Nghị định số 44/2003/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động, thiết lập hành lang pháp lý rõ ràng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả người lao động và người sử dụng lao động.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng bắt buộc đối với các tổ chức, cá nhân khi sử dụng lao động phải thực hiện giao kết hợp đồng lao động, bao gồm:
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Doanh nghiệp thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
- Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sử dụng lao động không phải là công chức, viên chức nhà nước.
- Các tổ chức kinh tế thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân sử dụng lao động không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ.
- Hợp tác xã (đối với người lao động không phải là xã viên), hộ gia đình và cá nhân có sử dụng lao động.
- Các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao ngoài công lập được thành lập theo chính sách khuyến khích xã hội hóa.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc quốc tế đóng trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế có quy định khác.
- Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam sử dụng lao động nước ngoài, trừ trường hợp Điều ước quốc tế có quy định khác.
Các trường hợp ngoại lệ không áp dụng hợp đồng lao động bao gồm: cán bộ, công chức theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức; đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách; người giữ chức vụ chủ chốt do bầu cử hoặc bổ nhiệm trong doanh nghiệp nhà nước (Tổng Giám đốc, Giám đốc, Kế toán trưởng...); thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp; cán bộ chuyên trách đảng, công đoàn trong doanh nghiệp không hưởng lương của doanh nghiệp; xã viên hợp tác xã không hưởng tiền lương; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp trong lực lượng vũ trang.
Hình thức và các loại hợp đồng lao động
- Hình thức giao kết: Hợp đồng lao động phải được ký kết bằng văn bản theo mẫu quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Đối với trường hợp giao kết bằng miệng, hai bên có thể thỏa thuận về người chứng kiến và phải bảo đảm đầy đủ các nội dung cơ bản theo quy định của pháp luật.
- Phân loại hợp đồng lao động:
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn: Áp dụng cho những công việc không xác định được thời điểm kết thúc hoặc công việc có thời hạn trên 36 tháng.
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn: Áp dụng cho những công việc xác định được thời điểm kết thúc trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng.
- Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định dưới 12 tháng: Áp dụng cho công việc có thể hoàn thành dưới 12 tháng, hoặc để tạm thời thay thế người lao động bị kỷ luật, tạm hoãn thực hiện hợp đồng, nghỉ việc vì lý do khác, hoặc ký với người đã nghỉ hưu.
- Quy định khi hợp đồng hết hạn: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày hợp đồng xác định thời hạn hoặc hợp đồng mùa vụ hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới. Nếu quá 30 ngày không ký hợp đồng mới, hợp đồng đã giao kết đương nhiên trở thành hợp đồng không xác định thời hạn. Trường hợp ký hợp đồng mới là hợp đồng xác định thời hạn thì chỉ được ký thêm một lần với thời hạn không quá 36 tháng, sau đó nếu người lao động tiếp tục làm việc thì phải ký hợp đồng không xác định thời hạn.
Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động
- Ủy quyền giao kết và giao kết nhiều hợp đồng: Hợp đồng có thể được ký trực tiếp hoặc thông qua người được ủy quyền hợp pháp đại diện cho nhóm người lao động (chỉ áp dụng cho công việc mùa vụ hoặc xác định thời hạn dưới 36 tháng). Người lao động được quyền giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động nếu có khả năng thực hiện và bảo đảm thời giờ làm việc, nghỉ ngơi. Đối với người lao động dưới 15 tuổi, việc giao kết phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp.
- Phương án sử dụng lao động khi thay đổi cơ cấu doanh nghiệp: Khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản mà không sử dụng hết số lao động hiện có, doanh nghiệp phải lập phương án sử dụng lao động. Phương án phải nêu rõ số lượng lao động tiếp tục sử dụng, đào tạo lại, nghỉ hưu, chấm dứt hợp đồng và trách nhiệm chi trả quyền lợi. Quá trình xây dựng phương án phải có sự tham gia của Công đoàn cơ sở và thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.
- Chế độ thử việc: Thời gian thử việc tối đa là 60 ngày đối với công việc yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; không quá 30 ngày đối với trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; và không quá 6 ngày đối với các lao động khác. Hết thời gian thử việc, nếu đạt yêu cầu hoặc người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà không nhận được thông báo kết quả thì đương nhiên được làm việc chính thức.
- Hiệu lực và thay đổi nội dung hợp đồng: Ngày có hiệu lực do hai bên thỏa thuận cụ thể. Khi muốn thay đổi nội dung hợp đồng, bên yêu cầu phải báo trước ít nhất 3 ngày. Nếu không thỏa thuận được, hai bên tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.
- Tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề: Người sử dụng lao động được quyền chuyển người lao động làm việc khác trái nghề do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, sự cố hoặc nhu cầu sản xuất kinh doanh nhưng không quá 60 ngày cộng dồn trong một năm. Nếu quá 60 ngày phải có sự đồng ý của người lao động; nếu người lao động không đồng ý mà phải ngừng việc thì được hưởng lương ngừng việc theo quy định.
- Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động: Khi hết thời hạn tạm hoãn, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc. Nếu quá 5 ngày làm việc không đến mà không có lý do chính đáng sẽ bị xử lý kỷ luật sa thải. Trường hợp người lao động bị tạm giữ, tạm giam hình sự liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động, nếu được kết luận oan sai thì người sử dụng lao động phải nhận lại làm việc cũ và bồi thường đầy đủ tiền lương, quyền lợi trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Quyền đơn phương chấm dứt của người lao động: Người lao động làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn hoặc mùa vụ được đơn phương chấm dứt trước hạn trong trường hợp bị ngược đãi, cưỡng bức lao động (bị đánh đập, nhục mạ, ép buộc làm việc không phù hợp sức khỏe, nhân phẩm) hoặc bản thân, gia đình có hoàn cảnh thực sự khó khăn (chuyển chỗ ở, định cư nước ngoài, chăm sóc người thân bị ốm đau từ 3 tháng trở lên có xác nhận của chính quyền cấp xã).
- Quyền đơn phương chấm dứt của người sử dụng lao động: Được thực hiện khi người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng (bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất 2 lần trong một tháng mà không khắc phục) hoặc do các lý do bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh, yêu cầu của cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh trở lên dẫn đến thu hẹp sản xuất).
- Bồi thường chi phí đào tạo: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy định của Chính phủ, trừ trường hợp chấm dứt đúng và đủ các căn cứ pháp luật quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động.
Trợ cấp thôi việc và trách nhiệm tài chính khi chấm dứt hợp đồng
- Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc: Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc từ đủ 12 tháng trở lên khi chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp. Người lao động không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu bị sa thải kỷ luật, tự ý bỏ việc, nghỉ hưởng chế độ hưu trí hàng tháng, hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
- Nguồn kinh phí chi trả: Doanh nghiệp hạch toán trực tiếp vào giá thành hoặc phí lưu thông; cơ quan hành chính sự nghiệp do ngân sách nhà nước cấp trong chi thường xuyên; các tổ chức, cá nhân khác tự chi trả.
- Thời gian làm việc để tính trợ cấp: Là tổng thời gian thực tế làm việc theo các bản hợp đồng lao động đã giao kết (bao gồm cả hợp đồng miệng, thời gian thử việc, học nghề, tập nghề, nghỉ hưởng chế độ BHXH, thời gian chờ việc, tạm hoãn hợp đồng do thỏa thuận, thời gian bị xử lý kỷ luật sai...). Về nguyên tắc làm tròn tháng lẻ: từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng được tính bằng 6 tháng làm việc; từ đủ 6 tháng đến 12 tháng được tính bằng 1 năm làm việc.
- Thời hạn thanh toán: Các bên phải thanh toán đầy đủ các khoản quyền lợi trong thời hạn quy định. Đối với các trường hợp đặc biệt (thiên tai, hỏa hoạn, doanh nghiệp chấm dứt hoạt động), thời hạn thanh toán không được kéo dài quá 30 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.
Xử lý hợp đồng vô hiệu và điều khoản chuyển tiếp
- Hợp đồng lao động vô hiệu: Khi một phần hoặc toàn bộ nội dung hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên được giải quyết theo quy định pháp luật hiện hành và thỏa ước lao động tập thể (nếu có) tính từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực.
- Điều khoản chuyển tiếp: Các hợp đồng lao động đã giao kết trước ngày Nghị định này có hiệu lực nếu có nội dung không phù hợp với Bộ luật Lao động sửa đổi thì phải tiến hành sửa đổi, bổ sung trong vòng 6 tháng. Những điều khoản có lợi hơn cho người lao động vẫn được tiếp tục thực hiện. Công nhân, viên chức làm việc thường xuyên trong các doanh nghiệp nhà nước được chuyển sang giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 44/2003/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Nghị định số 198/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 44/2003/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 09 tháng 5 năm 2003 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
NGHỊ ĐỊNH:
1. Tổ chức, cá nhân sau đây khi sử dụng lao động phải thực hiện giao kết hợp đồng lao động:
a) Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
b) Doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
c) Các cơ quan hành chính, sự nghiệp có sử dụng lao động không phải là công chức, viên chức nhà nước;
d) Các tổ chức kinh tế thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân sử dụng lao động không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ;
đ) Hợp tác xã (với người lao động không phải là xã viên), hộ gia đình và cá nhân có sử dụng lao động;
e) Các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao ngoài công lập thành lập theo Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao.
g) Cơ quan, tổ chức, cá nhân, nước ngoài hoặc quốc tế đóng trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác;
h) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam sử dụng lao động nước ngoài, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
2. Các trường hợp không áp dụng hợp đồng lao động quy định tại Điều 4 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:
a) Những người thuộc đối tượng điều chỉnh của Pháp lệnh Cán bộ, công chức;
b) Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chuyên trách, người giữ các chức vụ trong cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp, Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân được Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc cử ra theo nhiệm kỳ;
c) Người được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm giữ chức vụ Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng trong doanh nghiệp nhà nước;
d) Thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp;
đ) Những người thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoạt động theo Quy chế của tổ chức đó;
e) Cán bộ chuyên trách công tác đảng, công đoàn, thanh niên trong các doanh nghiệp nhưng không hưởng lương của doanh nghiệp;
g) Xã viên Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã không hưởng tiền lương, tiền công;
h) Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp và viên chức trong lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân.
HÌNH THỨC, NỘI DUNG, LOẠI HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
1. Hợp đồng lao động ký kết bằng văn bản, theo mẫu quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
2. Hợp đồng lao động ký kết bằng văn bản hoặc giao kết bằng miệng phải bảo đảm nội dung quy định tại Điều 29 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung.
Trong trường hợp giao kết bằng miệng, nếu cần có người chứng kiến thì hai bên thoả thuận.
1. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn áp dụng cho những công việc không xác định được thời điểm kết thúc hoặc những công việc có thời hạn trên 36 tháng;
2. Hợp đồng lao động xác định thời hạn áp dụng cho những công việc xác định được thời điểm kết thúc trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng;
3. Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng áp dụng cho những công việc có thể hoàn thành trong khoảng thời gian dưới 12 tháng hoặc để tạm thời thay thế người lao động bị kỷ luật chuyển làm công việc khác có thời hạn, người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc vì lý do khác và hợp đồng với người đã nghỉ hưu.
4. Khi hợp đồng lao động quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới. Trong thời gian chưa ký được hợp đồng lao động mới, hai bên phải tuân theo hợp đồng lao động đã giao kết. Khi hết thời hạn 30 ngày mà không ký hợp đồng lao động mới, hợp đồng lao động đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trường hợp ký hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn, thì chỉ được ký thêm một thời hạn không quá 36 tháng, sau đó nếu người lao động tiếp tục làm việc thì ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn; nếu không ký thì đương nhiên trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
GIAO KẾT, THAY ĐỔI, TẠM HOÃN, CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
1. Hợp đồng lao động được giao kết trực tiếp giữa người lao động với người sử dụng lao động hoặc có thể được ký kết giữa người sử dụng lao động với người được uỷ quyền hợp pháp thay mặt cho nhóm người lao động. Trường hợp do người uỷ quyền hợp pháp ký kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, tuổi, địa chỉ thường trú, nghề nghiệp và chữ ký của từng người lao động. Hợp đồng này có hiệu lực như ký kết với từng người và chỉ áp dụng trong trường hợp người sử dụng lao động cần lao động để giải quyết một công việc nhất định, theo mùa vụ mà thời hạn kết thúc dưới 12 tháng hoặc công việc xác định được thời gian kết thúc từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
3. Đối với ngành nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật Lao động, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của người đó mới có giá trị.
Trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp mà không sử dụng hết số lao động hiện có thì phải lập phương án sử dụng lao động gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Số lao động tiếp tục được sử dụng;
2. Số lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng;
3. Số lao động nghỉ hưu;
4. Số lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động;
5. Người sử dụng lao động cũ và người sử dụng lao động kế tiếp phải có trách nhiệm giải quyết các quyền lợi của người lao động, trong đó phải xác định rõ trách nhiệm về khoản kinh phí đào tạo, kinh phí trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động.
Khi xây dựng phương án sử dụng lao động phải có sự tham gia của Công đoàn cơ sở và khi thực hiện phải thông báo với cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh về lao động.
1. Thời gian thử việc không được quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên.
2. Thời gian thử việc không được quá 30 ngày đối với chức danh nghề cần trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
3. Thời gian thử việc không được quá 6 ngày đối với những lao động khác.
4. Hết thời gian thử việc, người sử dụng lao động thông báo kết quả làm thử cho người lao động. Nếu đạt yêu cầu hai bên phải tiến hành ký kết hợp đồng lao động hoặc người lao động không được thông báo mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức.
1. Khi ký kết hợp đồng lao động hai bên phải thoả thuận cụ thể ngày có hiệu lực của hợp đồng lao động và ngày bắt đầu làm việc. Trường hợp người lao động đi làm ngay sau khi ký kết hợp đồng lao động, thì ngày có hiệu lực là ngày ký kết. Trường hợp người lao động đã đi làm một thời gian sau đó mới ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động miệng, thì ngày có hiệu lực là ngày người lao động bắt đầu làm việc.
1. Khi người sử dụng lao động gặp khó khăn đột xuất do khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; sự cố điện, nước hoặc nhu cầu của sản xuất - kinh doanh thì người sử dụng lao động có quyền tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề, nhưng không được quá 60 ngày (cộng dồn) trong một năm. Trong thời gian này, nếu người lao động không chấp hành quyết định của người sử dụng lao động thì có thể bị xử lý kỷ luật lao động và không được hưởng lương ngừng việc theo quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ luật Lao động và tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 84 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung.
2. Trong trường hợp người sử dụng lao động tạm thời chuyển người lao động làm việc khác trái nghề quá 60 ngày (cộng dồn) trong một năm thì phải có sự thoả thuận của người lao động; nếu người lao động không chấp thuận mà họ phải ngừng việc thì người đó được hưởng lương theo quy định tại khoản 1 Điều 62 của Bộ luật Lao động.
Trường hợp người lao động đã quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn tạm hoãn hợp đồng lao động không đến địa điểm làm việc mà không có lý do chính đáng thì bị xử lý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 85 Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung.
2. Người lao động bị tạm giữ, tạm giam hình sự khi hết hạn tạm hoãn hợp đồng lao động được giải quyết như sau:
a) Việc tạm giữ, tạm giam hình sự có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động thì khi hết hạn tạm giữ, tạm giam hoặc khi Toà án kết luận là người lao động bị oan thì người sử dụng lao động phải nhận họ trở lại làm việc cũ, trả đủ tiền lương và các quyền lợi khác trong thời gian người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương.
Trường hợp người lao động là người phạm pháp, nhưng Toà án xét xử cho miễn tố, không bị tù giam hoặc không bị toà án cấm làm công việc cũ, thì tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm, người sử dụng lao động bố trí cho người đó làm việc cũ hoặc sắp xếp công việc mới.
b) Trong trường hợp người lao động bị tạm giữ, tạm giam hình sự không liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động, thì khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam người sử dụng lao động bố trí cho người lao động làm việc cũ hoặc sắp xếp công việc mới.
1. Bị ngược đãi, bị cưỡng bức lao động là trường hợp người lao động bị đánh đập, nhục mạ hoặc bị ép buộc làm những công việc không phù hợp với giới tính, ảnh hưởng đến sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người lao động.
2. Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với những lý do sau đây:
a) Chuyển chỗ ở thường trú đến nơi khác, đi lại làm việc gặp nhiều khó khăn;
b) Được phép ra nước ngoài định cư;
c) Bản thân phải nghỉ việc để chăm sóc vợ (chồng); bố, mẹ, kể cả bố, mẹ vợ (chồng) hoặc con bị ốm đau từ 3 tháng trở lên;
d) Gia đình có hoàn cảnh khó khăn khác được chính quyền cấp xã nơi cư trú xác nhận không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động.
1. Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động là không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao do yếu tố chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất hai lần trong một tháng, mà sau đó vẫn không khắc phục.
Mức độ không hoàn thành công việc được ghi trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động của đơn vị.
2. Lý do bất khả kháng khác là trường hợp do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ cấp tỉnh trở lên, do địch hoạ, do dịch bệnh không thể khắc phục được dẫn tới việc phải thay đổi, thu hẹp sản xuất kinh doanh.
Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải bồi thường chi phí đào tạo theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề, trừ trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà thực hiện đúng và đủ các quy định tại Điều 37 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung.
Trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 85 và nghỉ hưởng chế độ hưu trí hàng tháng quy định tại Điều 145 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung người lao động không được trợ cấp thôi việc.
Trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động và Điều 31 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung thì người lao động không hưởng trợ cấp thôi việc quy định tại khoản 1 Điều 42, mà được hưởng trợ cấp mất việc làm quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động.
2. Nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc:
a) Đối với doanh nghiệp, nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc hạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông;
b) Đối với cơ quan hành chính, sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động, nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc do ngân sách nhà nước cấp trong chi thường xuyên của cơ quan;
c) Đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác và cá nhân có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thì cơ quan, tổ chức, đơn vị đó tự chi trả trợ cấp thôi việc.
3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc:
a) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian đã làm việc theo các bản hợp đồng lao động đã giao kết (kể cả hợp đồng giao kết bằng miệng) mà người lao động thực tế làm việc cho người sử dụng lao động đó;
b) Người lao động trước đây đã là công nhân, viên chức nhà nước nay vẫn làm việc ở đơn vị, thì thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian làm việc ở đơn vị đó;
c) Trường hợp người lao động trước khi làm việc cho doanh nghiệp nhà nước mà đã có thời gian làm việc ở các đơn vị khác thuộc khu vực nhà nước, nhưng chưa được trợ cấp thôi việc, thì doanh nghiệp nơi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đó theo quy định của pháp luật. Các đơn vị sử dụng lao động trước đây có trách nhiệm chuyển trả cho doanh nghiệp đã chi trả, nếu đơn vị cũ đã chấm dứt hoạt động thì ngân sách nhà nước sẽ hoàn trả.
Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 31 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung mà người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động kể cả thời gian người lao động làm việc cho người sử dụng lao động liền kề trước đó.
d) Ngoài thời gian nêu trên, nếu có những thời gian sau đây cũng được tính là thời gian làm việc cho người sử dụng lao động:
Thời gian thử việc hoặc tập sự (nếu có) tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức;
Thời gian doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức nâng cao trình độ nghề nghiệp hoặc cử đi đào tạo nghề cho người lao động;
Thời gian người lao động nghỉ theo chế độ bảo hiểm xã hội, thời gian nghỉ ngơi theo quy định của Bộ luật Lao động;
Thời gian chờ việc khi hết hạn tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc người lao động phải ngừng việc có hưởng lương;
Thời gian học nghề, tập nghề tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức;
Thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động do hai bên thoả thuận;
Thời gian bị xử lý sai về kỷ luật sa thải hoặc về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
Thời gian người lao động bị tạm đình chỉ công việc theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Lao động.
4. Mức lương cộng với phụ cấp lương (nếu có) để tính trợ cấp thôi việc thực hiện theo quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương.
5. Thời gian làm việc khi có tháng lẻ đối với người lao động làm việc trên 12 tháng được làm tròn như sau:
Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 06 tháng làm việc;
Từ đủ 06 tháng đến 12 tháng được tính bằng 01 năm làm việc.
6. Người lao động được trả trợ cấp thôi việc theo mức quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Lao động, được trả trực tiếp, một lần, tại nơi làm việc và đúng thời hạn theo quy định tại Điều 43 của Bộ luật Lao động.
Thời hạn thanh toán các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên được thực hiện theo quy định tại Điều 43 của Bộ luật Lao động.
Đối với các trường hợp đặc biệt sau: trả trợ cấp thôi việc đối với người lao động đã làm việc trong nhiều doanh nghiệp được quy định tại
Công nhân, viên chức làm việc thường xuyên trong các doanh nghiệp nhà nước chuyển sang giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao hướng dẫn thi hành Nghị định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1 Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995
- 2 Luật hợp tác xã 1996
- 3 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996
- 4 Luật Doanh nghiệp 1999
- 5 Nghị định 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao
- 6 Nghị định 02/2001/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề
- 7 Nghị định 114/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật lao động về tiền lương
- 1 Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 44/2003/NĐ-CP về hợp đồng lao động do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 2 Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 44/2003/NĐ-CP về hợp đồng lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 1 Công văn số 4265/LĐTBXH-LĐVL của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc thực hiện HĐLĐ khi thay đổi người sử dụng lao động
- 2 Nghị định 198-CP năm 1994 hướng dẫn Bộ luật lao động về hợp đồng lao động
- 3 Thông tư 19/2004/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 41/2002/NĐ-CP về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước đã được sửa đổi tại Nghị định 155/2004/NĐ-CP do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 4 Nghị định 44/2013/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động
- 5 Thông tư 30/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 44/2013/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật lao động về hợp đồng lao động do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 1 Công văn số 4265/LĐTBXH-LĐVL của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc thực hiện HĐLĐ khi thay đổi người sử dụng lao động
- 2 Bộ luật Lao động 1994
- 3 Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995
- 4 Luật hợp tác xã 1996
- 5 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996
- 6 Luật Doanh nghiệp 1999
- 7 Nghị định 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao
- 8 Nghị định 02/2001/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề
- 9 Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 10 Bộ Luật Lao động sửa đổi 2002
- 11 Nghị định 114/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật lao động về tiền lương
- 12 Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 44/2003/NĐ-CP về hợp đồng lao động do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 13 Thông tư 19/2004/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 41/2002/NĐ-CP về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước đã được sửa đổi tại Nghị định 155/2004/NĐ-CP do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 14 Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 44/2003/NĐ-CP về hợp đồng lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 15 Thông tư 30/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 44/2013/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật lao động về hợp đồng lao động do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành