Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Giới thiệu chung về văn bản

Văn bản "Quy tắc hành động của Cán bộ thi hành pháp luật 1979" (không rõ số hiệu, cơ quan ban hành, ngày ban hành và hiệu lực) là một tài liệu pháp lý thiết lập các chuẩn mực đạo đức, nguyên tắc hành nghề và giới hạn quyền lực cho lực lượng thi hành pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người và duy trì trật tự xã hội. Dưới đây là tóm tắt chi tiết và chuyên sâu về các nội dung cốt lõi của văn bản này:

1. Trách nhiệm phục vụ cộng đồng và bảo vệ pháp luật (Điều 1)

  • Đối tượng áp dụng: Khái niệm "cán bộ thi hành pháp luật" bao gồm tất cả cán bộ pháp luật được bổ nhiệm hoặc bầu cử có quyền lực cảnh sát (đặc biệt là quyền bắt và giam giữ). Quy định này cũng áp dụng cho quân nhân hoặc các lực lượng an ninh quốc gia thực hiện quyền lực cảnh sát.
  • Nhiệm vụ cốt lõi: Phục vụ cộng đồng và bảo vệ mọi người chống lại các hành vi bất hợp pháp theo đúng mức độ trách nhiệm nghề nghiệp cao nhất.
  • Phạm vi bảo vệ: Không chỉ giới hạn ở các hành vi gây hại, cướp bóc, bạo lực mà còn mở rộng đến tất cả các hành vi bị cấm theo quy định hình sự, bao gồm cả hành vi của những người không có năng lực trách nhiệm hình sự.
  • Hỗ trợ khẩn cấp: Thực hiện các dịch vụ trợ giúp ngay lập tức cho các thành viên trong cộng đồng khi họ cần sự trợ giúp vì lý do cá nhân, kinh tế, xã hội hoặc các tình huống cấp thiết khác.

2. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người (Điều 2)

  • Nghĩa vụ nhân phẩm: Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ thi hành pháp luật phải tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm và nêu cao quyền con người của tất cả mọi người.
  • Cơ sở pháp lý quốc tế: Các quyền con người này được công nhận và bảo vệ bởi cả pháp luật quốc gia và quốc tế, tiêu biểu như: Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước chống tra tấn, Công ước về loại trừ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, và các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân.

3. Nguyên tắc sử dụng vũ lực và công cụ hỗ trợ (Điều 3)

  • Tính cần thiết và tương xứng: Việc sử dụng vũ lực chỉ được phép trong trường hợp ngoại lệ, khi thật sự cần thiết và trong phạm vi tối thiểu để thực hiện nhiệm vụ (ngăn ngừa tội phạm, bắt giữ hợp pháp). Tuyệt đối không sử dụng vũ lực vượt quá mức tương xứng với mục tiêu chính đáng cần đạt được.
  • Hạn chế tối đa việc sử dụng súng: Sử dụng súng được coi là biện pháp cực đoan. Cần nỗ lực loại trừ việc dùng súng, đặc biệt là chống lại trẻ em. Chỉ sử dụng súng khi đối tượng tình nghi sử dụng súng để chống trả hoặc đe dọa tính mạng người khác và không còn biện pháp nào ít cực đoan hơn để ngăn chặn.
  • Nghĩa vụ báo cáo: Mọi trường hợp nổ súng đều phải được báo cáo ngay lập tức cho cơ quan có thẩm quyền.

4. Nghĩa vụ bảo mật thông tin (Điều 4)

  • Nguyên tắc giữ bí mật: Các thông tin liên quan đến đời tư hoặc có thể gây hại đến uy tín, lợi ích của người khác mà cán bộ nắm được trong quá trình thực thi nhiệm vụ phải được giữ bí mật tuyệt đối.
  • Trường hợp ngoại lệ: Chỉ được phép tiết lộ thông tin khi việc thực hiện nhiệm vụ hoặc yêu cầu của công lý đòi hỏi. Việc tiết lộ vì bất kỳ mục đích nào khác đều là hành vi sai trái.

5. Tuyệt đối cấm tra tấn và đối xử tàn ác (Điều 5)

  • Nghiêm cấm tuyệt đối: Không một cán bộ thi hành pháp luật nào được gây ra, xúi giục hoặc dung thứ cho bất kỳ hành động tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn ác, vô nhân đạo, hạ thấp nhân phẩm.
  • Không có ngoại lệ biện minh: Không được viện dẫn mệnh lệnh của cấp trên hoặc các hoàn cảnh ngoại lệ (chiến tranh, đe dọa an ninh quốc gia, bất ổn chính trị, tình trạng khẩn cấp) để biện hộ cho hành vi tra tấn.
  • Định nghĩa tra tấn: Là hành vi cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hoặc tinh thần do viên chức nhà nước thực hiện hoặc xúi giục nhằm lấy thông tin, thú tội, trừng phạt hoặc đe dọa. Khái niệm này không bao gồm những đau đớn phát sinh từ các chế tài hợp pháp phù hợp với Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu đối với tù nhân.

6. Bảo vệ sức khỏe và chăm sóc y tế cho người bị giam giữ (Điều 6)

  • Trách nhiệm bảo đảm y tế: Phải bảo vệ sức khỏe đầy đủ cho người bị giam giữ và hành động ngay lập tức để cung cấp sự chăm sóc y tế (từ nhân viên y tế có chứng chỉ hoặc bán chuyên nghiệp) khi có yêu cầu hoặc khi cần thiết.
  • Tôn trọng chuyên môn y tế: Phải cân nhắc đánh giá của nhân viên y tế khi họ đề nghị cho người bị giam giữ được điều trị hoặc tham khảo ý kiến từ các nhân viên y tế độc lập ngoài lực lượng thi hành pháp luật.
  • Đối tượng mở rộng: Trách nhiệm chăm sóc y tế áp dụng cho cả các nạn nhân của hành vi vi phạm pháp luật hoặc tai nạn xảy ra trong quá trình vi phạm pháp luật.

7. Phòng, chống tham nhũng trong thi hành pháp luật (Điều 7)

  • Thái độ kiên quyết: Nghiêm cấm mọi hành vi tham nhũng hoặc lạm dụng quyền lực. Cán bộ phải kiên quyết phản đối và đấu tranh chống lại mọi hành vi này.
  • Định nghĩa hành vi tham nhũng: Bao gồm cả hành động hoặc không hành động trong khi làm nhiệm vụ (hoặc liên quan đến nhiệm vụ) để nhận quà tặng, lời hứa, khoản bồi dưỡng một cách sai trái. Quy định này áp dụng cho cả hành vi tham nhũng chưa đạt.
  • Tính nghiêm minh: Pháp luật phải được thi hành đầy đủ đối với chính cán bộ vi phạm để đảm bảo tính thượng tôn pháp luật trước nhân dân.

8. Tôn trọng pháp luật, giám sát và báo cáo vi phạm (Điều 8)

  • Nghĩa vụ tuân thủ: Cán bộ phải tôn trọng pháp luật quốc gia và Quy ước này. Nếu luật quốc gia có quy định nghiêm ngặt hơn thì áp dụng quy định nghiêm ngặt hơn đó.
  • Cơ chế báo cáo vi phạm: Khi có lý do tin rằng sự vi phạm Quy ước đã hoặc sắp xảy ra, cán bộ phải báo cáo lên cơ quan cấp trên hoặc cơ quan kiểm tra có thẩm quyền.
  • Bảo vệ người báo cáo: Cán bộ báo cáo vi phạm sẽ không phải chịu bất kỳ hình thức xử phạt hành chính hay kỷ luật nào.
  • Vai trò của truyền thông: Việc đưa thông tin vi phạm ra công luận qua phương tiện thông tin đại chúng được coi là biện pháp cuối cùng hợp pháp khi các biện pháp nội bộ không hiệu quả, phù hợp với luật pháp và phong tục quốc gia.

CÁC QUY TẮC HÀNH ĐỘNG CỦA CÁN BỘ THI HÀNH PHÁP LUẬT, 1979

(Được thông qua bởi Nghị quyết số 34/169 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 17/12/1979).

Điều 1.

Các cán bộ thi hành pháp luật phải luôn luôn hoàn thành nhịêm vụ được pháp luật quy định bằng cách phục vụ cộng đồng và bảo vệ tất cả mọi người chống lại những hành vi bất hợp pháp, theo đúng mức độ trách nhiệm cao mà nghề nghiệp của họ đòi hỏi.

Diễn giải

1. Thuật ngữ “các cán bộ thi hành pháp luật” gồm tất cả những cán bộ pháp luật được bổ nhiệm hay được bầu, thực hiện quyền lực cảnh sát, đặc biệt là các quyền bắt hay giam giữ;

2. Ở những quốc gia mà quyền lực cảnh sát được thực hiện bởi quân nhân, dù mặc quân phục hay không, hoặc bởi các lực lượng an ninh quốc gia, định nghĩa “các cán bộ thi hành pháp luật” phải được coi là gồm tất cả những cán bộ đó;

3. Sự phục vụ cộng đồng bao gồm đặc biệt là việc thực hiện các dịch vụ trợ giúp các thành viên của cộng đồng, những người mà vì lý do cá nhân, kinh tế, xã hội hay những trường hợp cấp thiết khác cần sự trợ giúp ngay lập tức.

4. Điều khoản này không chỉ áp dụng cho tất cả các hành động gây hại, cướp bóc và bạo lực mà còn mở rộng đến những điều cấm theo các quy định hình sự. Nó còn mở rộng đến hành vi của những người không có năng lực trách nhiệm hình sự.

Điều 2.

Trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, các cán bộ thi hành pháp luật phải tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm và duy trì, nêu cao quyền con người của tất cả mọi người.

Diễn giải

1. Các quyền con người nói ở đây được pháp luật quốc gia và quốc tế công nhận và bảo vệ. Trong số những văn kiện quốc tế liên quan có Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm, Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về loại trừ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước quốc tế về loại trừ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước quốc tế về trấn áp và trừng trị tội ác A-pác-thai, Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, Các Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân và Công ước Viên về quan hệ lãnh sự.

2. Những dẫn giải của quốc gia đối với điều khoản này phải nêu rõ các quy định quốc gia hoặc khu vực đã công nhận và bảo vệ những quyền này.

Điều 3.

Các cán bộ thi hành pháp luật có thể sử dụng vũ lực chỉ khi thật cần thiết và trong phạm vi đòi hỏi nhằm thực hiện nhiệm vụ của mình.

Diễn giải

1. Điều khoản này nhấn mạnh rằng các cán bộ thi hành pháp luật chỉ sử dụng vũ lực trong những trường hợp ngoại lệ. Mặc dù điều khoản này hàm ý rằng các cán bộ thi hành pháp luật có thể được phép sử dụng vũ lực khi thật cần thiết trong những trường hợp để ngăn ngừa tội phạm, bắt giữ hoặc hỗ trợ việc bắt giữ theo đúng pháp luật người phạm tội hoặc nghi phạm, nhưng không được dùng vũ lực vượt quá phạm vi cần thiết;

2. Luật pháp quốc gia thường hạn chế việc sử dụng vũ lực của các cán bộ thi hành pháp luật theo nguyên tắc tương xứng. Phải hiểu rằng, những nguyên tắc quốc gia về sự tương xứng như vậy phải được tôn trọng khi giải thích điều khoản này. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng không được hiểu là điều khoản này cho phép sử dụng vũ lực không tương xứng với mục tiêu chính đáng cần đạt được;

3. Việc sử dụng súng được coi là một biện pháp cực đoan. Cần phải nỗ lực nhằm loại trừ việc sử dụng súng, đặc biệt là chống lại trẻ em. Nói chung, không nên sử dụng súng trừ khi người bị tình nghi phạm tội sử dụng súng để chống lại hoặc đe dọa tính mạng của người khác và những biện pháp ít cực đoan hơn lại không đủ để ngăn chặn hoặc bắt giữ kẻ bị tình nghi phạm tội. Trong mọi trường hợp nổ súng, phải báo cáo ngay cho các cơ quan có thẩm quyền.

Điều 4.

Những vấn đề bảo mật mà các cán bộ thi hành pháp luật nắm được phải được giữ bí mật, trừ khi việc thực hiện nhiệm vụ hoặc công lý yêu cầu khác.

Diễn giải

Do tính chất nhiệm vụ của mình, các cán bộ thi hành pháp luật có thể có những thông tin liên quan đến cuộc sống riêng tư hoặc có thể gây hại cho lợi ích và đặc biệt là uy tín của người khác. Cần phải rất thận trọng trong việc bảo vệ và sử dụng những thông tin như vậy, và những thông tin đó chỉ được tiết lộ khi thực hiện nhiệm vụ hoặc phục vụ yêu cầu của công lý. Việc tiết lộ những thông tin như vậy cho các mục đích khác là hoàn toàn sai trái.

Điều 5.

Không một cán bộ thi hành pháp luật nào được gây ra, xúi giục hay dung thứ cho bất kỳ một hành động tra tấn hay trừng phạt hoặc đối xử tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm. Các cán bộ thi hành pháp luật cũng không được viện dẫn những mệnh lệnh cấp trên hay những hoàn cảnh ngoại lệ như là tình trạng chiến tranh hay nguy cơ chiến tranh, mối đe dọa an ninh quốc gia, sự bất ổn chính trị trong nước hay bất kỳ một trường hợp khẩn cấp nào khác để biện minh cho việc tra tấn hay trừng phạt hoặc cách đối xử tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm.

Diễn giải

1. Điều cấm này bắt nguồn từ Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm do Ðại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua, theo đó:

“(Một hành động như vậy) là hành vi vi phạm nhân phẩm và phải bị lên án như là sự phủ nhận những mục đích của Hiến chương Liên Hợp Quốc và sự vi phạm các quyền và tự do cơ bản của con người được nêu ra trong Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người (và những văn kiện quốc tế khác về quyền con người).

2. Tuyên bố định nghĩa tra tấn như sau:

“... tra tấn nghĩa là bất kỳ hành động nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng, về thể xác hay tinh thần, được thực hiện bởi hoặc do sự xúi giục của một viên chức nhà nước gây ra đối với một người nhằm những mục đích như khai thác từ người đó hoặc người thứ ba những thông tin hoặc sự thú tội, trừng phạt người đó vì một hành động mà người đó đã phạm phải hoặc bị nghi đã phạm phải, hoặc đe dọa người đó hay những người khác. Nó không gồm những đau đớn hay đau khổ chỉ phát sinh từ, vốn có hoặc liên quan đến những chế tài hợp pháp trong chừng mực phù hợp với “Các Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu đối với tù nhân”.

3. Thuật ngữ “đối xử vô nhân đạo, tàn ác hay hạ thấp nhân phẩm” chưa được Ðại hội đồng Liên Hợp Quốc định nghĩa nhưng cần được giải thích để mở rộng sự bảo vệ tới mức lớn nhất có thể nhằm chống lại sự lạm dụng, dù về thể xác hay tinh thần.

Điều 6.

Các cán bộ thi hành pháp luật phải đảm bảo bảo vệ sức khỏe đầy đủ cho những người mà họ giam giữ và đặc biệt phải hành động tức thì để bảo đảm sự chăm sóc về y tế khi được yêu cầu.

Diễn giải

1. “Sự chăm sóc về y tế” là những dịch vụ do bất kỳ nhân viên y tế nào, kể cả những người hành nghề y có chứng chỉ và những nhân viên y tế bán chuyên nghiệp, phải được đảm bảo khi cần thiết hay khi được yêu cầu.

2. Khi nhân viên y tế được biệt phái tham gia hoạt động thi hành pháp luật, các cán bộ thi hành pháp luật phải cân nhắc đánh giá của các nhân viên y tế đó khi họ đề nghị cho người bị giam giữ được các nhân viên y tế khác không tham gia hoạt động thi hành pháp luật đó điều trị hoặc tham khảo ý kiến về chế độ điều trị thích hợp.

3. Cần hiểu rằng các cán bộ thi hành pháp luật cũng phải bảo đảm chăm sóc y tế cho những nạn nhân của những hành vi vi phạm pháp luật hoặc do tai nạn xảy ra trong quá trình vi phạm pháp luật.

Điều 7.

Các cán bộ thi hành pháp luật không được có hành vi tham nhũng. Họ phải kiên quyết phản đối và đấu tranh chống mọi hành vi tham nhũng.

Diễn giải

1. Bất kỳ hành vi tham nhũng nào cũng như bất kỳ sự lạm dụng quyền lực nào khác đều trái với nghề nghiệp của các cán bộ thi hành pháp luật. Luật pháp phải được thi hành đầy đủ đối với bất kỳ cán bộ thi hành pháp luật nào có hành vi tham nhũng, vì các chính phủ không thể hy vọng thi hành pháp luật đối với những công dân của mình nếu họ không thể, hay không muốn thi hành pháp luật đối với chính những nhân viên chính phủ và trong phạm vi những cơ quan chính phủ.

2. Mặc dù định nghĩa về tham nhũng tùy thuộc vào luật pháp quốc gia, cần phải hiểu là tham nhũng bao gồm cả hành động hoặc không hành động, trong khi làm nhiệm vụ hoặc liên quan đến những nhiệm vụ của một người, nhằm đáp lại quà tặng, lời hứa, khoản bồi dưỡng đã yêu cầu hoặc đã được chấp nhận, hoặc việc nhận những thứ đó một cách sai trái khi đã thực hiện hành động hoặc không hành động nói trên.

3. Cụm từ “hành vi tham nhũng” nói ở trên cần được hiểu là gồm cả hành vi tham nhũng chưa đạt.

Điều 8.

Các cán bộ thi hành pháp luật phải tôn trọng pháp luật và Quy ước này. Với khả năng cao nhất của mình, họ cũng phải ngăn chặn và kiên quyết chống lại bất kỳ sự vi phạm nào.

Các cán bộ thi hành pháp luật, khi có lý do để tin rằng sự vi phạm Quy ước này đã xảy ra hay sắp xảy ra, phải báo cáo vấn đề với cơ quan có thẩm quyền cấp trên của mình và nếu cần, tới những cơ quan thích hợp có thẩm quyền kiểm tra hoặc giải quyết.

Diễn giải

1. Quy ước này phải được thực hiện kể từ khi nó được đưa vào pháp luật hay thông lệ quốc gia. Nếu pháp luật hay thông lệ đó có những quy định nghiêm ngặt hơn các quy định của Quy ước này thì những quy định nghiêm ngặt đó sẽ được áp dụng.

2. Điều khoản này nhằm duy trì sự cân bằng giữa một bên là nhu cầu kỷ luật nội bộ của cơ quan mà sự an toàn chung phụ thuộc phần lớn vào đó và bên kia là nhu cầu xử lý vi phạm các quyền con người cơ bản. Các cán bộ thi hành pháp luật phải báo cáo những vi phạm trong phạm vi ngành dọc và chỉ thực hiện hành động hợp pháp ngoài ngành dọc khi những biện pháp khắc phục không có hoặc không hiệu quả. Cần phải hiểu rằng các cán bộ thi hành pháp luật sẽ không phải chịu xử phạt hành chính hay các hình phạt khác vì họ đã báo cáo rằng sự vi phạm Quy ước này đã hay sắp xảy ra.

3. Thuật ngữ “cơ quan có thẩm quyền hay cơ quan thích hợp có thẩm quyền kiểm tra hoặc giải quyết” chỉ bất kỳ nhà chức trách hay cơ quan nào tồn tại theo pháp luật quốc gia, dù trực thuộc hay độc lập với cơ quan thi hành pháp luật, có thẩm quyền luật định, theo thông lệ hoặc thẩm quyền khác để xem xét những khiếu nại và tố cáo phát sinh từ những vi phạm trong phạm vi Quy ước này.

4. Ở một số nước, phương tiện thông tin đại chúng có thể coi như thực hiện những chức năng xem xét khiếu nại tương tự như các chức năng nói ở điểm (c) trên đây. Do đó, có thể xem như là các cán bộ thi hành pháp luật đã hành động đúng khi họ đưa những vụ vi phạm ra trước công luận thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như một biện pháp cuối cùng và phù hợp với luật pháp và phong tục của nước họ cũng như những quy định tại Điều 4 của Quy ước này.

5. Các cán bộ thi hành pháp lụât nào tuân theo các quy định của Quy ước này xứng đáng được tôn trọng, được sự ủng hộ hoàn toàn và được sự hợp tác của cộng đồng và của các cơ quan thi hành pháp luật nơi họ làm việc, cũng như của những người trong ngành thi hành pháp luật.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quy tắc hành động của Cán bộ thi hành pháp luật 1979

Số hiệu: Khongso
Loại văn bản: Điều ước quốc tế
Ngày ban hành: 17/12/1979
Nơi ban hành: Liên hợp quốc
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quy tắc hành động của Cán bộ thi hành pháp lu...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký