Nghị quyết về vấn đề tôn giáo do Quốc hội ban hành là văn bản pháp lý quan trọng, thể hiện chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Văn bản quy định về các nguyên tắc cốt lõi nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; xác định ranh giới hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo; và quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện chính sách tôn giáo. Đối tượng áp dụng bao gồm mọi công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Nội dung cốt lõi của Nghị quyết
1. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 1 - Điều 4)
- Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân. Mọi người có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.
- Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền hoạt động tôn giáo hợp pháp, các cơ sở thờ tự, trang thiết bị và tài sản của các tổ chức tôn giáo được pháp luật thừa nhận.
- Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng; nghiêm cấm việc ép buộc công dân theo hoặc từ bỏ tôn giáo.
- Các hành vi lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, trục lợi hoặc gây phương hại đến trật tự, an toàn xã hội đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
2. Trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tôn giáo
- Các tổ chức tôn giáo và tín đồ có trách nhiệm hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; thực hiện phương châm sống "tốt đời, đẹp đạo", gắn bó đồng hành cùng dân tộc.
- Chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ trách nhiệm của công dân đối với đất nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và phát triển kinh tế - xã hội.
- Mọi hoạt động tôn giáo phải được đăng ký và thực hiện theo đúng hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
3. Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
- Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt, tổ chức các lễ hội truyền thống và đào tạo chức sắc theo đúng quy định của pháp luật.
- Kiên quyết ngăn chặn và xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, hoặc có các hoạt động xâm phạm đến an ninh quốc gia và chủ quyền đất nước.
- Việc phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc và thuyên chuyển nơi hoạt động của nhà tu hành phải tuân thủ các quy định hành chính và thông báo đầy đủ cho cơ quan quản lý nhà nước.
4. Quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo
- Nhà nước tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tôn giáo thực hiện các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.
- Mọi hoạt động tiếp nhận tài trợ, tham gia các tổ chức tôn giáo quốc tế hoặc mời tổ chức, cá nhân nước ngoài vào hoạt động tôn giáo tại Việt Nam phải bảo đảm tính minh bạch và được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung của Nghị quyết này, bảo đảm sự ổn định và phát triển lành mạnh của đời sống tôn giáo trong cả nước.
| QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Hà Nội, ngày 26 tháng 3 năm 1955 |
NGHỊ QUYẾT
NGÀY 26 THÁNG 3 NĂM 1955 VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
Sau khi nghe Tiểu Ban tôn giáo báo cáo và các đại biểu tham luận,
1/ Quốc hội nhận rằng từ ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thành lập, Chính phủ đã luôn luôn thi hành chính sách đảm bảo tự do tín ngưỡng, chú trọng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, kháng chiến thắng lợi.
2/ Quốc hội hoan hô lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết đấu tranh của đồng bào các tôn giáo đã hăng hái tham gia kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ tín ngưỡng và đang kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phản hiệp định và bè lũ tay sai của chúng để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
3/ Quốc hội tố cáo trước đồng bào toàn quốc và trước dư luận thế giới âm mưu và hành động độc ác của đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phản hiệp định và bè lũ tay sai của chúng đã lừa phỉnh, doạ nạt, cưỡng ép một số đồng bào giáo dân ở miền Bắc di cư vào miền Nam, đầy ải đồng bào vào cảnh sống thảm khốc, trái hẳn với nhân đạo và trái với hiệp định Giơ-ne-vơ.
4/ Căn cứ vào đề nghị của Chính Phủ, Quốc Hội thông qua 6 nguyên tắc sau đây về chính sách đảm bảo tự do tín ngưỡng:
1) Mọi người công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng.
Các nhà tu hành được tự do giảng đạo ở trong các cơ quan tôn giáo. Các tín đồ được tự do lễ bái. Sách báo, tài liệu về tôn giáo được xuất bản theo đúng luật lệ của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà.
2) Các nhà tu hành, các tín đồ đều được hưởng mọi quyền lợi và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân Việt Nam. Để cho các nhà tu hành có điều kiện làm nghề tôn giáo của họ, sẽ có sự châm chước thích đáng về mặt thi hành nghĩa vụ công dân.
3) Các nhà thờ, chùa, thánh thất được tôn trọng và bảo vệ.
4) Các cơ quan giáo lý, văn hoá, xã hội, các tổ chức công thương nghiệp của các tôn giáo được pháp luật bảo hộ.
5) Khi thi hành luật cải cách ruộng đất, đối với các tôn giáo sẽ có sự chiếu cố như sau:
a- Khi cải cách ruộng đất, trong số ruộng mà Chính phủ trưng thu hoặc trưng mua để chia cho nông dân, sẽ để lại cho nhà chung, nhà chùa, thánh thất một số ruộng đủ dùng vào việc thờ cúng và để dùng vào việc sinh hoạt của những người chuyên làm nghề tôn giáo. Số ruộng đó sẽ do nhân dân địa phương bình nghị và chính quyền chuẩn y.
b- Những linh mục, nhà sư, chức sắc có ruộng đất cho phát canh thu tô như địa chủ không bị vạch thành phần là địa chủ, nhưng phải thi hành đúng chính sách ruộng đất của Chính phủ.
6- Những kẻ mượn danh nghĩa hoặc vin cớ tôn giáo để phá hoại hoà binh, thống nhất, độc lập và dân chủ, phá hoại đoàn kết của nhân dân, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật, sẽ bị trừng trị.
5/ Uỷ nhiệm Chính phủ căn cứ vào những nguyên tắc trên đây, ban hành những luật pháp thích hợp để thực hiện chính sách đảm bảo tự do tín ngưỡng./.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nhất trí thông qua trong phiên họp ngày 26 tháng 3 năm 1955.
| Dương Đức Hiền (Đã ký) |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Thông tư 593-TTg năm 1957 về chủ trương đối với trường lớp của các tôn giáo do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 2 Sắc lệnh số 35 về việc sức cho nhân dân phải tôn trọng đền, chùa, làng tẩm nhà thờ tất cả các nơi có tính cách tôn giáo do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 3 Sắc lệnh số 223/SL về việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng do Chủ tịch nước ban hành
- 1 Thông tư 593-TTg năm 1957 về chủ trương đối với trường lớp của các tôn giáo do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 2 Sắc lệnh số 35 về việc sức cho nhân dân phải tôn trọng đền, chùa, làng tẩm nhà thờ tất cả các nơi có tính cách tôn giáo do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 3 Sắc lệnh số 223/SL về việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng do Chủ tịch nước ban hành