Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 90-CP được Chính phủ ban hành năm 1995 nhằm hướng dẫn chi tiết các quy định của Bộ luật Lao động về hoạt động học nghề, đào tạo nghề và bổ túc nghề tại Việt Nam. Văn bản này thiết lập hành lang pháp lý quan trọng khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người học nghề và người sử dụng lao động.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định áp dụng đối với các cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân dạy nghề hoặc bổ túc nghề cho người lao động; các cơ sở dạy nghề gắn với tạo việc làm của Trung tâm dịch vụ việc làm. Nghị định này loại trừ hệ thống trường nghề chính quy và các cơ sở đào tạo dài hạn, ngắn hạn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý. Mọi cá nhân đều có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề, riêng người dưới 13 tuổi chỉ được học một số nghề cụ thể theo danh mục của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động của cơ sở dạy nghề

  • Đối với cơ sở dạy nghề tổ chức theo lớp học: Phải bảo đảm đầy đủ phòng học, cơ sở thực hành, thiết bị giảng dạy đạt trình độ đăng ký, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh lao động. Nếu nhận dạy nghề cho người tàn tật, phải trang bị phương tiện phù hợp với từng dạng khuyết tật. Người dạy lý thuyết phải tốt nghiệp trung học kỹ thuật hoặc nghiệp vụ và có năng lực sư phạm. Người hướng dẫn thực hành phải là công nhân có trình độ cao hơn mục tiêu đào tạo ít nhất hai bậc, nghệ nhân, chuyên gia hoặc kỹ sư thực hành. Chương trình giảng dạy phải phù hợp với chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Đối với cơ sở dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà (có thu học phí): Phải có địa điểm, trang thiết bị thực hành bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; có người hướng dẫn thực hành thành thạo nghề và cung cấp đủ công cụ, nguyên vật liệu cho người học.
  • Thủ tục đăng ký: Các cơ sở dạy nghề phải đăng ký hoạt động và xin cấp giấy phép tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Trường hợp ngoại lệ không phải xin phép bao gồm: cơ sở kèm cặp dưới 10 người học tại nhà hoặc tại xưởng (chỉ cần báo cáo UBND cấp xã, phường và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội) và doanh nghiệp tự mở lớp đào tạo nội bộ cho người lao động của mình.
  • Thay đổi và chấm dứt hoạt động: Mọi thay đổi, bổ sung nội dung hoạt động phải đăng ký bổ sung. Khi chấm dứt hoạt động, cơ sở phải báo cáo và nộp lại giấy phép cho cơ quan cấp phép.

Quyền hạn, trách nhiệm và hình thức đào tạo

  • Hình thức đào tạo đa dạng: Cơ sở dạy nghề được tổ chức học lý thuyết và thực hành theo lớp; kèm cặp tại xưởng, tại nhà theo phương thức vừa học vừa làm; chuyển giao công nghệ hoặc phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật mới. Các hình thức này phải được cụ thể hóa bằng hợp đồng học nghề.
  • Cấp chứng chỉ nghề: Giám đốc cơ sở dạy nghề có tư cách pháp nhân hoặc giám đốc doanh nghiệp có cơ sở dạy nghề có quyền cấp chứng chỉ trình độ nghề cho học viên sau khi hoàn thành khóa học, tuân thủ quy chế và mẫu chứng chỉ do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
  • An toàn lao động: Cả cơ sở dạy nghề và người học phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn liên quan.
  • Hoạt động sản xuất phụ trợ: Cơ sở dạy nghề được phép tổ chức xưởng sản xuất, dịch vụ tận dụng nguyên vật liệu, máy móc để phục vụ thực tập. Doanh thu từ các hoạt động này phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định pháp luật.

Chính sách ưu đãi thuế, học phí và hỗ trợ tài chính

  • Ưu đãi thuế: Giảm thuế cho các cơ sở dạy nghề tiếp nhận người tàn tật, người dân tộc thiểu số, đối tượng tệ nạn xã hội, cơ sở tại vùng có tỷ lệ thất nghiệp cao hoặc dạy nghề truyền thống. Miễn thuế hoàn toàn cho các cơ sở chuyên biệt dành riêng cho người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số, đối tượng tệ nạn xã hội và hình thức kèm cặp tại nhà hoặc tại xưởng.
  • Hỗ trợ vốn vay và đầu tư: Cơ sở dạy nghề cho người tàn tật được vay vốn lãi suất thấp từ Quỹ việc làm cho người tàn tật cấp tỉnh. Các cơ sở chuyên biệt cho đối tượng yếu thế được Nhà nước đầu tư xây dựng trường lớp, mua sắm trang thiết bị và đào tạo giáo viên. Cơ sở dạy nghề thuộc Trung tâm dịch vụ việc làm được vay hoặc cấp kinh phí từ Quỹ quốc gia về việc làm.
  • Sử dụng quỹ doanh nghiệp: Doanh nghiệp được dùng Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm để chi trả chi phí đào tạo lại cho người lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp do thay đổi công nghệ, cơ cấu sản xuất hoặc đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ, tuyệt đối không được thu học phí của các đối tượng này.
  • Học phí và miễn giảm: Học phí do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Miễn, giảm học phí cho người học là Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, thương binh, thân nhân liệt sĩ, người có công và người tàn tật theo các quy định hiện hành của Chính phủ.

Quy định về hợp đồng học nghề

  • Hình thức hợp đồng: Phải lập thành văn bản chia làm hai bản có giá trị như nhau. Đối với khóa học dưới 15 ngày, các bên có thể giao kết bằng miệng.
  • Nội dung bắt buộc: Hợp đồng phải ghi rõ tên nghề, mục tiêu đào tạo (trình độ đạt được, sản phẩm làm ra), thời gian học lý thuyết và thực hành, thiết bị thực tập, địa điểm học, mức học phí và phương thức thanh toán, cam kết việc làm sau khóa học và trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng.
  • Trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào đào tạo để sử dụng: Người học không phải đóng học phí. Hợp đồng phải bổ sung cam kết về thời hạn làm việc cho doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp và mức tiền công thỏa thuận khi người học trực tiếp làm ra sản phẩm trong quá trình học.
  • Hình thức kèm cặp tại nhà, tại xưởng: Hợp đồng phải ghi rõ thời điểm bắt đầu trả công và mức tiền công cụ thể cho người học theo từng giai đoạn dựa trên giá trị làm lợi thực tế.

Trách nhiệm bồi thường và xử lý khi chấm dứt hợp đồng học nghề

  • Người học đơn phương chấm dứt hợp đồng: Không được hoàn trả học phí đã nộp. Tuy nhiên, nếu chấm dứt do thực hiện nghĩa vụ quân sự, bệnh tật, qua đời hoặc do lỗi vi phạm hợp đồng của cơ sở dạy nghề thì được hoàn trả phần học phí tương ứng với thời gian học còn lại.
  • Cơ sở dạy nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng: Phải báo cáo cơ quan quản lý nhà nước. Nếu do nguyên nhân bất khả kháng (được xác nhận), cơ sở không phải trả lại học phí. Nếu do nguyên nhân khác, cơ sở phải hoàn trả toàn bộ học phí đã thu của người học.
  • Trường hợp đào tạo để làm việc cho doanh nghiệp:
    • Người học tự ý bỏ học hoặc không thực hiện đúng cam kết về thời hạn làm việc sau đào tạo phải bồi thường chi phí dạy nghề (bao gồm chi phí cho giáo viên, tài liệu, khấu hao nhà xưởng, máy móc và vật liệu thực hành) theo mức thỏa thuận trước trong hợp đồng.
    • Nếu doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động với người học sau khi hoàn thành khóa học, người học không phải bồi thường chi phí và có quyền ký hợp đồng lao động với đơn vị khác.
    • Lao động nữ mang thai có chứng nhận y tế về việc học nghề ảnh hưởng xấu đến thai nhi được quyền chấm dứt hợp đồng học nghề mà không phải bồi thường chi phí đào tạo.

Hiệu lực thi hành

Nghị định 90-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây về cơ sở dạy nghề trái với Bộ luật Lao động và Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành văn bản này.

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 90-CP

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 1995

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 90-CP NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 1995 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG VỀ HỌC NGHỀ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Bộ luật lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.- Cơ sở dạy nghề nói trong Nghị định này gồm:

1. Cơ sở của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân dạy nghề, bổ túc nghề cho người có nhu cầu học nghề để tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm;

2. Cơ sở của các doanh nghiệp dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh, thay đổi cơ cấu sản xuất hoặc công nghệ của doanh nghiệp;

3. Cơ sở dạy nghề gắn với tạo việc làm của các Trung tâm dịch vụ việc làm.

Hệ thống trường nghề chính quy và các cơ sở dạy nghề đào tạo dài hạn, ngắn hạn do Bộ Giáo dục và Đào tạo đang quản lý không thuộc phạm vi áp dụng Nghị định này.

Điều 2.- Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này mở cơ sở dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động, tạo điều kiện cho họ có việc làm và đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội.

Điều 3.- Mọi người đều có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề. Những người dưới 13 tuổi, chỉ được học một số nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

Chương 2:

ĐIỀU KIỆN MỞ CƠ SỞ DẠY NGHỀ

Điều 4.- Điều kiện mở cơ sở dạy nghề theo Khoản 2 Điều 20 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

1. Cơ sở dạy nghề được tổ chức thành lớp học thì phải có đủ các điều kiện dưới đây:

a. Có phòng học, cơ sở thực hành, thiết bị, phương tiện bảo đảm giảng dạy lý thuyết, thực hành đạt trình độ nghề đã được đăng ký, bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động và vệ sinh lao động. Nếu nhận dạy nghề cho người tàn tật thì phải có thiết bị, phương tiện dạy nghề phù hợp với từng loại khuyết tật của người tàn tật;

b. Người dạy nghề phải có các tiêu chuẩn dưới đây:

Người dạy lý thuyết ít nhất phải có bằng tốt nghiệp trung học kỹ thuật, nghiệp vụ, có năng lực sư phạm;

Người hướng dẫn thực hành là công nhân có trình độ nghề cao hơn hai bậc trở lên, so với trình độ nghề quy định trong mục tiêu đào tạo, có kỹ năng thực hành nghề thành thạo, hoặc là nghệ nhân, chuyên gia, kỹ sư thực hành;

c. Có chương trình, giáo trình phù hợp với chương trình, giáo trình chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và mục tiêu đào tạo.

2. Cơ sở dạy nghề có thu học phí theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà phải có đủ điều kiện dưới đây:

a. Địa điểm và trang thiết bị thực hành nghề phù hợp với nghề dạy, bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động và vệ sinh lao động;

b. Có người hướng dẫn thực hành thành thạo nghề;

c. Có đủ công cụ và nguyên vật liệu để người học thực hành.

Điều 5.- Cơ sở dạy nghề phải đăng ký nội dung hoạt động với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và được cơ quan này cấp giấy phép, trừ những trường hợp sau đây:

1. Cơ sở dạy nghề có dưới 10 người học theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà phải báo cho phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và Uỷ ban nhân dân phường, xã sở tại;

2. Doanh nghiệp mở cơ sở dạy nghề, bổ túc nghề, đào tạo lại nghề cho người lao động của doanh nghiệp để chuyển sang làm nghề khác trong doanh nghiệp; hoặc dạy nghề cho người mới tuyển để sau đó làm việc cho doanh nghiệp mình.

Chương 3:

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ SỞ DẠY NGHỀ

Điều 6.- Đối với cơ sở dạy nghề có tư cách pháp nhân, giám đốc cơ sở dạy nghề là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của cơ sở dạy nghề.

Giám đốc cơ sở dạy nghề có tư cách pháp nhân hoặc giám đốc doanh nghiệp có cơ sở dạy nghề được quyền cấp chứng chỉ trình độ nghề cho những người đã học nghề sau khoá học trên cơ sở bảo đảm quy chế cấp chứng chỉ và theo mẫu chứng chỉ do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

Điều 7.- Cơ sở dạy nghề phải hoạt động theo đúng nội dung được đăng ký. Trường hợp thay đổi, bổ sung nội dung hoạt động phải đăng ký bổ sung với cơ quan đã cấp giấy phép hoặc báo lại cho phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và Uỷ ban nhân dân phường, xã sở tại nếu cơ sở dạy nghề có dưới 10 người học theo hình thức kèm cặp. Khi cơ sở dạy nghề chấm dứt hoạt động, phải báo và trả lại giấy phép cho cơ quan cấp giấy phép.

Điều 8.-

1. Cơ sở dạy nghề có thể tổ chức dạy nghề theo một hoặc nhiều hình thức: tổ chức học lý thuyết và thực hành theo lớp; kèm cặp tại xưởng, tại nhà, lấy thực hành là chính, vừa học vừa làm; chuyển giao công nghệ; phổ biến kiến thức khoa học công nghệ mới và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.

Các hình thức và nội dung dạy nghề trên được thực hiện theo hợp đồng ký giữa người học, đơn vị cử người đến học với cơ sở dạy nghề.

2. Cơ sở của các doanh nghiệp dạy nghề, bổ túc nghề, đào tạo lại nghề cho người lao động của doanh nghiệp có thể ký hợp đồng với các cơ sở dạy nghề khác để dạy nghề, bổ túc nghề, đào tạo lại nghề cho người lao động. Hoạt động dạy nghề trên phải tuân theo những quy định chung đối với cơ sở dạy nghề.

Điều 9.- Cơ sở dạy nghề và người học nghề trong quá trình thực hiện hợp đồng học nghề phải thực hiện đúng những quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động của Bộ luật Lao động và Nghị định số 06-CP ngày 20 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động.

Điều 10.-

1. Cơ sở dạy nghề có thu nhận người tàn tật, người dân tộc thiểu số, đối tượng tệ nạn xã hội, hoặc cơ sở dạy nghề ở những nơi có nhiều người thiếu việc làm, mất việc làm, cơ sở dạy nghề truyền thống được xét giảm thuế.

2. Cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số, đối tượng tệ nạn xã hội; dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà được miễn thuế.

Bộ Tài chính quy định cụ thể việc xét giảm, miễn thuế nói trên.

Điều 11.- Doanh nghiệp được sử dụng quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp để chi cho việc dạy nghề, bổ túc nghề, đào tạo lại nghề cho những người lao động của doanh nghiệp phải chuyển sang làm nghề khác do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu sản xuất hoặc công nghệ; dạy thêm nghề dự phòng cho lao động nữ và không được thu học phí của người học.

Điều 12.- Cơ sở dạy nghề được thu học phí theo thoả thuận ghi trong hợp đồng với người học hoặc với đơn vị cử người đến học. Người học nghề là Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, con của liệt sĩ, con của thương binh, con của người bệnh binh và con của người hưởng chính sách như thương binh được miễn hoặc giảm học phí theo quy định tại Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ. Người học nghề là người tàn tật được miễn hoặc giảm học phí theo quy định tại Nghị định số 81/CP ngày 23-11-1995 của Chính phủ.

Điều 13.- Cơ sở dạy nghề có thu nhận người tàn tật vào học nghề được vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ việc làm cho người tàn tật của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi có dự án dạy nghề.

Cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số được Chính phủ đầu tư xây dựng trường, lớp; mua sắm thiết bị, phương tiện dạy học; đào tạo đội ngũ thầy giáo và được vay vốn với lãi suất thấp.

Điều 14.- Cơ sở dạy nghề được xây dựng dự án hoạt động dạy nghề để thu hút đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; được tổ chức xưởng sản xuất, dịch vụ tận dụng nguyên vật và máy móc thiết bị nhằm tạo thuận lợi cho việc thực tập nghề. Hoạt động sản xuất, dịch vụ có doanh thu phải tuân theo quy định của pháp luật.

Điều 15.- Cơ sở dạy nghề của các Trung tâm dịch vụ việc làm được xây dựng dự án đề nghị cơ quan quản lý quỹ quốc gia về việc làm cho vay hoặc cấp một phần kinh phí.

Chương 4:

HỢP ĐỒNG HỌC NGHỀ

Điều 16.- Cơ sở dạy nghề phải ký hợp đồng học nghề với người học, đơn vị cử người đến học bằng văn bản và làm thành hai bản như nhau, mỗi bên giữ một bản. Trường hợp thời gian học nghề dưới 15ngày, có thể giao kết bằng miệng.

Điều 17.-

1. Hợp đồng học nghề ở các cơ sở dạy nghề cần ghi rõ:

a. Tên nghề học;

b. Mục tiêu học: Trình độ nghề phải đạt được; những việc phải làm được; những sản phẩm có thể làm ra sau khi học xong;

c. Thời gian học lý thuyết và thực hành;

d. Loại máy móc thiết bị dùng cho thực tập, cách tổ chức thực tập, phương tiện an toàn lao động, vệ sinh lao động;

đ. Nơi học và thực tập;

e. Số học phí phải trả; mức học phí được miễn, hoặc giảm (nếu có), cách trả học phí;

g. Việc làm sau khi học xong do cơ sở dạy nghề chịu trách nhiệm hoặc do người học tự lo;

h. Bồi thường phí học nghề khi vi phạm hợp đồng học nghề theo quy định tại Điều 18 và Điều 19 của Nghị định này.

2. Doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sau đó làm việc cho doanh nghiệp thì người học không phải đóng học phí. Trong trường hợp này, hợp đồng học nghề không có điểm e, g tại khoản 1 Điều này và phải bổ sung thêm:

a. Thời gian phải làm việc cho doanh nghiệp sau khi học xong;

Mức tiền công trả cho người học nghề khi họ trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong thời gian học nghề. Mức tiền công được xác định căn cứ vào giá trị làm lợi và do hai bên thoả thuận.

3. Hợp đồng học nghề ở các cơ sở dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại xưởng, tại nhà, ngoài nội dung nêu ở khoản 1 Điều này, cần ghi rõ thời gian bắt đầu trả công và mức tiền công trả cho người học theo từng thời gian. Mức tiền công được xác định căn cứ vào giá trị làm lợi và do hai bên thoả thuận.

Điều 18.-

Người học nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì không được lấy lại học phí đã nộp. Nếu vì lý do như: Đi làm nghĩa vụ quân sự, bị bệnh tật, chết hoặc do cơ sở dạy nghề không thực hiện đúng hợp đồng học nghề và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì được lấy lại phần học phí của thời gian học còn lại.

2. Nếu cơ sở dạy nghề đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì phải báo cho cơ quan quản lý Nhà nước về học nghề biết rõ nguyên nhân. Nếu cơ quan này xác nhận là do nguyên nhân bất khả kháng thì cơ sở dạy nghề không phải trả lại cho người học nghề số học phí đã nhận. Nếu do các nguyên nhân khác thì cơ sở dạy nghề phải trả lại cho người học nghề toàn bộ học phí đã nhận.

Điều 19.- Trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào học nghề để sau đó làm việc cho doanh nghiệp:

1. Nếu người học nghề tự ý bỏ không học hết khoá, hoặc học xong không làm việc hoặc làm việc không đủ thời hạn đã cam kết với doanh nghiệp thì người học phải bồi thường phí dạy nghề. Phí dạy nghề gồm các khoản chi phí cho thầy dạy, tài liệu học tập, trường lớp, máy móc thiết bị và vật liệu thực hành. Mức bồi thường do doanh nghiệp tính, được thoả thuận trước và ghi rõ trong hợp đồng học nghề;

2. Trong trường hợp doanh nghiệp không giao kết hợp đồng lao động với người học nghề thì người học nghề không phải bồi thường phí dạy nghề và được quyền ký hợp đồng lao động với người khác;

3. Người học nghề là nữ, trong quá trình thực hiện hợp đồng học nghề với doanh nghiệp mà có thai, nếu có giấy chứng nhận của thầy thuốc về việc thực hiện hợp đồng học nghề sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì không phải bồi thường phí dạy nghề, khi chấm dứt hợp đồng.

Chương 5:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 20.- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề theo Nghị định này và quy định của Bộ luật lao động.

Điều 21.- Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Những quy định trước đây đối với các cơ sở dạy nghề trái với Bộ luật Lao động và Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 22.- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Phan Văn Khải

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 90-CP năm 1995 hướng dẫn Bộ Luật lao động về học nghề

Số hiệu: 90-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 15/12/1995
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: 14/03/1996
Số công báo: Số 5
Ngày hiệu lực: 15/12/1995
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 90-CP năm 1995 hướng dẫn Bộ Luật la...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký