Nghị quyết số 369/2003/NQ-UBTVQH11 do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành về việc thành lập Ban Công tác lập pháp nhằm xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn này trong việc hỗ trợ công tác xây dựng pháp luật của Quốc hội. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc hình thành một cơ quan chuyên trách, giúp nâng cao tính chuyên nghiệp, khoa học và chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Quốc hội thông qua.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị quyết này áp dụng đối với Ban Công tác lập pháp, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong quy trình lập pháp và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam.
Vị trí và chức năng của Ban Công tác lập pháp
Ban Công tác lập pháp được thành lập với tư cách là cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội. Ban có chức năng cốt lõi là hỗ trợ, giúp việc cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong toàn bộ các hoạt động liên quan đến công tác xây dựng pháp luật.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Công tác lập pháp
Để thực hiện tốt chức năng hỗ trợ lập pháp, Ban Công tác lập pháp được giao các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau đây:
- Chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội xây dựng dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ và hàng năm để trình Quốc hội; đồng thời phục vụ Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc triển khai thực hiện chương trình này.
- Chủ trì phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Ủy ban pháp luật và Bộ Tư pháp nhằm hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản đối với các dự thảo luật, dự thảo pháp lệnh, dự thảo nghị quyết sau khi đã được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến.
- Phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội chuẩn bị báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội để trình Quốc hội xem xét, thông qua.
- Phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan chuẩn bị báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để cơ quan chủ trì thẩm tra trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua.
- Chủ trì thực hiện việc rà soát, hoàn thiện kỹ thuật văn bản đối với các luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua để trình Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực.
- Chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội chuẩn bị báo cáo, tờ trình về dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để trình lên cấp có thẩm quyền.
- Phục vụ Ủy ban thường vụ Quốc hội trong công tác giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội trực tiếp giao phó.
Cơ cấu tổ chức và bộ máy giúp việc
Cơ cấu nhân sự và tổ chức của Ban Công tác lập pháp được thiết lập chặt chẽ để bảo đảm tính vận hành hiệu quả:
- Ban gồm có Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và bộ máy giúp việc chuyên trách là Vụ Công tác lập pháp.
- Tổ chức và nhiệm vụ cụ thể của Vụ Công tác lập pháp do Trưởng Ban công tác lập pháp phối hợp với Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quy định.
Chế độ bổ nhiệm và trách nhiệm của Lãnh đạo Ban
Nghị quyết quy định rõ thẩm quyền quản lý nhân sự và phân công trách nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo của Ban:
- Trưởng ban và các Phó Trưởng ban Công tác lập pháp do Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức.
- Trưởng ban là người chịu trách nhiệm cao nhất trước Ủy ban thường vụ Quốc hội về toàn bộ hoạt động của Ban. Trưởng ban có nhiệm vụ tổ chức, điều hành hoạt động của Ban; chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội; giữ mối liên hệ công tác với Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực các Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và các cơ quan khác; thay mặt Ban trong các quan hệ đối ngoại.
- Các Phó Trưởng ban có trách nhiệm giúp Trưởng ban thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công. Khi Trưởng ban vắng mặt, một Phó Trưởng ban sẽ được ủy quyền để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng ban.
Điều kiện bảo đảm hoạt động và con dấu pháp lý
Để bảo đảm tính độc lập và hiệu quả trong công tác chuyên môn, các điều kiện hoạt động của Ban được quy định như sau:
- Ban Công tác lập pháp có con dấu riêng theo quy định của pháp luật để phục vụ công tác chuyên môn và giao dịch hành chính.
- Kinh phí hoạt động của Ban là một khoản nằm trong tổng kinh phí hoạt động chung của Quốc hội.
- Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm toàn bộ cơ sở vật chất và các điều kiện hoạt động cần thiết khác cho Ban.
Hiệu lực và trách nhiệm thi hành
Trưởng Ban công tác lập pháp và Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này. Nghị quyết do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thay mặt Ủy ban thường vụ Quốc hội ký ban hành.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 369/2003/NQ-UBTVQH11 | Hà Nội, ngày 17 tháng 3 năm 2003 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC THÀNH LẬP BAN CÔNG TÁC LẬP PHÁP
ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Để phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về công tác xây dựng pháp luật theo quy định của pháp luật;
Căn cứ vào Luật tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Xét đề nghị của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội tại Tờ trình số 1452 VP/CN ngày 01 tháng 10 năm 2002 về việc thành lập Ban công tác lập pháp;
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Thành lập Ban công tác lập pháp.
Ban công tác lập pháp là cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban thường vụ Quốc hội, có trách nhiệm giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội về công tác xây dựng pháp luật.
Điều 2. Ban công tác lập pháp có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Chủ trì trong việc phối hợp với các cơ quan hữu quan giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội xây dựng dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ và hàng năm để trình Quốc hội; phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;
2. Chủ trì trong việc phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Uỷ ban pháp luật, Bộ tư pháp hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản đối với dự thảo luật, dự thảo pháp lệnh, dự thảo nghị quyết sau khi các văn bản này đã được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến;
3. Phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuẩn bị báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội để trình Quốc hội xem xét, thông qua;
4. Phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan chuẩn bị báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để cơ quan chủ trì thẩm tra trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua;
5. Chủ trì việc rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản đối với các luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua để trình Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực;
6. Chủ trì trong việc phối hợp với các cơ quan hữu quan giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuẩn bị báo cáo, tờ trình về dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình cấp có thẩm quyền;
7. Phục vụ Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong công tác giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết;
8. Thực hiện những nhiệm vụ khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao.
Điều 3. Ban công tác lập pháp có Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và vụ giúp việc là Vụ công tác lập pháp.
Tổ chức và nhiệm vụ của Vụ công tác lập pháp do Trưởng Ban công tác lập pháp phối hợp với Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội quy định.
Điều 4. Trưởng ban, các Phó Trưởng ban công tác lập pháp do Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Trưởng ban là người chịu trách nhiệm trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác của Ban.
Trưởng Ban công tác lập pháp có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức và điều hành hoạt động của Ban theo chức năng và nhiệm vụ được giao;
2. Chịu sự chỉ đạo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội; giữ mối liên hệ với Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Uỷ ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, các cơ quan khác trong công tác xây dựng pháp luật;
3. Thay mặt Ban trong quan hệ với các cơ quan, tổ chức hữu quan;
4. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao.
Các Phó Trưởng ban giúp Trưởng ban thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng ban. Khi Trưởng ban vắng mặt thì một Phó Trưởng ban được Trưởng ban uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng ban.
Điều 5. Ban công tác lập pháp có con dấu theo quy định của pháp luật.
Kinh phí của Ban là một khoản trong kinh phí hoạt động của Quốc hội; cơ sở vật chất và các điều kiện hoạt động của Ban do Văn phòng Quốc hội bảo đảm.
Điều 6. Trưởng Ban công tác lập pháp, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.
| Nguyễn Văn An (Đã ký) |
- 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
- 2 Nghị quyết 368/2003/NQ-UBTVQH11 về việc thành lập Ban Công tác đại biểu do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
- 3 Nghị quyết số 594/2008/UBTVQH12 về việc giải thể Ban Công tác Lập pháp và Vụ Công tác Lập pháp do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 4 Nghị quyết 1050/2015/UBTVQH13 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu lập pháp do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 1 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 2 Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
- 4 Nghị quyết 368/2003/NQ-UBTVQH11 về việc thành lập Ban Công tác đại biểu do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
- 5 Nghị quyết số 594/2008/UBTVQH12 về việc giải thể Ban Công tác Lập pháp và Vụ Công tác Lập pháp do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 6 Nghị quyết 1050/2015/UBTVQH13 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu lập pháp do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành