Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Pháp lệnh Đê điều năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất về quản lý, xây dựng, tu bổ, bảo vệ và hộ đê trên phạm vi cả nước, góp phần chủ động phòng, chống thiên tai, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân.

Phạm vi và đối tượng áp dụng: Pháp lệnh áp dụng đối với tất cả các loại đê điều ngăn nước lũ, nước biển, các công trình phụ trợ (cống, kè) và mọi cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân cùng mọi cá nhân có nghĩa vụ tham gia xây dựng, bảo vệ đê điều trên lãnh thổ Việt Nam.

Khái niệm và phân loại đê điều

  • Định nghĩa đê điều: Bao gồm các loại đê ngăn nước lũ, nước biển hiện có hoặc xây dựng mới theo quy hoạch được phê duyệt; các cống và công trình xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê liên quan đến an toàn đê; các loại kè được xây dựng để bảo vệ đê.
  • Thống nhất quản lý: Nhà nước thực hiện quản lý thống nhất đối với toàn bộ hệ thống đê điều, không phân biệt nguồn vốn xây dựng.
  • Phân cấp đê: Đê được phân thành các cấp khác nhau dựa trên tính chất và tầm quan trọng của từng tuyến đê. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định tiêu chuẩn cấp đê và phạm vi bảo vệ đê điều cụ thể.

Quy hoạch, xây dựng và tu bổ đê điều

  • Nguyên tắc xây dựng: Việc xây dựng mới hoặc tu bổ đê, kè, cống phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch chung về ngăn nước lũ, nước biển đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, đồng thời bảo đảm đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định.
  • Huy động lao động: Ưu tiên sử dụng lao động công ích theo quy định của pháp luật để xây dựng, tu bổ đê điều trước mùa lũ, bão. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Hội đồng Bộ trưởng có trách nhiệm cân đối, điều hòa quỹ ngày công lao động công ích hàng năm cho công tác này.
  • Nguồn kinh phí: Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách cho việc xây dựng, tu bổ đê điều. Đồng thời, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tự nguyện đóng góp lao động, tiền của và tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào công tác này.

Các hành vi bị nghiêm cấm để bảo vệ an toàn đê điều

  • Nghiêm cấm tự ý kích, chèn, đóng, mở cửa cống trái phép; cuốc, rẫy cỏ; chất đống rơm rạ, củi rác trên đê hoặc gây trở ngại cho việc kiểm tra đê và hộ đê.
  • Nghiêm cấm khoan, đào, bới, lấy đất, đá, khai thác tài nguyên khoáng sản, vật liệu xây dựng và nạo vét luồng lạch trong phạm vi bảo vệ đê điều.
  • Nghiêm cấm xây dựng mới hoặc mở rộng các công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều, cũng như các công trình ở lòng sông gây mất an toàn cho đê hoặc cản trở dòng thoát lũ.
  • Nghiêm cấm sử dụng chất nổ phá gây nguy hại đến an toàn của đê điều.
  • Nghiêm cấm sử dụng đê, kè, cống làm nơi neo đậu tàu thuyền, bè mảng; bốc dỡ, chất tải hàng hóa, vật liệu trái phép.
  • Nghiêm cấm xe cơ giới đi trên những đoạn đê không kết hợp làm đường giao thông, trừ các loại xe ưu tiên làm nhiệm vụ khẩn cấp (xe hộ đê, cứu thương, cứu hỏa, xe quân sự, công an) nhưng không được vượt quá tải trọng cho phép của đê và cống dưới đê.

Quy định về sử dụng đất và các hoạt động trong phạm vi bảo vệ đê

  • Cấp phép hoạt động đặc thù: Các hoạt động khai thác, xây dựng hoặc di chuyển phương tiện bị hạn chế chỉ được thực hiện khi có giấy phép của Bộ Thủy lợi hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
  • Sử dụng đất hành lang đê: Mặt đê, mái đê và cơ đê chỉ được trồng cỏ chống xói mòn. Đất trong phạm vi bảo vệ đê chỉ được dùng để trồng cây chống sóng, lúa và cây ngắn ngày. Việc khai thác cây chống sóng phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
  • Công trình ngoài phạm vi bảo vệ: Việc xây dựng các công trình nằm ngoài phạm vi bảo vệ nhưng có ảnh hưởng đến an toàn đê điều phải có sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Thủy lợi.
  • Di tích lịch sử và công trình tồn tại từ trước: Việc bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trong phạm vi bảo vệ đê phải kết hợp hài hòa với an toàn đê điều. Hội đồng Bộ trưởng quy định việc xử lý đối với nhà cửa, công trình đã xây dựng trước ngày ban hành Pháp lệnh nằm trong phạm vi bảo vệ đê và thoát lũ.
  • Quản lý biển báo và giấy phép: Bộ Thủy lợi quy định thống nhất mẫu các loại biển báo về đê điều; quản lý và phát hành giấy phép sử dụng đê điều trong phạm vi cả nước.

Công tác hộ đê, phân lũ và cứu hộ khẩn cấp

  • Tính thường xuyên của công tác hộ đê: Công tác hộ đê phải được tiến hành thường xuyên trong mùa lũ, bão. Việc cứu hộ các công trình bảo vệ đê, cống, đập của hồ chứa nước lớn có nguy cơ gây lũ lụt đều được coi là cứu hộ đê.
  • Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp: UBND các cấp chịu trách nhiệm tổ chức, thực hiện hộ đê tại địa phương và hỗ trợ địa phương khác khi có lệnh. Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện, xã có nhiệm vụ cụ thể từ lập phương án, chỉ đạo, điều hành đến trực tiếp tổ chức thực hiện tại địa bàn.
  • Biện pháp phân lũ: Phân lũ là biện pháp đặc biệt để hộ đê. Việc phân lũ ảnh hưởng từ hai tỉnh trở lên do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định. Phân lũ trong nội tỉnh do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định. Hội đồng Bộ trưởng quy định chính sách hỗ trợ vùng bị ngập lụt do phân lũ.
  • Quyền hạn trong trường hợp khẩn cấp: Trong tình huống khẩn cấp, Chủ tịch UBND các cấp có quyền huy động nhân lực, trưng dụng vật tư, phương tiện, tài sản để cứu hộ đê và quyết định di dời dân cư để bảo đảm an toàn tính mạng.

Hệ thống quản lý nhà nước và lực lượng chuyên trách

  • Hội đồng Bộ trưởng: Thực hiện quản lý nhà nước thống nhất đối với hệ thống đê điều cả nước, quyết định quy hoạch, tiêu chuẩn cấp đê, mức đầu tư và ban hành các chính sách liên quan.
  • Bộ Thủy lợi: Chịu trách nhiệm quản lý kỹ thuật, lập và thực hiện quy hoạch đê điều, quy hoạch phân lũ; kiểm tra, hướng dẫn thực hiện các quy định kỹ thuật.
  • Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão: Ban chỉ đạo Trung ương (do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lập) và Ban chỉ huy các cấp ở địa phương, các ngành có nhiệm vụ tổ chức, kiểm tra, thực hiện phương án phòng chống lụt bão, hộ đê và khắc phục hậu quả thiên tai.
  • Lực lượng chuyên trách quản lý đê: Thuộc biên chế nhà nước, do UBND cấp tỉnh quản lý và sử dụng nhằm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về bảo vệ và quản lý đê điều theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.

Khen thưởng, xử lý vi phạm và hiệu lực thi hành

  • Khen thưởng: Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong xây dựng, tu bổ, bảo vệ và hộ đê được khen thưởng về vật chất và tinh thần.
  • Xử lý vi phạm: Mọi hành vi phá hoại, tự ý sử dụng đê điều trái phép hoặc vi phạm các quy định của Pháp lệnh sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.
  • Hiệu lực thi hành: Pháp lệnh Đê điều năm 1989 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.

HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 26-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 1989

 

PHÁP LỆNH

VỀ ĐÊ ĐIỀU CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC SỐ 26-LCT/HĐNN8 NGÀY 09/11/1989

Đê điều là công trình quan trọng được nhân dân ta xây dựng, giữ gìn, tu bổ qua nhiều thế hệ nhằm ngăn nước lũ, nước biển, bảo vệ tính mạng của nhân dân, bảo vệ sản xuất, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể và của cá nhân.
Để nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân trong việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ, sử dụng và hộ đê;
Căn cứ vào Điều 19 và Điều 100 của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định chế độ quản lý và sử dụng đê điều.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

"Đê điều" nói trong Pháp lệnh này bao gồm:

1- Các loại đê ngăn nước lũ, nước biển hiện có hoặc xây dựng mới được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch;

2- Cống và các công trình xây dựng trong phạm vi bảo vệ đê có liên quan đến an toàn của đê;

3- Các loại kè được xây dựng nhằm mục đích bảo vệ đê.

Điều 2

Nhà nước thống nhất quản lý các loại đề điều được xây dựng bằng bất cứ nguồn vốn nào.

Điều 3

Đê được phân thành các cấp khác nhau tuỳ theo tính chất và tầm quan trọng của từng tuyến đê.

Hội đồng bộ trưởng quy định tiêu chuẩn cấp đê; phạm vi bảo vệ đê điều.

Điều 4

Chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân (gọi chung là tổ chức) và cá nhân có nghĩa vụ xây dựng, tu bổ, bảo vệ và hộ đê.

Nghiêm cấm mọi hành vi phá hoại, gây tổn hại cho đê điều.

Chương 2:

XÂY DỰNG VÀ TU BỔ ĐÊ ĐIỀU

Điều 5

Việc xây dựng mới hoặc tu bổ đê, kè, cống phải theo quy hoạch chung về ngăn nước lũ, nước biển được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải theo đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo vệ đê điều.

Điều 6

Việc xây dựng, tu bổ đê điều trước mùa lũ, bão được ưu tiên sử dụng lao động công ích theo quy định của Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích.

Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương cân đối, điều hoà quỹ ngày công lao động công ích hằng năm cho việc xây dựng, tu bổ đê điều trong địa phương mình.

Hội đồng bộ trưởng điều hoà quỹ ngày công lao động công ích hằng năm cho việc xây dựng, tu bổ đê điều trong cả nước.

Điều 7

Kinh phí xây dựng, tu bổ đê điều được Nhà nước ưu tiên đầu tư.

Hội đồng bộ trưởng quy định mức đầu tư xây dựng, tu bổ đê điều cho các cấp đê khác nhau.

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp lao động, tiền của, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào việc xây dựng, tu bổ đê điều.

Chương 3:

BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG ĐÊ ĐIỀU

Điều 8

Các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ bảo vệ đê điều.

Người nào phát hiện hành vi gây tổn hại hoặc đe doạ đến an toàn của đê điều, những hư hại đê điều do thiên tai gây ra phải kịp thời ngăn chặn và báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc nhân viên quản lý đê.

Điều 9

Cấm kích, chèn, đóng, mở cửa cống trái phép; cuốc, rãy cỏ; chất đống rơm rạ, củi rác ở đê và mọi hành vi khác làm tổn hại đến an toàn của đê điều hoặc gây trở ngại cho việc kiểm tra đê điều và hộ đê.

Điều 10

Cấm khoan, đào, bới, lấy đất, đá, khai thác tài nguyên khoáng sản, vật liệu xây dựng và nạo vét luồng lạch trong phạm vi bảo vệ đê điều.

Điều 11

Cấm xây dựng mới, mở rộng các loại công trình trong phạm vi bảo vệ đê điều và các công trình khác ở lòng sông gây mất an toàn cho đê điều hoặc ảnh hưởng đến việc thoát lũ nhanh.

Điều 12

Cấm nổ phá gây nguy hại đến an toàn của đê điều.

Điều 13

Cấm sử dụng đê, kè, cống làm nơi neo đậu tàu thuyền, bè mảng; bốc dỡ, chất tải hàng hoá, vật liệu; các hoạt động giao thông gây mất an toàn cho đê điều.

Điều 14

Cấm xe cơ giới đi trên những đoạn đê không kết hợp làm đường giao thông, trừ xe hộ đê, xe cứu thương, xe cứu hoả làm nhiệm vụ và xe quân sự, xe công an có lệnh khẩn cấp; những xe này không được vượt quá tải trọng cho phép của đê và cống dưới đê.

Điều 15

Trong trường hợp cần tiến hành một hoặc những công việc quy định tại các Điều 10, 11, 12, 13, 14 của Pháp lệnh này thì phải được phép của Bộ thuỷ lợi hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Điều 16

Các hoạt động giao thông, khai thác rừng đầu nguồn có liên quan đến an toàn của đê diều và thoát lũ của lòng sông do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Trách nhiệm bảo dưỡng, sửa chữa mặt đê kết hợp làm đường giao thông do cơ quan quản lý đoạn đường đó đảm nhiệm và phải theo tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ đê điều.

Điều 17

Mặt đê, mái đê và cơ đê chỉ được trồng cỏ chống xói mòn.

Đất trong phạm vi bảo vệ đê chỉ được sử dụng trồng cây chống sóng, lúa và cây ngắn ngày.

Việc khai thác cây chống sóng phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Điều 18

Việc xây dựng, sử dụng các công trình không thuộc phạm vi bảo vệ đê điều, nhưng có liên quan tới an toàn của đê điều, phải được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi; trong trường hợp không có sự đồng ý thì chủ công trình xây dựng có quyền kiến nghị lên Hội đồng bộ trưởng.

Điều 19

Việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh trong phạm vi bảo vệ đê điều thực hiện theo quy định của Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh, đồng thời phải phù hợp với những quy định của Pháp lệnh này trong việc bảo đảm an toàn cho đê điều.

Hội đồng bộ trưởng quy định việc xử lý đối với nhà cửa và các công trình khác đã xây dựng trước ngày ban hành Pháp lệnh này trong phạm vi bảo vệ đê điều và thoát lũ của lòng sông.

Điều 20

Bộ Thuỷ lợi quy định thống nhất mẫu các loại biển báo về đê điều; quản lý và phát hành giấy phép sử dụng đê điều trong phạm vi cả nước.

Chương 4:

HỘ ĐÊ

Điều 21

Hộ đê phải được tiến hành thường xuyên trong mùa lũ, bão và phải cứu hộ kịp thời khi đê điều bị lũ, bão uy hiếp hoặc có nguy cơ bị uy hiếp.

Việc cứu hộ các công trình bảo vệ đê điều, công trình liên quan đến an toàn của đê, cống, đập của các hồ chứa nước lớn có nguy cơ gây lũ, lụt đều được coi như cứu hộ đê.

Điều 22

Uỷ ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ tổ chức, thực hiện việc hộ đê thuộc địa phương mình và chịu trách nhiệm về việc bảo đảm an toàn của đê theo tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ đê điều; tổ chức thực hiện lệnh cứu hộ đê cho địa phương khác.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các phương án hộ đê trong địa phương mình.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện và đơn vị hành chính tương đương có trách nhiệm lập và thực hiện các phương án hộ đê phù hợp với nhiệm vụ và hiện trạng đê điều trong địa phương mình.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã và đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ tổ chức thực hiện phương án hộ đê trong địa phương mình.

Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có công trình chuyên dùng nói tại khoản 2, Điều 21 của Pháp lệnh này có trách nhiệm lập và thực hiện phương án cứu hộ công trình do mình quản lý.

Điều 23

Phân lũ là biện pháp đặc biệt để hộ đê. Hội đồng bộ trưởng quy định chính sách đối vùng bị ngập lụt do phân lũ gây ra.

Việc phân lũ có ảnh hưởng tới 2 tỉnh trở lên do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quyết định.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương quyết định việc phân lũ trong phạm vi địa phương mình.

Điều 24

Trong trường hợp khẩn cấp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có quyền huy động nhân lực, trưng dụng vật tư, phương tiện, dụng cụ và các tài sản khác để cứu hộ đê điều theo quy định của Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích; quyết định việc di chuyển dân để bảo đảm an toàn.

Chương 5:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÊ ĐIỀU

Điều 25

Hội đồng bộ trưởng thực hiện quyền quản lý Nhà nước đối với hệ thống đê điều trong cả nước; xác định phương hướng quy hoạch phát triển đê diều; quy định tiêu chuẩn cấp đê; quyết định mức đầu tư cho đê điều; ban hành các chế độ chính sách về đê điều; kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng đê điều và hộ đê của các cấp, các ngành.

Điều 26

Bộ Thuỷ lợi có nhiệm vụ quản lý việc lập và thực hiện quy hoạch đê điều; quy hoạch phân lũ; quản lý kỹ thuật đê điều; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các cấp, các ngành trong việc thực hiện các chế độ chính sách, các quy định kỹ thuật về bảo vệ đê điều.

Điều 27

Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão trung ương do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng lập ra, có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác phòng, chống lụt, bão, chỉ đạo xử lý các tình huống và hậu quả do lũ, bão gây ra trong cả nước.

Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp ở địa phương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp lập ra, có nhiệm vụ tổ chức, kiểm tra, thực hiện các phương án phòng chống lụt, bão, chỉ đạo công tác hộ đê và xử lý các hậu quả do lũ, bão gây ra trong địa phương mình.

Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão của ngành do Thủ trưởng ngành lập ra, có nhiệm vụ thực hiện việc phòng chống lụt, bão của ngành.

Điều 28

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và đơn vị hành chính tương đương chịu trách nhiệm trong việc bảo đảm an toàn cho đê điều trong địa phương mình theo tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ đê điều; lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch xây dựng và tu bổ đê điều; quản lý đê điều và hộ đê trong địa phương mình.

Điều 29

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, phường, xã, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu bổ, quản lý và hộ đê trong địa phương mình.

Điều 30

Lực lượng chuyên trách quản lý đê thuộc biên chế Nhà nước, do Uỷ ban nhân dân tỉnh, đơn vị hành chính tương đương quản lý sử dụng.

Hội đồng bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng chuyên trách quản lý đê.

Chương 6:

KHEN THƯỞNG, XỬ PHẠT

Điều 31

Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc xây dựng, tu bổ, bảo vệ và hộ đê được khen thưởng về tinh thần và vật chất theo quy định chung.

Điều 32

Người nào phá hoại đê điều, khoan, đào, xẻ, sử dụng đê điều trái phép hoặc vi phạm các quy định khác của Pháp lệnh này thì tuỳ theo mức độ và tính chất của hành vi mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Chương 7:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 33

Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.

Điều 34

Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.

 

 

Võ Chí Công

(Đã ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Pháp lệnh Đê điều năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành

Số hiệu: 26-LCT/HĐNN8
Loại văn bản: Pháp lệnh
Ngày ban hành: 09/11/1989
Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
Người ký: Võ Chí Công
Ngày công báo: 30/11/1989
Số công báo: Số 22
Ngày hiệu lực: 16/11/1989
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Pháp lệnh Đê điều năm 1989 do Hội đồng Nhà nư...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký