Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam năm 1989 được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 28 tháng 01 năm 1989, quy định toàn diện về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và chế độ chính sách đối với Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng xác định Cảnh sát nhân dân là lực lượng vũ trang nòng cốt của Nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Pháp lệnh áp dụng đối với toàn thể cán bộ, chiến sĩ thuộc Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam; đồng thời quy định trách nhiệm, nghĩa vụ phối hợp, giám sát của các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và mọi công dân Việt Nam trong công tác giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động của Lực lượng Cảnh sát nhân dân
- Lực lượng Cảnh sát nhân dân là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ), sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cùng cấp và chịu sự chỉ huy tập trung, thống nhất của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an).
- Hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và chịu sự giám sát trực tiếp của nhân dân. Các cơ quan, tổ chức và công dân có quyền phê bình, góp ý, khiếu nại, tố cáo các hành vi sai trái của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân.
- Có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang khác, lực lượng nửa vũ trang, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và dựa vào sức mạnh của toàn dân để thực hiện nhiệm vụ. Ngược lại, các cơ quan, tổ chức và công dân có nghĩa vụ cộng tác, giúp đỡ Cảnh sát nhân dân hoàn thành nhiệm vụ.
Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Cảnh sát nhân dân
- Đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật: Chủ động phòng ngừa, phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và kiến nghị biện pháp khắc phục; thực hiện xử phạt hành chính theo quy định; tiến hành các hoạt động điều tra và đề nghị truy tố người phạm tội theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.
- Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông: Giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt; cấp và kiểm tra đăng ký, bằng lái, giấy phép sử dụng phương tiện giao thông đường bộ; phối hợp kiểm tra an toàn phương tiện đường thủy, đường sắt khi có dấu hiệu vi phạm.
- Quản lý giam giữ, cải tạo và thi hành án: Thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam; thi hành các bản án phạt tù (trừ các bản án do Quân đội đảm nhiệm); giáo dục, cải tạo phạm nhân và quản lý người đưa vào trường giáo dưỡng; áp giải bị cáo, bảo vệ các phiên tòa và hỗ trợ cưỡng chế thi hành án dân sự khi có yêu cầu.
- Phối hợp bảo vệ an ninh quốc gia: Cộng tác với Lực lượng An ninh nhân dân ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia; bảo vệ an toàn các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn khách quốc tế, cơ quan ngoại giao; phối hợp với Quân đội nhân dân bảo vệ các hoạt động quân sự và giải quyết vi phạm của quân nhân.
- Quản lý hành chính về trật tự xã hội: Thực hiện quản lý hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, kiểm tra cư trú, đi lại; quản lý công tác phòng cháy và chữa cháy; đăng ký, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ (trừ phần do Quân đội quản lý); quản lý các ngành nghề kinh doanh đặc biệt.
- Hỗ trợ xã hội và xây dựng phong trào: Đấu tranh chống tệ nạn xã hội, thiên tai, dịch bệnh, cứu nạn cứu hộ; hướng dẫn, huấn luyện nghiệp vụ cho các lực lượng bán chuyên trách, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân.
Các quyền hạn đặc biệt khi thi hành nhiệm vụ
- Ưu tiên sử dụng phương tiện: Được ưu tiên đi lại bằng phương tiện giao thông công cộng và miễn cước phí trong đô thị. Trong trường hợp cấp thiết (đuổi bắt tội phạm quả tang, truy nã, ngăn chặn tội phạm, cấp cứu người bị nạn), được quyền sử dụng phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của cơ quan, tổ chức và cá nhân (trừ phương tiện ngoại giao) và phải hoàn trả ngay sau đó, nếu hư hỏng phải bồi thường.
- Hạn chế đi lại và đình chỉ hành vi vi phạm: Được tạm đình chỉ đi lại ở những đoạn đường nhất định trong tình huống cấp thiết; tạm đình chỉ hoặc đình chỉ các hành vi có hại đến trật tự, an toàn xã hội và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó.
- Vào chỗ ở và trụ sở: Được vào chỗ ở của công dân, trụ sở cơ quan, tổ chức để đuổi bắt người phạm tội quả tang, người trốn nã, ngăn chặn tội phạm hoặc loại trừ nguy hiểm trực tiếp đe dọa tính mạng người dân.
- Sử dụng vũ lực, công cụ hỗ trợ và nổ súng: Được sử dụng biện pháp nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ và dùng vũ lực khi bị chống cự. Chỉ được nổ súng trong các trường hợp: bảo vệ tính mạng công dân; ngăn chặn tấn công mục tiêu bảo vệ; bắt giữ tội phạm dùng vũ khí chống trả hoặc bỏ trốn sau khi dùng công cụ hỗ trợ không hiệu quả; bảo vệ tính mạng bản thân khi bị đe dọa trực tiếp. Trước khi bắn phải hô hoặc nổ súng cảnh cáo (trừ trường hợp cấp bách) và phải cấp cứu người bị thương.
Mối quan hệ với chính quyền địa phương và nhân dân
- Chỉ huy Cảnh sát nhân dân địa phương phải định kỳ báo cáo Hội đồng nhân dân, thường xuyên báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp và chịu sự chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong công tác bảo vệ trật tự xã hội tại địa phương.
- Báo cáo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp để phối hợp vận động nhân dân; có trách nhiệm giải quyết kịp thời các kiến nghị của Mặt trận và nhân dân về công tác trật tự xã hội cũng như các hành vi sai trái của cán bộ, chiến sĩ.
- Trường hợp công dân được huy động tham gia bảo vệ trật tự bị thiệt hại về vật chất, sức khỏe hoặc tính mạng thì bản thân và gia đình được bồi thường, hưởng chế độ ưu đãi theo quy định.
Hệ thống tổ chức, chế độ phục vụ và cấp bậc hàm
- Cảnh sát nhân dân được tổ chức thống nhất theo hệ thống đơn vị hành chính nhà nước. Sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp; hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp hoặc nghĩa vụ (chế độ nghĩa vụ áp dụng cho Cảnh sát cơ động, Cảnh sát bảo vệ và Cảnh sát chữa cháy). Thời gian phục vụ nghĩa vụ được tính là nghĩa vụ quân sự.
- Hệ thống cấp bậc hàm gồm 5 cấp và 16 bậc: Cấp Tướng (Đại tướng, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng); Cấp Tá (Đại tá, Trung tá, Thiếu tá); Cấp Úy (Đại úy, Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy); Cấp Hạ sĩ quan (Thượng sĩ, Trung sĩ, Hạ sĩ); Cấp Chiến sĩ (Chiến sĩ bậc 1, Chiến sĩ bậc 2).
- Thời hạn xét thăng cấp bậc hàm đối với sĩ quan: Thiếu úy lên Trung úy (2 năm); Trung úy lên Thượng úy (2 năm); Thượng úy lên Đại úy (3 năm); Đại úy lên Thiếu tá (4 năm); Thiếu tá lên Trung tá (4 năm); Trung tá lên Đại tá (5 năm). Cấp Tướng không quy định thời hạn thăng cấp.
- Thẩm quyền phong, thăng cấp bậc hàm: Hội đồng Nhà nước phong, thăng hàm Đại tướng, Thượng tướng; Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng phong, thăng hàm Trung tướng, Thiếu tướng; Bộ trưởng Bộ Nội vụ phong, thăng hàm từ Đại tá đến Thiếu úy.
Nghĩa vụ, quyền lợi và kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ
- Cán bộ, chiến sĩ phải thực hiện nghiêm túc 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân: trung thành với Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, điều lệnh; dũng cảm, cảnh giác; tận tụy phục vụ nhân dân; không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ.
- Được hưởng lương, phụ cấp thâm niên, phụ cấp khác (đối với chế độ chuyên nghiệp) hoặc chế độ cung cấp (đối với chế độ nghĩa vụ). Được khen thưởng, tặng danh hiệu vinh dự khi có thành tích; gia đình được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước.
- Cán bộ, chiến sĩ vi phạm điều lệnh, kỷ luật sẽ bị xử lý nghiêm khắc; nếu hành vi cấu thành tội phạm sẽ bị truy tố trước Tòa án nhân dân.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam năm 1989 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành (ngày 28 tháng 01 năm 1989) và thay thế cho các văn bản sau:
- Pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ngày 16-7-1962;
- Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ngày 16-7-1962;
- Pháp lệnh quy định cơ quan phụ trách quản lý công tác phòng cháy, chữa cháy và chế độ cấp bậc của sĩ quan, hạ sĩ quan phòng cháy và chữa cháy ngày 23-3-1963.
Hội đồng bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 14-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 1989 |
CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC SỐ 14-LCT/HĐNN8 NGÀY 28/01/1989 VỀ LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN VIỆT NAM
Để tăng cường bảo vệ trật tự, an toàn xã hội ;
Để xây dựng Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ;
Căn cứ vào Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;
Pháp lệnh này quy định về Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam.
Lực lượng Cảnh sát nhân dân là lực lượng nòng cốt của Nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ trật tự, an toàn xã hội. Trong phạm vi chức năng của mình, Lực lượng Cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội nhằm bảo vệ cuộc sống tự do, hạnh phúc, lao động hoà bình của nhân dân, tính mạng, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội ; bảo vệ chế độ kinh tế, sở hữu xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, nếp sống văn minh, lành mạnh trong nhân dân.
Lực lượng Cảnh sát nhân dân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, chịu sự giám sát của nhân dân.
Các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và mọi công dân có quyền phê bình, góp ý kiến xây dựng Lực lượng Cảnh sát nhân dân; khiếu nại, tố cáo những việc làm sai trái và yêu cầu cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Các lực lượng vũ trang và nửa vũ trang, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mỗi công dân có trách nhiệm cộng tác, giúp đỡ Lực lượng Cảnh sát nhân dân làm tròn nhiệm vụ.
NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN VIỆT NAM
Lực lượng Cảnh sát nhân dân thực hiện việc xử phạt hành chính đối với các vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân tiến hành theo các hoạt động điều tra và đề nghị truy tố người phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.
Lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp với Quân đội nhân dân, bảo vệ an toàn các hoạt động của Quân đội nhân dân khi có yêu cầu và giải quyết những việc vi phạm trật tự, an toàn xã hội của quân nhân.
Lực lượng Cảnh sát nhân dân quản lý công tác phòng cháy và chữa cháy ; đăng ký, quản lý vũ khí, trừ vũ khí, khí tài do Quân đội nhân dân quản lý ; kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo quản, vận chuyển, sử dụng chất nổ, chất dễ cháy, chất độc, chất phóng xạ ; quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Chỉ huy Lực lượng cảnh sát nhân dân địa phương có trách nhiệm báo cáo với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về những vấn đề liên quan để phối hợp vận động nhân dân bảo vệ trật tự, an toàn xã hội.
Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận về công tác bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, về những việc làm trái pháp luật của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân.
Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân trong khi làm nhiệm vụ có thể mời người chứng kiến hoặc yêu cầu người có vi phạm đến cơ quan cảnh sát để hỏi hoặc để họ trình bày về việc vi phạm trật tự, an toàn xã hội.
2- Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân chỉ được nổ súng trong các trường hợp sau đây :
a) Để bảo vệ công dân khi bị người khác trực tiếp đe doạ tính mạng ;
b) Để ngăn chặn sự tấn công vào mục tiêu phải bảo vệ ;
c) Để bắt giữ người có hành vi phạm tội khi họ dùng vũ khí chống lại hoặc sau khi đã sử dụng các công cụ hỗ trợ mà không có hiệu quả ;
d) Để bắt người có hành vi phạm tội nghiêm trọng đang bị giữ, bị giam mà chạy trốn, nếu đã sử dụng các công cụ hỗ trợ vẫn không thể bắt giữ được ;
đ) Để bảo vệ bản thân cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân trong khi làm nhiệm vụ mà bị người khác trực tiếp đe doạ tính mạng.
Trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều này, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân chỉ được bắn sau khi đã hô hoặc nổ súng cảnh cáo, trừ trường hợp cấp bách ; nếu có người bị thương thì phải tổ chức cấp cứu.
Nếu không đồng ý với các quyết định của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân, người bị xử lý có quyền khiếu nại với chỉ huy trực tiếp của người đã ra quyết định. Khiếu nại đối với quyết định của chỉ huy Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp dưới được gửi đến chỉ huy Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp trên.
Chỉ huy Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp có thẩm quyền phải giải quyết và thông báo kết quả cho người khiếu nại biết trong thời hạn 15 ngày và nếu là trường hợp phức tạp thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi nhận được khiếu nại.
Nếu phát hiện thấy quyết định của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân là trái pháp luật thì chỉ huy của người đã ra quyết định phải huỷ bỏ ngay quyết định đó, phục hồi các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm phạm.
TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN VIỆT NAM
Hệ thống tổ chức, bộ máy, trang bị phương tiện kỹ thuật về chuyên môn - nghiệp vụ và các phương tiện hoạt động khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Chế độ nghĩa vụ trong Lực lượng Cảnh sát nhân dân do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ trong Lực lượng Cảnh sát nhân dân được coi là làm nghĩa vụ quân sự.
Hệ thống cấp bậc hàm quy định như sau :
Cấp tướng có 4 bậc :
Đại tướng,
Thượng tướng,
Trung tướng,
Thiếu tướng ;
Cấp tá có 3 bậc :
Đại tá,
Trung tá,
Thiếu tá ;
Cấp uý có 4 bậc :
Đại uý,
Thượng uý,
Trung uý,
Thiếu uý ;
Cấp hạ sĩ quan có 3 bậc :
Thượng sĩ,
Trung sĩ,
Hạ sĩ ;
Cấp chiến sĩ có 2 bậc :
Chiến sĩ bậc 1,
Chiến sĩ bậc 2.
Sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân ở mỗi cấp bậc hàm phải tốt nghiệp một cấp đào tạo nhất định theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
Thời gian xét thăng cấp bậc hàm đối với sĩ quan quy định như sau :
Thiếu uý lên trung uý : 2 năm,
Trung uý lên thượng uý : 2 năm,
Thượng uý lên đại uý : 3 năm,
Đại uý lên thiếu tá : 4 năm,
Thiếu tá lên trung tá : 4 năm,
Trung tá lên đại tá : 5 năm.
Việc xét thăng bậc hàm cấp tướng không quy định thời hạn.
Quyền phong và thăng cấp bậc hàm trong Lực lượng Cảnh sát nhân dân quy định như sau :
Hội đồng Nhà nước phong, thăng bậc hàm đại tướng, thượng tướng ;
Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng phong, thăng bậc hàm trung tướng, thiếu tướng ;
Bộ trưởng Bộ Nội vụ phong, thăng cấp bậc hàm từ đại tá đến thiếu uý.
Thời hạn và quyền xét phong, thăng cấp bậc hàm đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Cấp có quyền phong, thăng cấp bậc hàm nào thì được quyền tước, giáng cấp bậc hàm ấy.
Việc thăng hoặc giáng cấp bậc sĩ quan, mỗi lần chỉ được một bậc; trong trường hợp đặc biệt mới được thăng hoặc giáng nhiều bậc.
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA SĨ QUAN, HẠ SĨ QUAN CHIẾN SĨ CẢNH SÁT NHÂN DÂN
1- Trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhà nước và nhân dân ;
2- Nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệnh, Điều lệ của Lực lượng Cảnh sát nhân dân, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên ;
3- Nêu cao tính trung thực, dũng cảm, bình tĩnh, linh hoạt, cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và công tác, góp phần củng cố sự tín nhiệm và niềm tin của nhân dân đối với Lực lượng Cảnh sát nhân dân ;
4- Tận tuỵ phục vụ nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân, không ngừng rèn luyện tư thế, tác phong, có thái độ kính trọng, lễ phép, lịch thiệp khi tiếp xúc với nhân dân ;
5- Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, thường xuyên trau dồi phẩm chất cách mạng, tính tổ chức kỷ luật và rèn luyện thể lực để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Hạ sĩ quan, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân phục vụ theo chế độ nghĩa vụ được hưởng chế độ cung cấp theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
- Pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ngày 16-7-1962 ;
- Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sĩ quan, hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ngày 16-7-1962 ;
- Pháp lệnh quy định cơ quan phụ trách quản lý công tác phòng cháy, chữa cháy và chế độ cấp bậc của sĩ quan, hạ sĩ quan phòng cháy và chữa cháy ngày 23-3-1963.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1 Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sỹ quan và hạ sỹ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1962
- 2 Pháp lệnh Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1962
- 3 Pháp lệnh về cơ quan phụ trách quản lý công tác phòng cháy và chữa cháy và chế độ cấp bậc của sỹ quan và hạ sỹ quan phòng cháy và chữa cháy năm 1963
- 1 Nghị định 50-HĐBT năm 1989 quy định chế độ nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong Lực lượng công an nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Nghị định 67-HĐBT năm 1989 quy định cờ hiệu, cảnh sát hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, phù hiệu kết hợp cấp hiệu, lễ phục và trang phục của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Nghị định 167-HĐBT năm 1991 sửa đổi Nghị định 50-HĐBT năm 1989 về chế độ nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công an nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4 Nghị định 17-CP năm 1992 về việc quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt
- 5 Thông tư liên tịch 02-TTLN năm 1993 hướng dẫn bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 6 Thông tư liên tịch 07-89/TTLN năm 1989 hướng dẫn bảo vệ cưỡng chế thi hành án do Bộ Nội vụ - Toà án nhân dân tối cao ban hành
- 1 Luật Công an nhân dân 2005
- 2 Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sỹ quan và hạ sỹ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1962
- 3 Pháp lệnh Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1962
- 4 Pháp lệnh về cơ quan phụ trách quản lý công tác phòng cháy và chữa cháy và chế độ cấp bậc của sỹ quan và hạ sỹ quan phòng cháy và chữa cháy năm 1963
- 5 Chỉ thị 219-TTg năm 1997 về việc tăng cường công tác đấu tranh phòng chống, chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 6 Công văn về việc tiếp nhận hồ sơ BHXH đối với lực lượng vũ trang
- 7 Quyết định 595/TTg năm 1993 về chế độ đối với quân nhân, công an nhân dân khi xuất ngũ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1 Luật Công an nhân dân 2005
- 2 Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sỹ quan và hạ sỹ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1962
- 3 Pháp lệnh Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1962
- 4 Pháp lệnh về cơ quan phụ trách quản lý công tác phòng cháy và chữa cháy và chế độ cấp bậc của sỹ quan và hạ sỹ quan phòng cháy và chữa cháy năm 1963
- 5 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam năm 1991 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 1 Hiến pháp năm 1980
- 2 Nghị định 50-HĐBT năm 1989 quy định chế độ nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong Lực lượng công an nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Nghị định 67-HĐBT năm 1989 quy định cờ hiệu, cảnh sát hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, phù hiệu kết hợp cấp hiệu, lễ phục và trang phục của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4 Nghị định 167-HĐBT năm 1991 sửa đổi Nghị định 50-HĐBT năm 1989 về chế độ nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công an nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5 Nghị định 17-CP năm 1992 về việc quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt
- 6 Thông tư liên tịch 02-TTLN năm 1993 hướng dẫn bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 7 Chỉ thị 219-TTg năm 1997 về việc tăng cường công tác đấu tranh phòng chống, chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 8 Công văn về việc tiếp nhận hồ sơ BHXH đối với lực lượng vũ trang
- 9 Thông tư liên tịch 07-89/TTLN năm 1989 hướng dẫn bảo vệ cưỡng chế thi hành án do Bộ Nội vụ - Toà án nhân dân tối cao ban hành
- 10 Quyết định 595/TTg năm 1993 về chế độ đối với quân nhân, công an nhân dân khi xuất ngũ do Thủ tướng Chính phủ ban hành