Ngày 09 tháng 12 năm 2000, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 8 đã chính thức thông qua Nghị quyết số 42/2000/NQ-QH10 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2001. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thiết lập lộ trình lập pháp chi tiết cho năm 2001, tập trung trọng điểm vào việc cải cách bộ máy nhà nước thông qua việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, hoàn thiện hệ thống cơ cấu tổ chức và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Nghị quyết
Nghị quyết này áp dụng trực tiếp đối với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội cùng các cơ quan, tổ chức hữu quan chịu trách nhiệm chủ trì soạn thảo, thẩm tra, cho ý kiến và thông qua các dự án luật, pháp lệnh trong năm 2001.
Chương trình xây dựng luật chi tiết tại các kỳ họp Quốc hội năm 2001
Chương trình xây dựng luật được phân chia cụ thể theo hai kỳ họp chính trong năm nhằm bảo đảm tính khoa học, khả thi và tiến độ thực hiện:
- Tại kỳ họp thứ 9 (giữa năm 2001):
- Trình Quốc hội cho ý kiến về nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước và quyết định thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.
- Trình Quốc hội thông qua 06 dự án luật quan trọng bao gồm: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai; Luật Phòng cháy, chữa cháy; Luật Di sản văn hóa; Luật Hải quan; Luật Giao thông đường bộ; Luật sửa đổi Điều 145 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến đối với 02 dự án luật: Luật Bảo hiểm xã hội; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động.
- Tổ chức lấy ý kiến của các đại biểu Quốc hội tại các Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương về các dự án luật tổ chức bộ máy nhà nước và bầu cử, bao gồm: Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi); Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi); Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi); Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi); Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội; Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sửa đổi).
- Tại kỳ họp thứ 10 (cuối năm 2001):
- Trình Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ máy nhà nước.
- Trình Quốc hội thông qua toàn bộ 07 dự án luật về tổ chức bộ máy nhà nước và bầu cử đã được lấy ý kiến tại kỳ họp thứ 9 (gồm các Luật Tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân sửa đổi, cùng các luật về bầu cử).
- Tổ chức lấy ý kiến đại biểu Quốc hội tại các địa phương đối với 06 dự án luật về kinh tế, tài chính và ngân sách: Luật Phá sản doanh nghiệp (sửa đổi); Luật Doanh nghiệp nhà nước (sửa đổi); Luật Kế toán; Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi); Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân sách nhà nước.
Chương trình xây dựng pháp lệnh và nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội được giao trách nhiệm xem xét và thông qua các dự án pháp lệnh, nghị quyết theo ba danh mục phân loại cụ thể:
- Chương trình chính thức (gồm 17 văn bản): Pháp lệnh Luật sư (sửa đổi); Pháp lệnh Đấu thầu; Pháp lệnh Phí và lệ phí; Pháp lệnh Thi hành án dân sự (sửa đổi); Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi); Pháp lệnh về Tôn giáo; Pháp lệnh Thú y (sửa đổi); Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (sửa đổi); Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (sửa đổi); Pháp lệnh Bảo vệ và khai thác công trình thủy lợi (sửa đổi); Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia (sửa đổi); Pháp lệnh Cơ yếu; Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia và các biện pháp tự vệ khắc phục bất lợi trong thương mại quốc tế; Pháp lệnh Quảng cáo; Pháp lệnh Giám định tư pháp; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở có yếu tố nước ngoài được xác lập trước ngày 01-7-1991.
- Chương trình dự bị (gồm 05 pháp lệnh): Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân (sửa đổi); Pháp lệnh Bưu chính viễn thông; Pháp lệnh Giống cây trồng, vật nuôi; Pháp lệnh Thực phẩm; Pháp lệnh Quản lý dự trữ quốc gia.
- Chương trình chuẩn bị (gồm 07 pháp lệnh): Pháp lệnh Phòng, chống tệ nạn mại dâm; Pháp lệnh Trọng tài thương mại; Pháp lệnh Động viên công nghiệp; Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu biển; Pháp lệnh về Giá; Pháp lệnh Dân số; Pháp lệnh về công tác Cảnh vệ.
Biện pháp tổ chức thực hiện và phân công trách nhiệm
Để bảo đảm chương trình lập pháp năm 2001 được triển khai đồng bộ, hiệu quả và đúng tiến độ, Quốc hội đề ra các giải pháp tổ chức thực hiện cụ thể:
- Vai trò chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chịu trách nhiệm chuẩn bị việc thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội quyết định; chỉ đạo nghiên cứu đề án sửa đổi Hiến pháp 1992 và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội được quyền điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và báo cáo lại Quốc hội.
- Trách nhiệm của các cơ quan soạn thảo: Phải xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết, bảo đảm các dự án luật, pháp lệnh được trình đúng tiến độ, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình lập pháp, nâng cao chất lượng nội dung và chủ động chuẩn bị các văn bản hướng dẫn thi hành để ban hành kịp thời cùng với luật, pháp lệnh.
- Vai trò phối hợp, giám sát của các cơ quan Quốc hội: Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan soạn thảo ngay từ đầu để nâng cao chất lượng dự án và báo cáo thẩm tra; thực hiện tốt vai trò tham mưu và tăng cường giám sát việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
- Công tác tuyên truyền và cải tiến quy trình: Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật để đưa các văn bản mới sớm đi vào cuộc sống. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu cải tiến quy trình soạn thảo và thông qua luật nhằm tăng hiệu suất thông qua văn bản tại các kỳ họp Quốc hội nhưng vẫn bảo đảm chất lượng pháp lý tối ưu.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết số 42/2000/NQ-QH10 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày thông qua. Nghị quyết do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký ban hành.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 42/2000/NQ-QH10 | Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2000 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH NĂM 2001
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Điều 62 và Điều 63 của Luật tổ chức Quốc hội, Điều 22 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
Sau khi xem xét Tờ trình số 286/UBTVQH10 ngày 06 tháng 11 năm 2000 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2001 và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;
QUYẾT NGHỊ
Điều 1: Thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2001 như sau :
1- Chương trình xây dựng luật bao gồm:
* Tại kỳ họp thứ 9 (giữa năm 2001):
a) Trình Quốc hội cho ý kiến về nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ máy nhà nước và quyết định thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp.
b) Trình Quốc hội thông qua các dự án:
1- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai;
2- Luật phòng cháy, chữa cháy;
3- Luật di sản văn hoá;
4- Luật hải quan;
5- Luật giao thông đường bộ;
6- Luật sửa đổi Điều 145 của Bộ luật tố tụng hình sự.
c) Trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp các dự án :
1- Luật bảo hiểm xã hội;
2- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động.
d) Tổ chức để các vị đại biểu Quốc hội cho ý kiến cùng với việc thảo luận nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ máy nhà nước tại các Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương về các dự án:
1- Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi);
2- Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi);
3- Luật tổ chức Toà án nhân dân (sửa đổi);
4- Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi);
5- Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi);
6- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội;
7- Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sửa đổi).
* Tại kỳ họp thứ 10 (cuối năm 2001):
a) Trình Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ máy nhà nước.
b) Trình Quốc hội thông qua các dự án:
1- Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi);
2- Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi);
3- Luật tổ chức Toà án nhân dân (sửa đổi);
4- Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi);
5- Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi);
6- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội;
7- Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sửa đổi).
c) Tổ chức để các vị đại biểu Quốc hội cho ý kiến tại các Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương về các dự án:
1- Luật phá sản doanh nghiệp (sửa đổi);
2- Luật doanh nghiệp nhà nước (sửa đổi);
3- Luật kế toán;
4- Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi);
5- Luật thuế giá trị gia tăng (sửa đổi);
6- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ngân sách nhà nước.
2- Giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua các dự án pháp lệnh, nghị quyết sau đây:
a) Chương trình chính thức:
1- Pháp lệnh luật sư (sửa đổi);
2- Pháp lệnh đấu thầu;
3- Pháp lệnh phí và lệ phí;
4- Pháp lệnh thi hành án dân sự (sửa đổi);
5- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi);
6- Pháp lệnh về tôn giáo;
7- Pháp lệnh thú y (sửa đổi);
8- Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật (sửa đổi);
9- Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (sửa đổi);
10- Pháp lệnh bảo vệ và khai thác công trình thuỷ lợi (sửa đổi);
11- Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia (sửa đổi);
12- Pháp lệnh cơ yếu;
13- Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia và các biện pháp tự vệ khắc phục bất lợi trong thương mại quốc tế;
14- Pháp lệnh quảng cáo;
15- Pháp lệnh giám định tư pháp;
16- Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
17- Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở có yếu tố nước ngoài được xác lập trước ngày 1-7-1991.
b) Chương trình dự bị:
1- Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân (sửa đổi);
2- Pháp lệnh bưu chính viễn thông;
3- Pháp lệnh giống cây trồng, vật nuôi;
4- Pháp lệnh thực phẩm;
5- Pháp lệnh quản lý dự trữ quốc gia.
c) Chương trình chuẩn bị:
1- Pháp lệnh phòng, chống tệ nạn mại dâm;
2- Pháp lệnh trọng tài thương mại;
3- Pháp lệnh động viên công nghiệp;
4- Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển;
5- Pháp lệnh về giá;
6- Pháp lệnh dân số;
7- Pháp lệnh về công tác cảnh vệ.
Điều 2: Giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuẩn bị việc thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp để trình Quốc hội quyết định; chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu chuẩn bị đề án sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ máy nhà nước và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước.
Điều 3:
1- Giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo việc triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2001. Trong trường hợp thật cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể điều chỉnh, bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và báo cáo Quốc hội.
2- Các cơ quan được giao soạn thảo, trình dự án luật, pháp lệnh cần có kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể để bảo đảm các dự án được trình đúng tiến độ, quy trình, có chất lượng và bảo đảm ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành.
3- Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có kế hoạch chủ động phối hợp với các cơ quan chủ trì soạn thảo để nâng cao chất lượng dự án và báo cáo thẩm tra; làm tốt công tác tham mưu cho Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc xem xét, thông qua các dự án luật, pháp lệnh; tăng cường giám sát việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh để pháp luật được thực hiện thống nhất.
4- Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các cơ quan hữu quan trong việc triển khai thực hiện chương trình; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật để bảo đảm các luật, pháp lệnh sớm đi vào cuộc sống; tiếp tục nghiên cứu đổi mới quy trình soạn thảo, thông qua luật, pháp lệnh, trong đó chú trọng việc đổi mới quy trình thông qua luật để có thể thông qua được nhiều luật tại kỳ họp Quốc hội, đồng thời bảo đảm chất lượng của các văn bản pháp luật.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000.
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
- 1 Nghị quyết số 19/1998/NQ-QH10 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 1999 do Quốc hội ban hành
- 2 Nghị quyết số 76/1999/NQ-UBTVQH10 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 1999 do Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành
- 3 Nghị quyết số 231/2000/QĐ-UBTVQH10 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2000 do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 4 Nghị quyết số 52/2001/QH10 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2002 do Quốc Hội ban hành
- 1 Hiến pháp năm 1992
- 2 Luật Tổ chức Quốc hội 1992
- 3 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 4 Nghị quyết số 19/1998/NQ-QH10 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 1999 do Quốc hội ban hành
- 5 Nghị quyết số 76/1999/NQ-UBTVQH10 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 1999 do Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành
- 6 Nghị quyết số 231/2000/QĐ-UBTVQH10 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2000 do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 7 Nghị quyết số 52/2001/QH10 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2002 do Quốc Hội ban hành