Nghị định số 982-TTg được ban hành năm 1956 bởi Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Cục Cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an. Đây là văn bản pháp lý đặt nền móng quan trọng cho việc thống nhất tổ chức, quản lý, huấn luyện và xây dựng lực lượng cảnh sát nhân dân chính quy, đáp ứng yêu cầu giữ gìn trật tự, an ninh trong giai đoạn mới.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với toàn bộ lực lượng cảnh sát nhân dân trên phạm vi toàn quốc, bao gồm các lực lượng chuyên trách trực thuộc Bộ Công an và các cơ quan, bộ ngành liên quan chịu trách nhiệm phối hợp thi hành như Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính.
Thành lập Cục Cảnh sát nhân dân và phân loại lực lượng
- Thành lập Cục Cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an nhằm thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý, xây dựng, huấn luyện và giáo dục lực lượng cảnh sát nhân dân toàn quốc về các mặt nghiệp vụ, chính trị, quân sự và văn hoá.
- Lực lượng Cảnh sát nhân dân được phân định rõ ràng thành ba bộ phận chính bao gồm: Cảnh sát hành chính (phụ trách các lĩnh vực hộ tịch, giao thông, cứu hoả), Cảnh sát kinh tế và Cảnh sát vũ trang.
- Giao quyền cho Bộ trưởng Bộ Công an quyết định sơ đồ tổ chức cụ thể của ngành cảnh sát nhân dân trong toàn quốc để bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế.
Chuyển giao nhiệm vụ canh gác trại giam và trại lao cải
- Chuyển giao toàn bộ nhiệm vụ canh gác các trại giam và trại lao cải từ lực lượng bộ đội cảnh vệ sang cho lực lượng cảnh sát nhân dân phụ trách, nhằm chuyên môn hóa vai trò quản lý giam giữ và cải tạo phạm nhân.
Quy định về tính chất lực lượng và chế độ chính sách
- Xác định rõ Cảnh sát nhân dân là lực lượng vũ trang và nửa vũ trang thuộc biên chế chính thức của ngành Công an.
- Cảnh sát viên được hưởng đầy đủ các chế độ về lương và phụ cấp tương đương như công chức nhà nước.
- Nhà nước bảo đảm cấp phát trang phục, vũ khí và các trang thiết bị nghiệp vụ khác cho cảnh sát viên theo đúng tiêu chuẩn và kiểu mẫu thống nhất trong toàn lực lượng.
Trách nhiệm thi hành và hướng dẫn chi tiết
- Các Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết để thi hành nghiêm túc nghị định này.
- Các cơ quan nêu trên chịu trách nhiệm trực tiếp trước Thủ tướng Chính phủ trong việc triển khai thực hiện toàn diện các nội dung quy định.
Hiệu lực thi hành
Nghị định có hiệu lực kể từ ngày ban hành năm 1956. Các quy định tại văn bản này được ký thay Thủ tướng Chính phủ bởi Phó Thủ tướng Phan Kế Toại.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 982-TTg | Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 1956 |
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 982-TTG, NGÀY 28-7-1956 THÀNH LẬP CỤC CẢNH SÁT NHÂN DÂN THUỘC BỘ CÔNG AN
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Xét nhu cầu công tác;
Theo đề nghị của Ông Bộ trưởng Bộ Công an.
NGHỊ ĐỊNH :
Tổ chức cụ thể của ngành cảnh sát nhân dân trong toàn quốc do Ông Bộ trưởng Bộ Công an quyết định.
Điều 3: Cảnh sát nhân dân là lực lượng vũ trang và nửa vũ trang thuộc biên chế ngành Công an.
Cảnh sát viên được hưởng lương và phụ cấp như công chức và được cấp phát quần áo, vũ khí và những thứ trang bị khác theo tiêu chuẩn và kiểu mẫu thống nhất.
|
| Phan Kế Tọai (Đã ký) |