Năm 1991, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh về lực lượng an ninh nhân dân Việt Nam do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công ký ban hành. Văn bản này tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định quan trọng liên quan đến hệ thống cấp bậc hàm, thời hạn thăng cấp, hệ thống chức vụ, chế độ tiền lương, phụ cấp cũng như việc xử lý vi phạm đối với cán bộ, chiến sĩ thuộc Lực lượng An ninh nhân dân.
Phạm vi áp dụng của Pháp lệnh bao gồm các quy định về tổ chức nhân sự, chế độ chính sách và kỷ luật trong Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam. Đối tượng áp dụng trực tiếp là toàn thể sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam, cùng các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm quản lý và thi hành.
Sửa đổi, bổ sung hệ thống cấp bậc hàm của cán bộ, chiến sĩ
Pháp lệnh đã quy định lại một cách chi tiết hệ thống cấp bậc hàm của cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân được Nhà nước phong hàm, bao gồm các cấp và bậc cụ thể sau:
- Cấp tướng: Gồm bốn bậc là Đại tướng, Thượng tướng, Trung tướng và Thiếu tướng.
- Cấp tá: Gồm bốn bậc là Đại tá, Thượng tá, Trung tá và Thiếu tá.
- Cấp uý: Gồm bốn bậc là Đại uý, Thượng uý, Trung uý và Thiếu uý.
- Cấp hạ sĩ quan: Gồm ba bậc là Thượng sĩ, Trung sĩ và Hạ sĩ.
- Cấp chiến sĩ: Gồm hai bậc là Chiến sĩ bậc một và Chiến sĩ bậc hai.
Đồng thời, văn bản bổ sung điều kiện bắt buộc đối với sĩ quan, hạ sĩ quan An ninh nhân dân ở mỗi cấp bậc hàm là phải tốt nghiệp một cấp đào tạo nhất định theo quy định cụ thể của Hội đồng bộ trưởng.
Quy định về thời hạn xét thăng cấp bậc hàm đối với sĩ quan
Thời hạn xét thăng cấp bậc hàm đối với sĩ quan An ninh nhân dân được điều chỉnh cụ thể như sau:
- Từ Thiếu uý lên Trung uý: Thời hạn là hai năm.
- Từ Trung uý lên Thượng uý: Thời hạn là ba năm.
- Từ Thượng uý lên Đại uý: Thời hạn là ba năm.
- Từ Đại uý lên Thiếu tá: Thời hạn là bốn năm.
- Từ Thiếu tá lên Trung tá: Thời hạn là bốn năm.
- Từ Trung tá lên Thượng tá: Thời hạn là bốn năm.
- Từ Thượng tá lên Đại tá: Thời hạn là bốn năm.
Đối với việc xét thăng cấp bậc hàm cấp tướng, Pháp lệnh quy định không áp dụng thời hạn định trước. Ngoài ra, thời gian học tập của sĩ quan tại các trường đào tạo cũng được tính vào thời hạn để xét thăng cấp bậc hàm.
Bổ sung quy định về hệ thống chức vụ và trần cấp bậc hàm
Pháp lệnh bổ sung Điều 19b quy định về mối quan hệ giữa chức vụ và cấp bậc hàm:
- Hệ thống chức vụ trong Lực lượng An ninh nhân dân sẽ do Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể.
- Mỗi chức vụ chỉ được bố trí tối đa ba cấp bậc hàm kế tiếp nhau.
- Trong trường hợp sĩ quan đã đạt cấp bậc hàm cao nhất của chức vụ đang đảm nhiệm, có đủ tiêu chuẩn và đến thời hạn xét thăng cấp nhưng không có nhu cầu bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn, thì sẽ không thực hiện thăng cấp bậc hàm mà chuyển sang xét nâng mức lương theo quy định về chế độ tiền lương của sĩ quan.
Chế độ tiền lương, phụ cấp và cung cấp
Chế độ đãi ngộ đối với lực lượng được phân chia rõ ràng theo tính chất phục vụ:
- Đối với lực lượng phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp: Sĩ quan, hạ sĩ quan được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định. Trong đó, phụ cấp thâm niên được tính dựa trên thời gian phục vụ tại ngũ. Những người làm nhiệm vụ có tính chất đặc thù sẽ được hưởng thêm các khoản phụ cấp khác tương ứng.
- Đối với lực lượng phục vụ theo chế độ nghĩa vụ: Hạ sĩ quan và chiến sĩ được hưởng chế độ cung cấp theo các quy định do Hội đồng bộ trưởng ban hành.
Xử lý vi phạm kỷ luật và pháp luật
Nhằm tăng cường tính nghiêm minh, Pháp lệnh quy định rõ chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm:
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ An ninh nhân dân nếu vi phạm Điều lệnh, Điều lệ của Lực lượng An ninh nhân dân thì sẽ bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc.
- Trong trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu cấu thành tội phạm, người vi phạm sẽ bị truy tố trước Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật hình sự.
Hiệu lực và hướng dẫn thi hành
Hội đồng bộ trưởng chịu trách nhiệm ban hành các quy định chi tiết để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này trên thực tế. Văn bản được ký xác thực bởi Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 60-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 1991 |
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA PHÁP LỆNH VỀ LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam đã được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 2 tháng 11 năm 1987.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam như sau:
1- Điều 17 về cấp bập hàm của cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 17
Cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân được Nhà nước phong hàm cấp tướng, cấp tá, cấp uý, cấp hạ sĩ quan và chiến sĩ.
Hệ thống cấp bậc hàm quy định như sau:
Cấp tướng có bốn bậc: Đại tướng,
Thượng tướng,
Trung tướng,
Thiếu tướng;
Cấp tá có bốn bậc: Đại tá,
Thượng tá,
Trung tá,
Thiếu tá;
Cấp uý có bốn bậc: Đại uý,
Thượng uý,
Trung uý,
Thiếu uý;
Cấp hạ sĩ quan có ba bậc: Thượng sĩ,
Trung sĩ,
Hạ sĩ;
Cấp chiến sĩ có hai bậc: Chiến sĩ bậc một,
Chiến sĩ bậc hai.
Sĩ quan, hạ sĩ quan An ninh nhân dân ở mỗi cấp bậc hàm phải tốt nghiệp một cấp đào tạo nhất định theo quy định của Hội đồng bộ trưởng."
2- Đoạn 2 Điều 18 về thời hạn xét thăng cấp bậc hàm đối với sĩ quan An ninh nhân dân được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Thời hạn xét thăng cấp bậc hàm đối với sĩ quan quy định như sau:
Thiếu uý lên trung uý : hai năm,
Trung uý lên thượng uý: ba năm,
Thượng uý lên đại uý : ba năm,
Đại uý lên thiếu tá : bốn năm,
Thiếu tá lên trung tá : bốn năm,
Trung tá lên thượng tá: bốn năm,
Thượng tá lên đại tá : bốn năm.
Việc xét thăng cấp bậc hàm cấp tướng không định thời hạn.
Thời hạn học tập tại trường được tính vào thời hạn để xét thăng cấp bậc hàm."
3- Bổ sung một điều mới như sau:
"Điều 19b
Hệ thống chức vụ trong Lực lượng An ninh nhân dân do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Mỗi chức vụ được bố trí nhiều nhất ba cấp bậc hàm kế tiếp. Trong trường hợp sĩ quan có cấp bậc hàm cao nhất của chức vụ đang đảm nhiệm, đủ tiêu chuẩn và đã đến thời hạn xét thăng cấp bậc hàm nhưng không có nhu cầu bổ nhiệm chức vụ cao hơn, thì không thăng cấp bậc hàm mà được xét nâng mức lương theo quy định về chế độ tiền lương của sĩ quan."
4- Điều 24 về chế độ tiền lương và phụ cấp của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ An ninh nhân dân được sửa đổi , bổ sung như sau:
"Điều 24
Sĩ quan, hạ sĩ quan An ninh nhân dân phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Phụ cấp thâm niên được tính theo thời gian phục vụ tại ngũ; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ An ninh nhân dân làm nhiệm vụ có tính chất đặc thù còn được hưởng các khoản phụ cấp khác.
Hạ sĩ quan, chiến sĩ An ninh nhân dân phục vụ theo chế độ nghĩa vụ được hưởng chế độ cung cấp theo quy định của Hội đồng bộ trưởng."
5- Điều 28 về việc xử lý cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân vi phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 28
Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ An ninh nhân dân nào vi phạm Điều lệnh, Điều lệ của Lực lượng An ninh nhân dân, thì bị xử lý kỷ luật; nếu phạm tội, thì bị truy tố trước Toà án nhân dân."
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |