế Nghị định 58-HĐBT ngày 29 tháng 3 năm 1982 và có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 38-HĐBT năm 1991 thi hành Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu: 38-HĐBT
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 28/01/1991
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày công báo: 15/02/1992
Số công báo: Số 3
Ngày hiệu lực: 28/01/1991
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Quyền dân sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 38-HĐBT năm 1991 thi hành Pháp lệnh...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký