Nghị định số 429-HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1990 nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh về Đê điều. Văn bản này quy định toàn diện về công tác quy hoạch, phân cấp đê, xác định phạm vi bảo vệ, đầu tư xây dựng, tu bổ đê điều, cũng như các biện pháp xử lý công trình ảnh hưởng đến an toàn đê và phương án phân lũ, hộ đê trên phạm vi cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế và mọi cá nhân có các hoạt động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hệ thống đê điều, kè, cống, lòng sông thoát lũ và các vùng phụ cận bảo vệ đê tại Việt Nam.
Trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Thủy lợi
- Bộ trưởng Bộ Thủy lợi chịu trách nhiệm phê duyệt quy hoạch các loại đê, kè, cống và các công trình phụ trợ theo quy định của Pháp lệnh về đê điều. Đối với các vùng đặc biệt quan trọng, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi sẽ lập phương án trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt.
- Thực hiện quản lý thống nhất về tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế, quy trình thi công, bảo vệ và sử dụng các loại đê điều trên toàn quốc.
Tiêu chuẩn phân cấp đê và xác định phạm vi bảo vệ
Hệ thống đê điều được phân thành 5 cấp dựa trên tầm quan trọng kinh tế - xã hội, mức độ thiệt hại khi xảy ra sự cố vỡ đê, diện tích vùng bảo vệ và độ sâu ngập nước:
- Cấp Đặc biệt: Áp dụng cho khu vực nội thành Hà Nội và các vùng lân cận có độ sâu ngập nước khi vỡ đê trên 2m.
- Cấp I: Áp dụng cho vùng bảo vệ liên tỉnh (từ 2 tỉnh trở lên) có độ sâu ngập nước trên 2m.
- Cấp II: Áp dụng cho vùng bảo vệ trong phạm vi 1 tỉnh có độ sâu ngập nước từ 1,5m đến 2m.
- Cấp III: Áp dụng cho vùng bảo vệ liên huyện (từ 2 huyện trở lên) có độ sâu ngập nước từ 1m đến 1,5m.
- Cấp IV: Áp dụng cho vùng bảo vệ trong phạm vi 1 huyện có độ sâu ngập nước dưới 1m.
Phạm vi bảo vệ đê điều bao gồm thân đê, kè, cống và vùng phụ cận được quy định chi tiết như sau:
- Đê sông: Tính từ chân đê trở ra 20m về phía sông và 25m về phía đồng.
- Đê biển: Tính từ chân đê trở ra 100m về phía biển và 20m về phía đồng.
- Kè bảo vệ: Tính từ đầu kè trở ngược và cuối kè trở xuôi dọc theo bờ sông, bờ biển mỗi phía 100m; từ đỉnh kè lát mái hoặc góc kè mỏ hàn vào phía bờ 50m; từ chân kè trở ra phía lòng sông hoặc biển 20m.
- Cống qua đê: Tính từ giới hạn phần xây đúc cuối cùng trở ra mỗi phía 50m (riêng đối với cống vùng triều là 80m).
- Các tuyến đê đặc thù: Đối với đê bối, đê bao thành phố, thị xã, khu công nghiệp hoặc đê biển tuyến trong, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phạm vi bảo vệ cụ thể sau khi có sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Thủy lợi.
- Trường hợp đặc biệt: Khi cần thay đổi phạm vi bảo vệ đê, kè, cống cho phù hợp với thực tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo Bộ trưởng Bộ Thủy lợi xem xét và trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt, sau đó thông báo công khai cho nhân dân và các cơ quan hữu quan.
Huy động lao động công ích và nguồn vốn đầu tư tu bổ đê điều
- Huy động lao động: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cân đối và ưu tiên dành đủ quỹ ngày công lao động công ích của địa phương để hoàn thành kế hoạch xây dựng, tu bổ đê điều và chuẩn bị phòng, chống lụt, bão trước mùa mưa lũ. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước chịu trách nhiệm lập kế hoạch điều hòa quỹ ngày công lao động công ích toàn quốc trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định. Phương thức đóng góp bằng lao động trực tiếp hoặc bằng tiền được thực hiện theo Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích.
- Phân cấp nguồn vốn đầu tư: Ngân sách trung ương đầu tư cho các tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt. Ngân sách địa phương đầu tư cho các tuyến đê dưới cấp III theo quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Đối với đê chuyên dùng, chủ công trình có trách nhiệm tự đầu tư kinh phí xây dựng và tu bổ.
- Bảo đảm tiến độ: Các ngành Tài chính, Ngân hàng, Thương nghiệp, Xây dựng có trách nhiệm ưu tiên cấp phát kinh phí kịp thời và cung ứng đầy đủ vật tư theo kế hoạch để hoàn thành cơ bản công tác tu bổ đê điều trong 6 tháng đầu năm.
- Khuyến khích xã hội hóa: Bộ Thủy lợi chủ trì phối hợp với các ngành liên quan nghiên cứu cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân tự nguyện đóng góp sức người, tài chính và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc bảo vệ, tu bổ đê điều.
Thẩm quyền cấp phép và khoảng cách an toàn trong hoạt động khai thác
- Thẩm quyền cấp phép: Bộ Thủy lợi cấp phép cho các hoạt động xây dựng, khai thác ảnh hưởng đến an toàn đê từ cấp III đến cấp đặc biệt và khả năng thoát lũ liên tỉnh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép cho các hoạt động liên quan đến đê dưới cấp III và việc thoát lũ chỉ ảnh hưởng trong phạm vi địa phương.
- Quy định khoảng cách khai thác: Ngoài phạm vi bảo vệ đê điều, các hoạt động khoan đào, khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng, đào giếng hoặc nạo vét luồng lạch phải tuân thủ nguyên tắc: cứ đào sâu xuống 1m thì vị trí đào phải cách xa phạm vi bảo vệ đê thêm 10m. Các trường hợp đặc biệt không thể tuân thủ khoảng cách này phải có biện pháp gia cố kỹ thuật bảo đảm an toàn và được Bộ Thủy lợi phê duyệt.
Mối quan hệ giữa an toàn đê điều và các hoạt động giao thông, xây dựng
- Ưu tiên an toàn đê điều: Việc kết hợp sử dụng mặt đê, cơ đê làm đường giao thông bộ hoặc sử dụng lòng sông, vùng biển ven đê làm giao thông thủy không được gây mất an toàn cho đê hoặc cản trở dòng chảy thoát lũ. An toàn đê điều luôn là yếu tố được ưu tiên hàng đầu khi giải quyết các mối quan hệ giữa giao thông và đê điều.
- Thỏa thuận quy hoạch: Các công trình nằm ngoài phạm vi bảo vệ đê nhưng có ảnh hưởng đến an toàn đê (như hồ chứa nước vừa và lớn, công trình tạo luồng lạch, cảng sông, cảng biển, cầu qua sông) phải có sự thỏa thuận thống nhất bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Thủy lợi ngay từ giai đoạn duyệt Luận chứng kinh tế - kỹ thuật và quy trình vận hành.
- Quản lý đất đai: Bộ Thủy lợi phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Tổng cục quản lý ruộng đất hướng dẫn việc sử dụng đất trong phạm vi bảo vệ đê điều phù hợp với Luật Đất đai và Pháp lệnh về đê điều.
Chính sách xử lý công trình, nhà cửa trong phạm vi bảo vệ đê
Tất cả các công trình, nhà ở tồn tại trong phạm vi bảo vệ đê điều (kể cả xây dựng trước hay sau ngày ban hành Điều lệ bảo vệ đê điều 21-11-1963) đều phải được thống kê, phân loại và xử lý theo các nguyên tắc sau:
- Nhóm gây mất ổn định nghiêm trọng: Bắt buộc phải phá dỡ triệt để, di dời và tiến hành gia cố, tu bổ lại đê điều tại khu vực đó. Các trường hợp này phải được xử lý ngay lập tức để bảo đảm an toàn trong mùa mưa lũ.
- Nhóm ảnh hưởng chưa nghiêm trọng: Thực hiện di dời từng bước hoặc áp dụng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế tối đa mức độ ảnh hưởng đến an toàn đê.
- Nhóm ít ảnh hưởng: Tạm thời cho phép tiếp tục sử dụng nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ đê điều.
- Chính sách hỗ trợ di dời: Các công trình xây dựng trước năm 1963 được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí di dời và ưu tiên cấp đất ở mới ngoài phạm vi bảo vệ đê. Các công trình xây dựng sau năm 1963 chỉ được xem xét bố trí mặt bằng tái định cư; riêng các hộ gia đình chính sách sẽ được chính quyền địa phương hỗ trợ thêm điều kiện di dời.
- Trách nhiệm thực hiện: Bộ Thủy lợi phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định mức độ ảnh hưởng của các công trình và nghiên cứu trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành chính sách hỗ trợ cụ thể.
Phương án phân lũ và khắc phục hậu quả thiên tai
- Bộ Thủy lợi chủ trì xây dựng phương án vận hành các công trình phân lũ liên tỉnh. Ban chỉ đạo phòng chống lụt, bão trung ương đề xuất lệnh phân lũ khi hệ thống đê bị uy hiếp nghiêm trọng để trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt và tổ chức thực hiện.
- Việc khắc phục hậu quả ngập lụt do phân lũ được thực hiện theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", lấy chủ động phòng tránh làm trọng tâm. Nhà nước hỗ trợ kinh phí để nhân dân vùng phân lũ nhanh chóng ổn định đời sống, khôi phục sản xuất, đồng thời vận động các địa phương khác tương trợ, giúp đỡ.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 429-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ. Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 429-HĐBT | Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 1990 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 429-HĐBT NGÀY 15-12-1990 QUY ĐỊNH VIỆC THI HÀNH PHÁP LỆNH VỀ ĐÊ ĐIỀU
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Pháp lệnh về đê điều ngày 9 tháng 11 năm 1989;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi,
NGHỊ ĐỊNH:
Giao Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi chịu trách nhiệm:
Phê duyệt quy hoạch các loại đê, kè, cống và các công trình khác theo điều 1, điều 2 và điều 5 của Pháp lệnh về đê điều; riêng những vùng Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi xét thấy đặc biệt quan trọng thì trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt.
Quản lý thống nhất về tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế và thi công, quy trình bảo vệ và sử dụng các loại đê điều.
Căn cứ tầm quan trọng về dân sinh kinh tế, chính trị, xã hội của vùng được đê bảo vệ, mức độ thiệt hại và tác hại đến môi trường sinh thái khi đê bị vỡ, và căn cứ vào phạm vi vùng đê bảo vệ, độ sâu ngập nước nếu vỡ đê, đê được chia làm 5 cấp như sau:
| Cấp | Vùng bảo vệ | Độ sâu ngập |
| Đặc biệt | Nội thành HN và vùng lân cân | Trên 2m |
| I | 2 tỉnh trở lên | Trên 2m |
| II | 1 tỉnh | 1m5 - 2m |
| III | 2 huyện trở lên | 1m - 1m5 |
| IV | 1 huyện | dưới 1m |
Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên đây, Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi duyệt cấp đê cho từng đê sông, đê biển.
2. Phạm vi bảo vệ đê:
Phạm vi bảo vệ đê điều gồm thân đê, kè, cống và vùng phụ cận.
Vùng phụ cận quy định cụ thể như sau:
a/ Đối với đê sông: kể từ chân đê trở ra 20m về phía sông, 25m về phía đồng.
b/ Đối với đê biển: kể từ chân đê trở ra 100m về phía biển, 20m về phía đồng.
c/ Đối với kè: kể từ đầu kè trở ngược, cuối kè trở xuôi dọc theo bờ sông, bờ biển mỗi phía 100m, từ đỉnh kè lát mái, góc kè mỏ hàn trở vào bờ 50m và từ chân kè trở ra 20m.
d/ Đối với cống: kể từ giới hạn phần xây đúc cuối cùng trở ra mỗi phía 50m, riêng đối với cống vùng triều là 80m.
Đối với đê bối và các tuyến đê không thường xuyên trực tiếp chịu tác động của nước sông, nước biển như đê bao thành phố, thị xã, khu công nghiệp, đê biển tuyến trong thì Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương quy định cụ thể nhưng phải được Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi chấp thuận.
Trường hợp đặc biệt cần phải thay đổi phạm vi bảo vệ đê, kè, cống đã quy định tại các mục a,b,c,d của điều 2 này cho phù hợp với tình hình thực tế thì Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương báo cáo Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi xem xét và tiếp trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt, sau đó phải thông báo cho nhân dân địa phương và các cơ quan hữu quan biết.
Hàng năm, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước lập kế hoạch điều hoà quỹ ngày công lao động công ích cho việc xây dựng tu bổ đê điều trong cả nước, trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định.
Phương thức điều hoà công lao động nghĩa vụ bằng lao động trực tiếp hoặc đóng góp bằng tiền thực hiện theo Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích.
Việc đầu tư cho xây dựng, tu bổ đê, kè, cống đối với các cấp đê quy định như sau:
Đê từ cấp III đến cấp đặc biệt do ngân sách trung ương đầu tư. Đê dưới cấp III do ngân sách địa phương đầu tư. Đê chuyên dùng của ngành nào, cơ sở nào do chủ công trình ấy đầu tư.
Hàng năm, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm ghi chỉ tiêu khối lượng chủ yếu và kinh phi tương ứng cho việc xây dựng, tu bổ đê điều thuộc ngân sách trung ương đầu tư thành một hạng mục riêng và giao cho Bộ Thuỷ lợi quản lý, phân bổ cho từng tuyến đê của các tỉnh, thành phố có đê.
Mức đầu tư cho các đê dưới cấp III do Hội đồng Nhân dân tỉnh, hoặc đơn vị hành chính tương đương quyết định. Trường hợp đặc biệt đối với địa phương có nhiều khó khăn, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương báo cáo Bộ Thuỷ lợi, Bộ Tài chính và Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước xem xét trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định.
Các ngành Tài chính, Ngân hàng, Thương nghiệp, Xây dựng... có trách nhiệm ưu tiên cấp kinh phí kịp thời và bán đủ vật tư theo kế hoạch hàng năm để bảo đảm hoàn thành cơ bản việc tu bổ đê điều vào 6 tháng đầu năm.
Bộ Thuỷ lợi chủ trì, phối hợp với các ngành hữu quan nghiên cứu xây dựng chính sách, cơ chế thích hợp trình Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt nhằm khuyến khích tổ chức, cá nhân tự nguyện đóng góp sức lao động, tiền của, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ đê điều.
a/ Bộ Thuỷ lợi duyệt cấp giấy cho phép các hoạt động và xây dựng có liên quan tới an toàn đối với đê từ cấp III đến cấp đặc biệt và việc thoát lũ của lòng sông có ảnh hưởng từ 2 tỉnh trở lên.
b/ Uỷ ban Nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương duyệt, cấp giấy cho phép các hoạt động và xây dựng có liên quan tới an toàn đối với đê dưới cấp III và việc thoát lũ của lòng sông chỉ ảnh hưởng tới địa phương mình.
2. Ngoài phạm vi bảo vệ đê điều đã ghi ở
Các hoạt động giao thông liên quan tới an toàn của đê điều ghi ở điều 16, quy định như sau:
1. Ngành giao thông và chủ các phương tiện giao thông được phép kết hợp sử dụng mặt đê, cơ đê vào mục đích giao thông đường bộ và sử dụng sông ngòi và vùng biển ven đê vào mục đích giao thông thuỷ nhưng không được gây mất an toàn cho đê điều hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thoát lũ của sông.
2. Bảo đảm an toàn cho đê điều phải được ưu tiên hàng đầu trong việc xét giải quyết các mối quan hệ giữa đê điều, thoát lũ với các hoạt động giao thông thuỷ, bộ.
Bộ Thuỷ lợi và Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành.
1. Toàn bộ nhà cửa và các công trình khác hiện có trong phạm vi bảo vệ đê điều dù xây dựng trước hoặc sau ngày ban hành điều lệ bảo vệ đê điều 21-11-1963 đều phải được xem xét, xử lý.
2. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng đến an toàn của đê điều để định ra biện pháp xử lý thích hợp. Việc xử lý nhà cửa và các công trình khác chia thành 3 loại:
- Loại gây mất ổn định nghiêm trọng cho đê điều thì nhất thiết phải phá bỏ và phải gia cố, tu bổ lại đê điều.
- Loại có ảnh hưởng tới an toàn của đê điều nhưng chưa nghiêm trọng thì di chuyển dần hoặc có biện pháp hạn chế sự ảnh hưởng đến an toàn của đê điều.
- Loại ít ảnh hưởng đến an toàn của đê điều có thể tiếp tục cho sử dụng nhưng phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt trong việc bảo vệ đê điều.
3. Về chính sách hỗ trợ:
- Loại nhà cửa và công trình xây dựng từ trước khi ban hành Điều lệ bảo vệ đê điều năm 1963 được Nhà nước xét hỗ trợ một phần kinh phí cho việc di chuyển và được chính quyền địa phương ưu tiên bố trí đất ở hoặc mặt bằng xây dựng ở khu vực ngoài phạm vi bảo vệ đê điều.
- Loại nhà cửa và công trình đã xây dựng từ khi đã có Điều lệ bảo vệ đê điều chỉ được xem xét bố trí mặt bằng nơi sẽ di chuyển đến. Riêng các gia đình thuộc đối tượng chính sách, chính quyền địa phương cần có sự hỗ trợ để các gia đình này có điều kiện di chuyển đi nơi khác.
4. Việc thống kê, phân loại, xử lý đối với nhà cửa và các công trình khác xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê điều phải được tiến hành nghiêm túc, chu đáo, từng bước vững chắc. Riêng các trường hợp ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của đê điều nhất thiết phải xử lý ngay.
2. Việc giải quyết hậu quả đối với vùng bị ngập lụt do việc phân lũ gây ra theo nguyên tắc sau:
- Phòng tránh và khắc phục hậu quả do việc phân lũ gây ra phải do Nhà nước và nhân dân cùng làm.
- Phải lấy việc phòng tránh là chính. Phòng, tránh rồi mà vẫn bị thiệt hại thì Nhà nước xem xét, hỗ trợ để nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân và phục hồi sản xuất.
- Động viên nhân dân các địa phương khác hỗ trợ thêm cho nhân dân vùng bị ngập lụt do việc phân lũ gây ra.
Bộ Thuỷ lợi phối hợp với các ngành và địa phương liên quan xây dựng, trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định chính sách cụ thể.
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
- 1 Luật Đê điều 2006
- 2 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 3 Pháp lệnh Đê điều năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 4 Chỉ thị 03/NN-PCLB-CT về việc tập trung chỉ đạo hoàn thành sớm kế hoạch tu bổ đê điều, quản lý chặt các tuyến đê và chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng hộ đê, phòng lụt năm 1997 do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành