Nghị quyết số 14-NQ/HĐNN7 do Hội đồng Nhà nước ban hành (được ký bởi Chủ tịch Trường Chinh) quy định chi tiết về quy trình, thủ tục xem xét đơn xin ân giảm án tử hình thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng Nhà nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm tối ưu hóa quy trình làm việc, phân loại các vụ án tử hình để áp dụng phương thức xét duyệt phù hợp, bảo đảm tính chính xác, kịp thời và nghiêm minh của pháp luật.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Nghị quyết
Nghị quyết này điều chỉnh các hoạt động tố tụng và hành chính liên quan đến việc xem xét, quyết định bác đơn xin ân giảm hoặc quyết định ân giảm án tử hình. Đối tượng áp dụng trực tiếp bao gồm các thành viên Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Quy trình lấy ý kiến tại nhà đối với các vụ án rõ ràng, không thể ân giảm
Đối với những vụ án tử hình mà tội trạng và chứng cứ chứng minh đã hoàn toàn rõ ràng, qua xem xét thấy không có căn cứ hoặc tình tiết giảm nhẹ để có thể ân giảm, Hội đồng Nhà nước áp dụng thủ tục lấy ý kiến gián tiếp (lấy ý kiến tại nhà) của các thành viên nhằm tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu suất giải quyết công việc. Quy trình cụ thể được thực hiện qua các bước sau:
- Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước có trách nhiệm lập và gửi tờ trình chi tiết về vụ án đến tận tay từng thành viên của Hội đồng Nhà nước.
- Các thành viên Hội đồng Nhà nước tiến hành nghiên cứu hồ sơ, ghi rõ ý kiến cá nhân của mình trực tiếp vào tờ trình, ký xác nhận và gửi phản hồi lại cho Chủ nhiệm Văn phòng.
- Chủ nhiệm Văn phòng tiến hành tập hợp, rà soát toàn bộ ý kiến của các thành viên. Trong trường hợp tất cả các thành viên Hội đồng Nhà nước đều đồng thuận nhất trí bác đơn xin ân giảm án tử hình, Chủ nhiệm Văn phòng sẽ trình hồ sơ để Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký ban hành nghị quyết chính thức.
Quy trình đưa ra phiên họp tập thể đối với các vụ án phức tạp hoặc có ý kiến khác nhau
Đối với các vụ án tử hình có tính chất phức tạp hơn, Nghị quyết quy định bắt buộc phải đưa ra thảo luận và quyết định tập thể tại phiên họp trực tiếp của Hội đồng Nhà nước. Các trường hợp cụ thể bao gồm:
- Vụ án tử hình xét thấy có những tình tiết, căn cứ có thể cho phép áp dụng biện pháp ân giảm.
- Vụ án chưa rõ ràng, chưa đủ cơ sở vững chắc để quyết định nên bác đơn xin ân giảm hay chấp nhận ân giảm cho người bị kết án.
- Vụ án có sự mâu thuẫn, không thống nhất về quan điểm giải quyết giữa Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
Về mặt thủ tục thực hiện đối với nhóm vụ án này, sau khi tham khảo và xin ý kiến của Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước có trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ và trình vụ án ra trước phiên họp toàn thể để Hội đồng Nhà nước cùng thảo luận, xem xét và ra quyết định cuối cùng theo nguyên tắc tập thể.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành, đặt ra khuôn khổ pháp lý chặt chẽ cho việc thực hiện quyền hạn của Hội đồng Nhà nước trong việc quyết định hình phạt cao nhất, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người bị kết án cũng như sự nghiêm minh của hệ thống tư pháp.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 14-NQ/HĐNN7 | Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 1981 |
QUYẾT NGHỊ
HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
Theo đề nghị của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước ;
QUYẾT NGHỊ :
Điều 1. Đối với những vụ án tử hình mà tội trạng và chứng cứ đã rõ ràng,
xét không thể ân giảm được thì áp dụng thủ tục lấy ý kiến tại nhà của các thành viên Hội đồng Nhà nước.
1- Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước gửi đến các thành viên Hội đồng Nhà nước tờ trình về vụ án ;
2- Các thành viên Hội đồng Nhà nước ghi ý kiến của mình vào tờ trình, ký tên và gửi lại Chủ nhiệm Văn phòng ;
3- Chủ nhiệm Văn phòng tập hợp các ý kiến. Nếu toàn thể thành viên Hội đồng Nhà nước nhất trí tán thành bác đơn xin ân giảm thì trình Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký nghị quyết.
|
| Trường Chinh (Đã ký) |
- 1 Chỉ thị 41-VKSND/CT năm 1989 về thỉnh thị án tử hình do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 2 Công văn số 37/NCPL của Tòa án nhân dân tối cao về việc thi hành án tử hình
- 3 Quyết định 810/2006/QĐ-BCA-C11 ban hành Quy trình bảo vệ phiên tòa, áp giải bị cáo, dẫn giải người làm chứng ra tòa và Quy trình thi hành án tử hình do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 4 Pháp lệnh ân giảm án tử hình và xét duyệt án tử hình năm 1978 do Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành
- 1 Chỉ thị 41-VKSND/CT năm 1989 về thỉnh thị án tử hình do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 2 Công văn số 37/NCPL của Tòa án nhân dân tối cao về việc thi hành án tử hình
- 3 Quyết định 810/2006/QĐ-BCA-C11 ban hành Quy trình bảo vệ phiên tòa, áp giải bị cáo, dẫn giải người làm chứng ra tòa và Quy trình thi hành án tử hình do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 4 Pháp lệnh ân giảm án tử hình và xét duyệt án tử hình năm 1978 do Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành
- 5 Hiến pháp năm 1980