Nghị định 78-CP năm 1997 do Chính phủ ban hành quy định về quân hiệu, cấp hiệu, lễ phục, quân kỳ, phù hiệu kiểm soát, biển công tác, cờ hiệu và giấy chứng minh của Bộ đội biên phòng. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm xây dựng lực lượng Bộ đội biên phòng chính quy, hiện đại, đồng thời thiết lập hệ thống nhận diện đặc trưng phục vụ công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc lực lượng Bộ đội biên phòng và các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Quy định về quân hiệu, cấp hiệu và phù hiệu của Bộ đội biên phòng
Về cơ bản, quân hiệu, cấp hiệu và phù hiệu của Bộ đội biên phòng được thực hiện theo các quy định chung đối với Quân đội nhân dân Việt Nam tại Nghị định 74/HĐBT ngày 26 tháng 4 năm 1982, Nghị định 78/HĐBT ngày 27 tháng 3 năm 1991 và Nghị định 61/CP ngày 21 tháng 10 năm 1996. Tuy nhiên, để phù hợp với đặc thù hoạt động của lực lượng biên phòng, một số điểm riêng biệt được sửa đổi, bổ sung bao gồm:
- Màu nền cấp hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ là màu xanh lá cây.
- Màu đường viền của cấp hiệu đối với sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ là màu đỏ tươi.
- Hình phù hiệu của Bộ đội biên phòng được quy định cụ thể là hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo nhau trên một vòng tròn không khép kín, phía dưới có hình vòng cung mang ký hiệu đường biên giới quốc gia.
Quy định về lễ phục và quân kỳ
- Lễ phục của sĩ quan: Được áp dụng thống nhất theo tiêu chuẩn lễ phục của sĩ quan Bộ đội lục quân quy định tại Nghị định 94/CP ngày 30 tháng 11 năm 1993 của Chính phủ. Điểm khác biệt duy nhất để nhận diện sĩ quan biên phòng là thành mũ kê-pi có màu xanh lá cây.
- Quân kỳ: Quân kỳ của Bộ đội biên phòng là quân kỳ chung của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quy định về quân kỳ của từng cấp cụ thể trong lực lượng Bộ đội biên phòng sẽ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn và quyết định.
Quy định về phù hiệu kiểm soát, biển công tác và cờ hiệu
Để phục vụ công tác tuần tra, kiểm soát tại khu vực biên giới và các cửa khẩu, Nghị định quy định chi tiết về trang bị nhận diện như sau:
- Phù hiệu kiểm soát: Được đeo trên cánh tay trái của người làm nhiệm vụ, có nền màu đỏ, viền vàng và chữ màu vàng. Phù hiệu này được chia làm hai loại:
- Phù hiệu kiểm soát biên phòng: Gồm hai hàng chữ, hàng trên ghi chữ Việt Nam "KS Biên phòng", hàng dưới ghi chữ Anh "BORDER SECURITY CHECK". Phù hiệu này được sử dụng khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra biên giới, vùng biển và các hải đảo.
- Phù hiệu kiểm soát xuất nhập cảnh: Gồm hai hàng chữ, hàng trên ghi chữ Việt Nam "Kiểm soát XNC", hàng dưới ghi chữ Anh "IMMIGRATION". Phù hiệu này được sử dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm soát xuất nhập cảnh.
- Biển công tác: Được đeo trên nắp túi áo bên trái khi làm nhiệm vụ. Biển có nền màu xanh nhạt, chữ màu đen. Bố cục của biển gồm: phía trên ghi dòng chữ "Bộ đội biên phòng Việt Nam", bên trái dán ảnh chân dung, bên phải ghi rõ họ tên và số hiệu của người mang biển, phía dưới cùng ghi tên Đồn cửa khẩu quản lý.
- Cờ hiệu: Được cắm trước các phương tiện khi đi làm nhiệm vụ, bao gồm hai loại:
- Cờ tuần tra biên phòng: Có màu xanh lá cây, hình tam giác vuông, bên trong có hình quân hiệu và phía dưới quân hiệu có dòng chữ "Tuần tra biên phòng".
- Cờ hỏa tốc: Có màu xanh lá cây, hình tam giác cân với hai cạnh bên có tua màu vàng, ở giữa cờ có hình quân hiệu và một mũi tên màu vàng. Cờ này được sử dụng khi phương tiện thực hiện các nhiệm vụ khẩn cấp.
Quy định về giấy chứng minh
Giấy chứng minh của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc lực lượng Bộ đội biên phòng được áp dụng thống nhất theo mẫu giấy chứng minh của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, không có sự thay đổi hay quy định riêng biệt.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 78-CP năm 1997 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1997. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thi hành toàn diện các nội dung của Nghị định này.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 78-CP | Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 1997 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ vào Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ vào Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 30 tháng 12 năm 1981 và Luật sửa đổi một số điều Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 21 tháng 12 năm 1990.
Căn cứ vào Pháp lệnh Bộ đội biên phòng ngày 28 tháng 3 năm 1997;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1.- Quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu của Bộ đội biên phòng thực hiện theo Nghị định 74/HĐBT ngày 26 tháng 4 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về "Quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam" và Nghị định 78/HĐBT ngày 27 tháng 3 năm 1991 về "Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 74/HĐBT ngày 26 tháng 4 năm 1982" của Hội đồng Bộ trưởng, Nghị định số 61/CP ngày 21 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ "Về việc sửa đổi, bổ sung quy định về cấp hiệu, phù hiệu và quân hàm của quân nhân chuyên nghiệp". Riêng đối với Bộ đội biên phòng có một số điểm sửa đổi như sau:
- Mầu nền cấp hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ là màu xanh lá cây.
- Mầu của đường viền cấp hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ là mầu đỏ tươi.
- Hình phù hiệu của Bộ đội biên phòng: Hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, trên vòng tròn không khép kín, dưới hình vòng cung có ký hiệu đường biên giới quốc gia.
Chỉ khác: Thành mũ kê-pi là mầu xanh lá cây.
Điều 4.- Phù hiệu kiểm soát, biển công tác, cờ hiệu.
1. Phù hiệu kiểm soát đeo trên cánh tay trái có nền mầu đỏ, viền vàng, chữ vàng gồm 2 loại:
a. Phù hiệu kiểm soát biên phòng có hàng chữ kiểm soát biên phòng, hàng trên bằng chữ Việt Nam (KS Biên phòng), hàng dưới bằng chữ Anh (BORDER SECURITY CHECK), được sử dụng trong khi làm nhiệm vụ tuần tra biên giới, vùng biển, các hải đảo.
b. Phù hiệu kiểm soát xuất nhập cảnh có hàng chữ kiểm soát xuất nhập cảnh; hàng trên bằng chữ Việt Nam (Kiểm soát XNC), hàng dưới bằng chữ Anh (IMMIGRATION), được sử dụng trong khi làm nhiệm vụ.
2. Biển công tác đeo trên nắp túi áo bên trái, có nền màu xanh nhạt, chữ đen; phía trên có hàng chữ: Bộ đội biên phòng Việt Nam, bên trái có ảnh, bên phải ghi rõ họ tên, số hiệu người mang biển công tác, phía dưới ghi tên Đồn cửa khẩu, được sử dụng trong khi làm nhiệm vụ.
3. Cờ hiệu bao gồm cờ tuần tra và cờ hoả tốc.
a. Cờ tuần tra biên phòng màu xanh lá cây, hình tam giác vuông, trong có hình quân hiệu, dưới quân hiệu có hàng chữ: Tuần tra biên phòng, được cắm trước phương tiện khi đi làm nhiệm vụ.
b. Cờ hoả tốc màu xanh lá cây, hình tam giác cân, hai cạnh bên có tua màu vàng ở giữa có hình quân hiệu và mũi tên màu vàng, được cắm trước phương tiện khi đi làm nhiệm vụ khẩn cấp.
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
- 1 Nghị định 78-HĐBT năm 1991 sửa đổi Nghị định 74-HĐBT năm 1982 quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam
- 2 Nghị định 61-CP năm 1996 sửa đổi quy định cấp hiệu, phù hiệu và quân hàm của quân nhân chuyên nghiệp
- 3 Nghị định 74-HĐBT năm 1982 quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 1 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân 1981
- 2 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990
- 3 Nghị định 78-HĐBT năm 1991 sửa đổi Nghị định 74-HĐBT năm 1982 quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam
- 4 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 5 Nghị định 94-CP năm 1993 sửa đổi Nghị định 74-HĐBT năm 1982 quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của quân đội nhân dân Việt nam.
- 6 Nghị định 61-CP năm 1996 sửa đổi quy định cấp hiệu, phù hiệu và quân hàm của quân nhân chuyên nghiệp
- 7 Pháp lệnh Bộ đội biên phòng năm 1997
- 8 Nghị định 74-HĐBT năm 1982 quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành