Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Sắc lệnh số 223/SL do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ban hành nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân, đồng thời xác định rõ quyền lợi, nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, nhà tu hành và tín đồ trong bối cảnh đất nước bấy giờ.

Phạm vi và đối tượng áp dụng: Sắc lệnh áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam, các nhà tu hành trong nước và người nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam, các tổ chức tôn giáo, cùng các cơ quan chính quyền các cấp có trách nhiệm thi hành.

Quyền tự do tín ngưỡng và nghĩa vụ công dân của người theo tôn giáo

  • Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Mọi người dân đều có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến quyền tự do này.
  • Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ sở tôn giáo hợp pháp như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý. Khi truyền bá tôn giáo, nhà tu hành có trách nhiệm giáo dục tín đồ về lòng yêu nước, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật.
  • Nhà tu hành và tín đồ được hưởng đầy đủ quyền lợi và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của một người công dân.
  • Nhà tu hành nước ngoài được Chính phủ Việt Nam cho phép hoạt động sẽ được giảng đạo như nhà tu hành trong nước và phải tuân thủ pháp luật Việt Nam dành cho ngoại kiều.

Hoạt động giáo dục, xuất bản và bảo hộ tài sản tôn giáo

  • Các tôn giáo được phép xuất bản, phát hành kinh bổn, sách báo tôn giáo nhưng phải tuân thủ các quy định pháp luật về xuất bản của Chính phủ.
  • Các tôn giáo có quyền mở trường đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo của mình.
  • Các cơ sở thờ tự bao gồm nhà thờ, chùa, đền, miếu, thánh thất, đồ thờ tự và các trường giáo lý tôn giáo đều được pháp luật bảo hộ.
  • Các tổ chức tôn giáo có tính chất kinh tế, văn hóa, xã hội được phép hoạt động sau khi được chính quyền phê duyệt chương trình, điều lệ. Những tổ chức này được xem như tổ chức tư nhân và được pháp luật bảo hộ.
  • Các tôn giáo được phép mở trường tư thục. Các trường này phải giảng dạy theo chương trình giáo dục của Chính phủ; ngoài giờ học chính thức, trường có thể dạy thêm giáo lý cho những học sinh có nguyện vọng.

Chính sách ruộng đất và thuế đối với tôn giáo trong cải cách ruộng đất

  • Khi thực hiện cải cách ruộng đất, nếu Chính phủ trưng thu hoặc trưng mua ruộng đất của các tôn giáo để chia cho nông dân, Nhà nước vẫn để lại một phần ruộng đất đủ cho việc thờ cúng và bảo đảm đời sống cho các nhà tu hành. Diện tích cụ thể do nông dân địa phương bình nghị và chính quyền cấp tỉnh phê duyệt.
  • Những người làm công trong các nhà thờ, nhà chùa ở nông thôn cũng được chia ruộng đất công bằng như những nông dân lao động khác.
  • Các chức sắc tôn giáo (giám mục, linh mục, nhà sư, mục sư...) có ruộng đất riêng phát canh thu tô như địa chủ sẽ không bị quy thành phần là địa chủ, nhưng vẫn phải chấp hành đúng chính sách ruộng đất của Chính phủ.
  • Để hỗ trợ việc thờ cúng và giúp đỡ các nhà tu hành, phần ruộng đất mà nhà thờ, nhà chùa, thánh thất sử dụng sau cải cách ruộng đất sẽ được Chính phủ chiếu cố cho đóng thuế nông nghiệp theo mức nhẹ hơn.

Mối quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức tôn giáo

  • Chính quyền cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo. Riêng đối với Công giáo, mối quan hệ tôn giáo giữa Giáo hội Việt Nam và Tòa thánh La-mã được xác định là công việc nội bộ của Công giáo.
  • Các tổ chức tôn giáo có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tương tự như mọi tổ chức quần chúng khác.
  • Tự do tín ngưỡng và thờ cúng là quyền lợi hợp pháp của nhân dân, chính quyền luôn tôn trọng và tạo điều kiện giúp đỡ nhân dân thực hiện quyền lợi này.

Chế tài xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo

  • Pháp luật sẽ nghiêm trị những đối tượng mượn danh nghĩa tôn giáo để thực hiện các hành vi phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ; tuyên truyền chiến tranh; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; ngăn cản tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân; xâm phạm tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng của người khác hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Hiệu lực và trách nhiệm thi hành

  • Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban cải cách ruộng đất trung ương và các Bộ có liên quan chịu trách nhiệm tổ chức thi hành sắc lệnh này.

SẮC LỆNH

CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 223/SL NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 1955

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Căn cứ vào chính sách của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về vấn đề tôn giáo,
Căn cứ vào những nguyên tắc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng do Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thông qua trong khoá họp thứ IV,
Theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, và được Ban thường trực Quốc hội thoả thuận,

RA SẮC LỆNH:

Chương 1:

 BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG

Điều 1: Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý, v.v...).

Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Điều 2: Các nhà tu hành và các tín đồ đều được hưởng mọi quyền lợi của người công dân và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân.

Điều 3: Các nhà tu hành người ngoại quốc mà Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà cho phép, thì được giảng đạo như các nhà tu hành Việt Nam và phải tuân theo luật pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, như các ngoại kiều khác.

Điều 4: Các tôn giáo được xuất bản và phát hành những kinh bổn, sách báo có tính chất tôn giáo, nhưng phải tuân theo luật pháp của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc xuất bản.

Điều 5: Các tôn giáo được mở trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo của mình.

Điều 6: Các nhà thờ, chùa, đền, miếu, thánh thật và các đồ thờ, các trường giáo lý của tôn giáo được luật pháp bảo hộ.

Điều 7: Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật.

Chương 2

ĐỐI VỚI NHỮNG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ, VĂN HOÁ,XÃ HỘI CỦA CÁC TÔN GIÁO

Điều 8: Các tổ chức của các tôn giáo có tính chất kinh tế, văn hoá, xã hội đều được hoạt động sau khi đã xin phép chính quyền và được chính quyền chuẩn y chương trình, điều lệ.

Những tổ chức ấy đều coi như những tổ chức của tư nhân và được pháp luật bảo hộ.

Điều 9: Các tôn giáo được phép tổ chức mở trường tư thục. Các trường tư thục đó phải dạy theo chương trình giáo dục của Chính phủ. Ngoài giờ dạy theo chương trình giáo dục của Chính phủ, có thể dạy thêm giáo lý cho những học sinh nào muốn học.

Chương 3

ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT CỦA CÁC TÔN GIÁO

Điều 10: Trong cải cách ruộng đất, khi Chính phủ trưng thu hoặc trưng mua ruộng đất của các tôn giáo để chia cho nông dân, thì sẽ để lại cho nhà thờ, nhà chùa, thánh thật một số ruộng đất đủ cho việc thờ cúng và cho những nhà tu hành có điều kiện sinh sống để làm việc tôn giáo.

Số ruộng ấy là bao nhiêu sẽ do nông dân địa phương (nơi có nhà thờ, nhà chùa, thánh thất) bình nghị và do chính quyền cấp tỉnh chuẩn y.

ở nông thôn khi chia ruộng đất, những người làm công trong các nhà thờ, nhà chùa cũng được chia một phần như những nông dân lao động khác.

Điều 11: Khi phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất, những giám mục, linh mục, nhà sư, mục sư, chức sắc có ruộng đất riêng phát canh thu tô như địa chủ, sẽ không quy định thành phần là địa chủ, nhưng phải thi hành đúng chính sách ruộng đất của Chính phủ.

Điều 12: Để bảo đảm việc thờ cúng của nhân dân và giúp đỡ các nhà tu hành, đối với phần ruộng đất mà nhà thờ, nhà chùa, thánh thất được sử dụng từ sau cải cách ruộng đất, Chính phủ sẽ chiếu cố và cho đóng thuế nông nghiệp theo mục nhẹ hơn.

Chương 4

QUAN HỆ GIỮA CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂNVÀ CÁC TÔN GIÁO  

Điều 13: Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo.

Riêng về Công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa Giáo hội Việt Nam với Toà thánh La-mã là vấn đề nội bộ của Công giáo.

Điều 14: Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo luật pháp của nước ViệtNam dân chủ cộng hoà, như mọi tổ chức khác của nhân dân.

Điều 15: Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện.

Chương 5

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 16: Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban cải cách ruộng đất trung ương và các Bộ có liên quan chịu trách nhiệm thi hành sắc lệnh này.

 

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

 

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Sắc lệnh số 223/SL về việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng do Chủ tịch nước ban hành

Số hiệu: 223/SL
Loại văn bản: Sắc lệnh
Ngày ban hành: 14/06/1955
Nơi ban hành: Chủ tịch nước
Người ký: Hồ Chí Minh
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 29/06/1955
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Quyền dân sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Sắc lệnh số 223/SL về việc bảo đảm quyền tự d...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký