Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục
Nghị quyết số 20/2003/NQ-QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, quyết định về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm thực thi pháp luật nghiêm minh.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị quyết này quy định chương trình giám sát tối cao của Quốc hội và phân công nhiệm vụ giám sát cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội. Đối tượng chịu sự giám sát bao gồm Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác trong việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội và quy định của pháp luật.

Nội dung giám sát tại các kỳ họp Quốc hội năm 2004

Bên cạnh việc thực hiện giám sát thường kỳ thông qua xem xét báo cáo hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tiến hành chất vấn tại hai kỳ họp, Quốc hội tập trung giám sát chuyên đề đối với các nội dung trọng điểm sau:

  • Tại kỳ họp thứ 5: Quốc hội nghe Chính phủ và các cơ quan hữu quan báo cáo toàn diện về tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tính từ thời điểm Luật khiếu nại, tố cáo có hiệu lực thi hành cho đến hết quý I năm 2004.
  • Tại kỳ họp thứ 6: Quốc hội nghe Chính phủ báo cáo chi tiết về việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ trong cả nước; đồng thời đánh giá kết quả khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải và các giải pháp phòng, chống thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản.

Các nội dung giám sát chuyên đề giao cho các cơ quan của Quốc hội

Quốc hội giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội chủ động triển khai giám sát và báo cáo kết quả đối với 17 lĩnh vực cụ thể:

  • Việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2004 trên một số lĩnh vực trọng điểm.
  • Kết quả thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội liên quan đến các công trình quan trọng quốc gia.
  • Kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
  • Kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc thí điểm dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy.
  • Tình hình thu, chi bảo hiểm xã hội đối với các đối tượng bắt buộc theo quy định pháp luật.
  • Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật của một số cơ quan nhà nước ở trung ương.
  • Kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc sử dụng và quản lý đất đai trong kế hoạch 5 năm (2001-2005), bao gồm: đất nông nghiệp, đất nông trường, lâm trường quốc doanh, đất thổ cư tại các đô thị lớn, và đất giao cho các cơ quan, tổ chức hành chính sự nghiệp quản lý, sử dụng.
  • Mối quan hệ kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo đảm xây dựng tiềm lực quốc phòng - an ninh.
  • Kết quả sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sản xuất kinh doanh tại một số doanh nghiệp nhà nước độc quyền.
  • Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư, giải quyết dứt điểm tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài.
  • Hoạt động kinh tế đối ngoại và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tập trung vào: việc thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ; quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); và quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
  • Tình hình thực hiện Hiệp định biên giới trên bộ và Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ.
  • Việc thực hiện chế độ cử tuyển, công tác đào tạo và sử dụng học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số.
  • Kết quả xử lý các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các khu đô thị và khu công nghiệp.
  • Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân.
  • Tình hình giải quyết các vụ án của các Toà chuyên trách, Toà phúc thẩm thuộc Toà án nhân dân tối cao, và công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với một số loại án.
  • Công tác tổ chức và hoạt động của một số trại tạm giam, trại tạm giữ.

Tổ chức thực hiện và cơ chế phối hợp giám sát

  • Uỷ ban thường vụ Quốc hội chịu trách nhiệm chỉ đạo việc triển khai thực hiện Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004; thực hiện điều hoà, phối hợp hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; định kỳ 6 tháng một lần xem xét báo cáo tổng hợp hoạt động giám sát của các cơ quan này.
  • Căn cứ vào Chương trình giám sát chung của Quốc hội và chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội chủ động xây dựng và triển khai thực hiện chương trình giám sát riêng của mình.
  • Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm tổng hợp toàn diện và báo cáo kết quả thực hiện Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội.

Hiệu lực thi hành

Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày thông qua để áp dụng cho chương trình công tác năm 2004.

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 20/2003/QH11

Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2003

NGHỊ QUYẾT

VỀ CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI NĂM 2004

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Luật hoạt động giám sát của Quốc hội;
Trên cơ sở xem xét đề nghị của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tờ trình của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;

QUYẾT NGHỊ

Điều 1: Năm 2004, cùng với việc giám sát thông qua hình thức xem xét báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và chất vấn tại hai kỳ họp, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nghe Chính phủ và các cơ quan hữu quan báo cáo tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân từ khi Luật khiếu nại, tố cáo có hiệu lực đến hết quý I năm 2004; tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội nghe Chính phủ báo cáo về việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ trong cả nước, kết quả khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải và chống thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản.

Điều 2: Quốc hội giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát các nội dung sau đây và báo cáo kết quả với Quốc hội:

1. Việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ và ngân sách nhà nước năm 2004 trên một số lĩnh vực chủ yếu;

2. Kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về các công trình quan trọng quốc gia;

3. Kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và phổ cập giáo dục trung học cơ sở;

4. Kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về vấn đề thí điểm dạy nghề và giải quyết việc làm sau cai nghiện;

5. Về thu, chi bảo hiểm xã hội đối với các đối tượng bắt buộc;

6. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của một số cơ quan nhà nước ở trung ương;

7. Kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc sử dụng và quản lý đất đai trong kế hoạch 5 năm (2001-2005) gồm: Sử dụng đất nông nghiệp, đất nông trường, lâm trường quốc doanh, đất thổ cư ở các đô thị lớn, đất giao cho các cơ quan, tổ chức hành chính sự nghiệp quản lý, sử dụng;

8. Vấn đề kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với bảo đảm xây dựng tiềm lực quốc phòng-an ninh;

9. Kết quả sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số doanh nghiệp nhà nước độc quyền;

10. Việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và tín dụng ưu đãi của Nhà nước nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư, giải quyết nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài;

11. Hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế: Việc thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ; thực hiện và quản lý vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA; quá trình đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO;

12. Việc thực hiện Hiệp định biên giới trên bộ và phân định vịnh Bắc Bộ;

13. Vấn đề thực hiện chế độ cử tuyển, đào tạo và sử dụng học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số;

14. Kết quả xử lý các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở đô thị và các khu công nghiệp;

15. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân;

16. Vấn đề giải quyết các vụ án của các Toà chuyên trách, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, việc kiểm sát xét xử phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo một số loại án;

17. Tổ chức và hoạt động của một số trại tạm giam, tạm giữ.

Điều 3: Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo việc triển khai thực hiện Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004; chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội; định kỳ 6 tháng 1 lần, xem xét báo cáo tổng hợp hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội.

Điều 4: Trên cơ sở Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội và căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội chủ động xây dựng và triển khai thực hiện chương trình giám sát của mình.

Điều 5: Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổng hợp và báo cáo kết quả việc thực hiện Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội.

Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003.

Nguyễn Văn An

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết số 20/2003/NQ-QH11 về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 do Quốc Hội ban hành

Số hiệu: 20/2003/QH11
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 26/11/2003
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Nguyễn Văn An
Ngày công báo: 19/12/2003
Số công báo: Số 218
Ngày hiệu lực: 03/01/2004
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết số 20/2003/NQ-QH11 về chương trình...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký