Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sỹ quan và hạ sỹ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 7 năm 1962, nhằm thiết lập hệ thống cấp bậc, chức vụ và quy định chế độ phong, thăng, giáng cấp bậc chính thức đối với lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này áp dụng đối với toàn thể cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, xác định rõ hệ thống thứ bậc, tiêu chuẩn, thẩm quyền và các chế độ liên quan đến cấp bậc trong lực lượng.
Hệ thống cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân
Hệ thống cấp bậc trong lực lượng Cảnh sát nhân dân được phân chia rõ ràng thành hai nhóm đối tượng chính:
- Sĩ quan: Gồm có ba cấp với mười bậc cụ thể:
- Cấp tướng (hai bậc): Trung tướng và Thiếu tướng.
- Cấp tá (bốn bậc): Đại tá, Thượng tá, Trung tá và Thiếu tá.
- Cấp úy (bốn bậc): Đại úy, Thượng úy, Trung úy và Thiếu úy.
- Chuẩn úy: Được quy định là cấp bậc chuẩn bị để lên sĩ quan.
- Hạ sĩ quan: Gồm có ba bậc từ cao xuống thấp là Thượng sĩ, Trung sĩ và Hạ sĩ.
Căn cứ và thẩm quyền phong cấp bậc
- Căn cứ phong cấp bậc: Việc xét phong cấp bậc cho cán bộ và chiến sĩ Cảnh sát nhân dân phải dựa trên các tiêu chuẩn toàn diện bao gồm phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, chức vụ hiện tại đang đảm nhiệm, thành tích phục vụ trong lực lượng Công an, Cảnh sát nhân dân cũng như công lao đóng góp đối với sự nghiệp cách mạng.
- Thẩm quyền phong cấp bậc:
- Quyền phong các cấp bậc từ Thượng tá trở lên được thực hiện theo đúng các quy định áp dụng đối với các cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Bộ trưởng Bộ Công an có thẩm quyền quyết định phong các cấp bậc từ Chuẩn úy đến Trung tá.
- Quyền phong cấp bậc đối với hạ sĩ quan do Hội đồng Chính phủ quy định cụ thể.
Tiêu chuẩn và niên hạn thăng cấp bậc
- Căn cứ thăng cấp bậc: Việc xét thăng cấp bậc dựa vào nhu cầu công tác thực tế, phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ, thành tích trong chiến đấu, công tác và thời gian giữ cấp bậc hiện tại (niên hạn).
- Niên hạn tối thiểu để xét thăng cấp bậc:
- Từ Hạ sĩ lên Trung sĩ: Hai năm.
- Từ Trung sĩ lên Thượng sĩ: Hai năm.
- Từ Thượng sĩ lên Chuẩn úy: Hai năm.
- Từ Chuẩn úy lên Thiếu úy: Hai năm.
- Từ Thiếu úy lên Trung úy: Ba năm.
- Từ Trung úy lên Thượng úy: Ba năm.
- Từ Thượng úy lên Đại úy: Bốn năm.
- Từ Đại úy lên Thiếu tá: Bốn năm.
- Từ Thiếu tá lên Trung tá: Bốn năm.
- Từ Trung tá lên Thượng tá: Năm năm.
- Từ Thượng tá lên Đại tá: Năm năm.
- Quy định về thời gian tính niên hạn: Thời gian sĩ quan, hạ sĩ quan tham gia học tập tại các trường quân sự, chính trị, nghiệp vụ vẫn được tính vào niên hạn để xét thăng cấp bậc.
- Thăng cấp bậc trước niên hạn: Những sĩ quan và hạ sĩ quan lập được công trạng, thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu hoặc trong công tác có thể được xem xét thăng cấp bậc trước khi đủ niên hạn tối thiểu nêu trên.
Quy định về thăng, giáng và tước cấp bậc
- Thẩm quyền thăng và giáng cấp bậc:
- Quyền thăng lên các cấp bậc từ Thượng tá trở lên thực hiện theo quy định đối với các cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân.
- Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thăng lên các cấp bậc từ Trung úy đến Trung tá.
- Quyền thăng lên các cấp bậc từ Trung sĩ lên Thiếu úy do Hội đồng Chính phủ quy định.
- Nguyên tắc thẩm quyền: Người có thẩm quyền quyết định thăng lên cấp bậc nào thì đồng thời có thẩm quyền quyết định giáng đối với cấp bậc đó.
- Nguyên tắc thăng, giáng nhiều bậc: Thông thường, mỗi lần thăng hoặc giáng cấp bậc chỉ được thực hiện một bậc. Trong các trường hợp đặc biệt, việc thăng hoặc giáng nhiều bậc được quy định như sau:
- Đối với cấp bậc từ Thượng tá trở lên: Theo quy định đối với các cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân.
- Đối với cấp bậc từ Thiếu úy đến Trung tá: Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thăng hoặc giáng nhiều bậc.
- Đối với cấp bậc từ Trung sĩ đến Chuẩn úy: Quyền thăng hoặc giáng nhiều bậc do Hội đồng Chính phủ quy định.
- Chế độ đối với người bị giáng cấp bậc: Sĩ quan, hạ sĩ quan bị giáng cấp bậc thì niên hạn để xét thăng cấp bậc mới sẽ được tính lại từ ngày quyết định giáng cấp bậc có hiệu lực. Nếu sau đó họ sửa chữa sai lầm, có biểu hiện tiến bộ rõ rệt hoặc lập thành tích xuất sắc trong chiến đấu, công tác thì có thể được xét thăng cấp trước niên hạn.
- Tước cấp bậc: Sĩ quan và hạ sĩ quan phạm pháp và bị Tòa án xử phạt tù thì đương nhiên bị tước cấp bậc.
Quan hệ công tác và trang phục, cấp hiệu
- Quan hệ phục tùng trong thực hiện nhiệm vụ: Trong trường hợp một sĩ quan hoặc hạ sĩ quan giữ chức vụ phụ thuộc vào một người khác có cấp bậc ngang bằng hoặc thấp hơn mình, thì trong quá trình thi hành nhiệm vụ, người giữ chức vụ phụ thuộc bắt buộc phải phục tùng mệnh lệnh của người giữ chức vụ chính.
- Quy định về trang phục và cấp hiệu: Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết về cấp hiệu, phù hiệu, phù hiệu kết hợp cấp hiệu, số hiệu và lễ phục riêng biệt của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sỹ quan và hạ sỹ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 7 năm 1962 dưới sự ký duyệt của Hoàng Văn Hoan và chính thức phát sinh hiệu lực kể từ ngày ban hành.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 34/LCT | Hà Nội, ngày 16 tháng 7 năm 1962 |
PHÁP LỆNH
QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ CẤP BẬC CỦA SĨ QUAN VÀ HẠ SĨ QUAN CẢNH SÁT NHÂN DÂN NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Để tăng cường việc xây dựng Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tăng cường lực lượng giữ gìn trật tự an ninh của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi của nhân dân;
Để xác định trách nhiệm và vinh dự, nâng cao ý thức tổ chức và ý thức kỷ luật của cán bộ và chiến sĩ Cảnh sát nhân dân;
Căn cứ vào điều 53 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định chế độ cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân như sau:
Hệ thống cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân gồm có:
A. Sĩ quan có ba cấp:
1. Cấp tướng có hai bậc:
- Trung tướng
- Thiếu tướng
2. Cấp tá có bốn bậc:
- Đại tá
- Thượng tá
- Trung tá
- Thiếu tá
3. Cấp uý có bốn bậc:
- Đại uý
- Thượng uý
- Trung uý
- Thiếu uý
Chuẩn uý là cấp bậc chuẩn bị lên sĩ quan.
B. Hạ sĩ quan có ba bậc:
- Thượng sĩ
- Trung sĩ
- Hạ sĩ
Việc xét phong cấp bậc cho cán bộ và chiến sĩ Cảnh sát nhân dân căn cứ vào phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ, chức vụ hiện tại, thành tích phục vụ trong Công an, trong Cảnh sát nhân dân và công lao đối với cách mạng của cán bộ và chiến sĩ.
Quyền phong cấp bậc đối với sĩ quan và hạ sĩ quan quy định như sau:
Quyền phong các cấp bậc từ thượng tá trở lên theo như quy định đối với các cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân;
Bộ trưởng Bộ Công an phong các cấp bậc từ chuẩn uý đến trung tá;
Quyền phong cấp bậc đối với hạ sĩ quan do Hội đồng Chính phủ quy định.
Việc xét thăng cấp bậc cho sĩ quan và hạ sĩ quan căn cứ vào nhu cầu công tác, vào phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ, thành tích chiến đấu, thành tích công tác và niên hạn ở cấp bậc hiện tại của sĩ quan và hạ sĩ quan.
Niên hạn tối thiểu của sĩ quan và hạ sĩ quan để được xét thăng cấp bậc quy định như sau:
- từ hạ sĩ lên trung sĩ hai năm
- từ trung sĩ lên thượng sĩ hai năm
- từ thượng sĩ lên chuẩn uý hai năm
- từ chuẩn uý lên thiếu uý hai năm
- từ thiếu uý lên trung uý ba năm
- từ trung uý lên thượng uý ba năm
- từ thượng uý lên đại uý bốn năm
- từ đại uý lên thiếu tá bốn năm
- từ thiếu tá lên trung tá bốn năm
- từ trung tá lên thượng tá năm năm
- từ thượng tá lên đại tá năm năm
Thời gian sĩ quan và hạ sĩ quan học tập tại trường quân sự, chính trị, nghiệp vụ đều được tính vào niên hạn để xét thăng cấp bậc.
Những sĩ quan và hạ sĩ quan có công trạng và thành tích đặc biệt trong chiến đấu hoặc trong công tác thì có thể được xét thăng cấp bậc trước khi đủ niên hạn.
Quyền thăng và giáng cấp bậc đối với sĩ quan và hạ sĩ quan quy định như sau:
Quyền thăng lên các cấp bậc từ thượng tá trở lên theo như quy định đối với các cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân;
Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thăng lên các cấp bậc từ trung uý đến trung tá;
Quyền thăng lên các cấp bậc từ trung sĩ lên thiếu uý do Hội đồng Chính phủ quy định.
Người có thẩm quyền thăng lên cấp bậc nào thì có thẩm quyền giáng đối với cấp bậc ấy.
Mỗi lần thăng hoặc giáng cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan chỉ được thăng hoặc giáng một bậc. Trong những trường hợp đặc biệt có thể thăng hoặc giáng nhiều bậc.
Việc thăng hoặc giáng nhiều bậc đối với cấp bậc từ thượng tá trở lên theo như quy định đối với các cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân.
Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thăng nhiều bậc lên các cấp bậc từ thiếu uý đến trung tá và giáng nhiều bậc đối với các cấp bậc từ thiếu uý đến trung tá.
Quyền thăng nhiều bậc lên các cấp bậc từ trung sĩ đến chuẩn uý và giáng nhiều bậc đối với các cấp bậc từ trung sĩ đến chuẩn uý do Hội đồng Chính phủ quy định.
Những sĩ quan và hạ sĩ quan nào bị giáng cấp bậc, thì niên hạn để xét thăng cấp bậc mới sẽ tính từ ngày bị giáng cấp bậc.
Những sĩ quan và hạ sĩ quan bị giáng cấp bậc về sau đã sửa chữa sai lầm, biểu hiện tiến bộ, hoặc có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, trong công tác thì có thể xét thăng cấp bậc trước khi đủ niên hạn.
Những sĩ quan và hạ sĩ quan phạm pháp bị Toà án xử phạt tù thì bị tước cấp bậc.
Trong trường hợp một sĩ quan hoặc một hạ sĩ quan giữ chức vụ phụ thuộc vào một sĩ quan hoặc một hạ sĩ quan có cấp bậc ngang với mình hoặc thấp hơn mình, thì trong khi thi hành nhiệm vụ, người giữ chức vụ phụ thuộc phải phục tùng người giữ chức vụ chính.
Hội đồng Chính phủ quy định cấp hiệu, phù hiệu, phù hiệu có kết hợp cấp hiệu, số hiệu và lễ phục của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân.
Pháp lệnh này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua ngày 16 tháng 7 năm 1962.
| Hoàng Văn Hoan (Đã ký) |
- 1 Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 2 Chỉ thị 219-TTg năm 1997 về việc tăng cường công tác đấu tranh phòng chống, chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 3 Nghị định 113-CP năm 1962 Quy định thẩm quyền phong cấp bậc đối với hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân, quyền thăng, giáng đối với các cấp bậc từ trung sĩ đến thiếu uý Cảnh sát nhân dân và quy định về cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu của Cảnh sát nhân dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 1 Hiến pháp năm 1959
- 2 Chỉ thị 219-TTg năm 1997 về việc tăng cường công tác đấu tranh phòng chống, chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 3 Nghị định 113-CP năm 1962 Quy định thẩm quyền phong cấp bậc đối với hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân, quyền thăng, giáng đối với các cấp bậc từ trung sĩ đến thiếu uý Cảnh sát nhân dân và quy định về cấp hiệu, phù hiệu, số hiệu của Cảnh sát nhân dân do Hội đồng Chính phủ ban hành