Thông tư 1001-TTg được ban hành năm 1956 bởi Thủ tướng Chính phủ, quy định về việc tổ chức ngành Cảnh sát nhân dân nhằm thống nhất lực lượng giữ gìn trật tự, an ninh xã hội trong giai đoạn mới của đất nước.
Phạm vi áp dụng của Thông tư bao gồm toàn bộ hệ thống tổ chức ngành Cảnh sát nhân dân từ trung ương đến địa phương. Đối tượng áp dụng trực tiếp là các cán bộ, chiến sĩ công tác trong lực lượng Cảnh sát nhân dân, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến công tác quản lý trật tự trị an và an toàn xã hội.
Mục đích và nguyên tắc tổ chức ngành Cảnh sát nhân dân
- Thống nhất các lực lượng trị an hành chính và cảnh sát cũ thành một hệ thống tổ chức duy nhất là Cảnh sát nhân dân, đặt dưới sự quản lý và chỉ đạo thống nhất của Bộ Công an.
- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về trật tự trị an, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân, đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.
- Xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, có kỷ luật nghiêm minh và tác phong làm việc chính quy.
Hệ thống tổ chức và phân cấp quản lý
- Ở trung ương: Thiết lập cơ quan quản lý chuyên trách thuộc Bộ Công an để chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra và đôn đốc toàn bộ hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trên phạm vi cả nước.
- Ở địa phương: Tổ chức các đơn vị Cảnh sát nhân dân tại các cấp tỉnh, thành phố, huyện, thị xã và các đồn, trạm cảnh sát tại các địa bàn trọng điểm nhằm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giữ gìn trật tự trị an tại cơ sở.
- Sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Cảnh sát nhân dân với chính quyền địa phương và các lực lượng vũ trang khác để bảo đảm an ninh trật tự toàn diện.
Nhiệm vụ và quyền hạn cốt lõi của lực lượng Cảnh sát nhân dân
- Quản lý hành chính về trật tự trị an: Thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu, quản lý vũ khí, chất nổ, chất cháy và các ngành nghề kinh doanh đặc biệt có điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Bảo đảm an toàn giao thông và trật tự công cộng: Tổ chức tuần tra, kiểm soát, phân luồng giao thông, xử lý các hành vi vi phạm về trật tự công cộng và an toàn giao thông đường bộ, đường thủy.
- Phòng cháy và chữa cháy: Tổ chức, hướng dẫn công tác phòng ngừa hỏa hoạn và trực tiếp tham gia cứu nạn, cứu hộ, chữa cháy khi có sự cố xảy ra.
- Đấu tranh phòng chống tội phạm: Phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc phát hiện, ngăn chặn, điều tra các hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo vệ an ninh trật tự xã hội và giữ gìn sự bình yên cho nhân dân.
Thông tư 1001-TTg năm 1956 có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 1001-TTg | Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 1956 |
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 1001-TTG, NGÀY 10-8-1956 VỀ VIỆC TỔ CHỨC NGÀNH CẢNH SÁT NHÂN DÂN
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
| Kính gửi: | Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh. |
Từ ngày hoà bình lập lại do tình hình phát triển nhu cầu về mặt trị an xã hội cũng mở rộng, ngành cảnh sát thuộc Bộ Công an hoạt động ở các thành phố và các thị xã đã lập thêm nhiều bộ phận khác nhau như : cảnh sát hộ tịch, cảnh sát giao thông, cảnh sát cứu hoả, cảnh sát kinh tế, v.v. Lực lượng này ngày càng đông đảo nên cần thiết phải thành lập Cục Cảnh sát nhân dân để chuyên trách công tác xây dựng, quản lý huấn luyện, giáo dục các loại cảnh sát nhân dân trong toàn quốc về nghiệp vụ, chính trị, quân sự và văn hoá.
Tiếp theo nghị định số 982-TTg ngày 28-7-1956 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Cục Cảnh sát nhân dân, Thủ tướng phủ xin nói thêm một số vấn đề để các Bộ và các cấp thi hành.
Trong điều 1 của nghị định chỉ mới quy định việc thành lập Cục Cảnh sát nhân dân, còn việc tổ chức cơ quan cảnh sát nhân dân ở cấp khu và tỉnh sẽ do Ông Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể sau. Trong khi chờ đợi, các khu, tỉnh hãy căn cứ vào biên chế năm 1956 đã ấn định cho ngành công an mà sắp xếp cho đủ số Cảnh sát làm việc.
Trong khi nghị định cũng không nói đến Cảnh sát biên phòng. Liên Bộ Công an - Quốc phòng sẽ quy định dứt khoát Cảnh sát biên phòng thuộc Bộ Công an hay Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh. Trong khi chờ đợi, cảnh sát biên phòng vẫn là một loại cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an, phải được củng cố để bảo vệ biên giới, bờ biển, kiểm soát sự qua lại biên giới, trường bay, hải cảng, cụ thể là phải được tuyển đủ số biên chế ấn định. Cho nên các địa phương có biên giới, trường bay, bờ biển, không được coi nhẹ hoặc viện cớ nghị định không nói đến mà từ chối không chú trọng giải quyết những khó khăn, của công an biên phòng.
Ngành cảnh sát nhân dân có những nhiệm vụ sau đây:
- Cảnh sát hộ tịch phụ trách quản lý hộ khẩu.
- Cảnh sát giao thông phụ trách công tác quản lý giao thông trong thành phố.
- Cảnh sát cứu hoả phụ trách công tác phòng hoả cứu hoả trong nhân dân.
- Cảnh sát kinh tế phụ trách công tác bảo vệ công khai các nhà máy, các hầm mỏ.
- Cảnh sát vũ trang phụ trách công tác các trại giam, các trại lao cải và làm nhiệm vụ tiễu phỉ trừ gian.
Trong điều 2 của nghị định đã nói "việc canh gác các trại giam và trại lao cải hiện nay là do bộ đội cảnh vệ phụ trách, nay giao Cảnh sát nhân dân phụ trách". Liên Bộ Công an - Quốc phòng sẽ quy định cụ thể các nguyên tắc và thể thức thi hành về việc cảnh sát vũ trang thay thế cho bộ đội cảnh vệ gác trại giam và trại lao cải. Trong khi chờ đợi, các đơn vị bộ đội cảnh vệ vẫn phải làm công việc canh giữ cho tốt đến khi có nghị quyết dứt khoát của Liên Bộ Công an - Quốc phòngvà có lực lượng cảnh sát và vũ trang thay thế, tuyệt đối không được sao nhãng.
Sau khi bàn giao, từng địa phương sẽ căn cứ theo tỷ lệ một cảnh sát vũ trang canh gác 10 phạm nhân mà ấn định số lượng cảnh sát nhân dân trong biên chế địa phương. Nếu với số cảnh sát nhân dân hiện có mà còn thiếu thì Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh sẽ dựa theo tiêu chuẩn của ngành Công an mà tuyển dụng cho đủ số để canh gác các trại giam và lao cải.
Việc cấp phát quần áo, trang bị vũ khí cho cảnh sát nhân dân theo điều 3 của nghị định sẽ thi hành theo nguyên tắc sau đây:
Tất cả các khoản lương, quần áo và trang bị của người Cảnh sát nhân dân ở bậc thấp nhất (theo thang 17 bậc) cộng lại thì cao hơn lương một người công chức ở bậc thấp nhất một ít, nhưng không được vượt quá mức của người chiến sĩ bộ đội. Liên Bộ Nội vụ, Công an, Tài chính có quy định cụ thể riêng.
- Vũ khí trang bị cho Cảnh sát nhân dân (kể cả cảnh sát biên phòng và cảnh sát về hoá trang) thuộc ngành công an đều do Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh cung cấp, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng sẽ cùng ấn định số lượng và thể thức thi hành.
Việc thành lập ngành cảnh sát nhân dân bao gồm các lực lượng vũ trang và nửa vũ trang thuộc ngành công an là một công tác quan trọng để củng cố chính quyền dân chủ nhân dân Việt Nam.
Mong các Bộ có liên quan, các Uỷ ban hành chính liên khu, khu, thành phố và tỉnh chú ý thi hành tốt Nghị định số 982 - TTg và thông tư này.
| Phan Kế Toại (Đã ký) |