Quyết định số 05/2000/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số quy định quan trọng tại Quyết định số 95/1998/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 1998 về việc xử lý thanh toán nợ giai đoạn II. Quyết định này tập trung tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ giữa các doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng thương mại, dự trữ quốc gia và các khoản nợ nước ngoài có bảo lãnh nhằm lành mạnh hóa tài chính doanh nghiệp.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động có nợ ngân sách nhà nước hoặc nợ lẫn nhau; các ngân hàng thương mại; Cục Dự trữ Quốc gia; các Bộ, ngành, địa phương bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn nước ngoài; các bên chủ nợ, con nợ, người bảo lãnh và người kế thừa trong quá trình xử lý thanh toán nợ giai đoạn II.
Xử lý các khoản nợ ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp nhà nước
Đối với các khoản nợ ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động, cơ quan tài chính cùng cấp sẽ đóng vai trò chủ trì xử lý. Trong trường hợp nội dung xử lý vượt quá thẩm quyền cho phép, cơ quan tài chính có trách nhiệm trình cấp có thẩm quyền xem xét và quyết định. Việc phân loại nợ ngân sách Nhà nước để xử lý (bao gồm các khoản từ 1 đến 6 của Điều 5 tại Quyết định 95/1998/QĐ-TTg) vẫn được giữ nguyên không thay đổi.
Xử lý các khoản nợ Ngân hàng đã lên lưới thanh toán
Khi các khoản nợ ngân hàng đã được đưa lên lưới thanh toán và có sự xác nhận từ Ban thanh toán nợ địa phương, các Ngân hàng Thương mại sẽ căn cứ vào hướng dẫn của Ban chỉ đạo tổng thanh toán nợ Trung ương để thực hiện xử lý theo các phương án cụ thể:
- Đối với khoản nợ phải thu của Ngân hàng: Các Ngân hàng Thương mại chủ động quyết định xử lý bằng nguồn Quỹ dự phòng tài chính của mình. Nếu nguồn quỹ này không đủ, phần thiếu hụt sẽ được hạch toán trực tiếp vào kết quả kinh doanh, đồng thời phải báo cáo lên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Đối với các khoản nợ chuyển từ vốn vay thành vốn ngân sách cấp: Ngân hàng Thương mại có trách nhiệm báo cáo Liên Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước để phối hợp xử lý theo đúng quy định pháp luật.
- Định kỳ hàng tháng, các Ngân hàng Thương mại phải lập báo cáo về tiến độ xử lý thanh toán nợ gửi về Ban chỉ đạo tổng thanh toán nợ Trung ương và Bộ Tài chính.
Xử lý các khoản nợ của Dự trữ Quốc gia
Căn cứ vào kết luận xử lý cụ thể của Ban thanh toán nợ địa phương (về việc được xóa nợ hoặc giao lại cho địa phương quản lý), Cục Dự trữ Quốc gia chịu trách nhiệm trực tiếp xử lý. Sau đó, Cục thực hiện tổng hợp báo cáo gửi Ban chỉ đạo tổng thanh toán nợ Trung ương và Bộ Tài chính để ra quyết định giảm vốn tương ứng cho Cục Dự trữ Quốc gia. Đồng thời, đơn vị này phải duy trì báo cáo tình hình thực hiện định kỳ hàng tháng cho hai cơ quan nêu trên.
Xử lý nợ vay nước ngoài có bảo lãnh của cơ quan nhà nước
Đối với trường hợp doanh nghiệp vay vốn nước ngoài được các Bộ, ngành, địa phương bảo lãnh nhưng không có khả năng tự trả nợ, quy trình xử lý được quy định như sau:
- Các Bộ, ngành, địa phương bảo lãnh phải chủ trì đàm phán trực tiếp với chủ nợ nước ngoài nhằm giảm tối đa số nợ phải trả (bao gồm cả nợ gốc và lãi) đến mức thấp nhất để tổ chức bán nợ theo quy định.
- Các cơ quan này phải có kế hoạch bố trí nguồn từ ngân sách cùng cấp để chi trả nợ nước ngoài. Doanh nghiệp mua lại nợ hoặc được ngân sách trả thay có trách nhiệm hoàn trả lại khoản tiền này cho ngân sách nhà nước.
- Trường hợp gặp khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, các Bộ, ngành, địa phương phải báo cáo Bộ Tài chính để tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.
Trách nhiệm của các bên và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước xử lý nợ khó đòi
Quyết định quy định rõ trách nhiệm của các bên liên quan (chủ nợ, con nợ, người bảo lãnh, người kế thừa) trong việc xử lý thanh toán nợ:
- Trường hợp con nợ đang chấp hành án phạt tù và chưa thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường kinh tế theo bản án của tòa án, các khoản nợ này sẽ được bàn giao cho Sở Tài chính địa phương theo dõi, thực hiện thu hồi dần thông qua cơ quan thi hành án.
- Cơ quan quyết định thành lập hoặc được ủy quyền thành lập doanh nghiệp là đơn vị chịu trách nhiệm trước Chính phủ về kết quả xử lý thanh toán nợ của doanh nghiệp đó.
- Doanh nghiệp nhà nước được phép xử lý một hoặc nhiều lần các khoản nợ không đòi được vào kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm, với thời gian phân bổ tối đa không quá 5 năm.
Để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn khi hạch toán nợ khó đòi, Nhà nước áp dụng các chính sách bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp kể cả khi việc hạch toán này dẫn đến giảm lãi hoặc bị lỗ:
- Doanh nghiệp vẫn được duy trì quan hệ vay vốn bình thường tại các Ngân hàng Thương mại như trước thời điểm xử lý nợ.
- Được giữ nguyên Quỹ tiền lương và giữ nguyên xếp hạng doanh nghiệp.
- Vẫn được trích lập các Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi theo đúng các quy định hiện hành.
Đối với các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động có phát sinh nợ lẫn nhau nhưng không thể trực tiếp thanh toán, cơ quan tài chính sẽ chủ trì xử lý bằng phương án tăng vốn cho đơn vị mắc nợ và giảm vốn tương ứng đối với doanh nghiệp là chủ nợ. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ quản lý ngành và Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 là các cơ quan chịu trách nhiệm chỉ đạo, đề xuất biện pháp xử lý và báo cáo Thủ tướng Chính phủ khi có vướng mắc.
Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện
Quyết định 05/2000/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Tất cả các quy định trước đây tại Quyết định số 95/1998/QĐ-TTg cũng như các văn bản của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nội dung trái với Quyết định này đều bị bãi bỏ.
Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết thực hiện quyết định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định nêu trên.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 05/2000/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 05 tháng 1 năm 2000 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 05/2000/QĐ-TTG NGÀY 05 THÁNG 01 NĂM 2000 VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG QUYẾT ĐỊNH SỐ 95/1998/QĐ-TTG NGÀY 18 THÁNG 5 NĂM 1998 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ XỬ LÝ THANH TOÁN NỢ GIAI ĐOẠN II
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Theo đề nghị của Ban chỉ đạo tổng thanh toán nợ Trung ương và Bộ Trưởng Bộ Tài chính,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Nay sửa đổi, bổ sung quy định của các Điều 5, 7, 20, 25, 30 của Quyết định số 95/1998/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý thanh toán nợ giai đoạn II.
1. Điều 5 đoạn mở đầu sửa lại như sau:
"Điều 5. Các khoản nợ ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động, cơ quan tài chính cùng cấp chủ trì xử lý. Trường hợp vượt thẩm quyền thì trình cấp có thẩm quyền quyết định".
Việc phân loại nợ ngân sách Nhà nước để xử lý (các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 của Điều 5) không thay đổi.
2. Điều 7, đoạn mở đầu được sửa đổi và bổ sung như sau:
"Điều 7. Khi các khoản nợ Ngân hàng đã lên lưới thanh toán, có xác nhận của Ban thanh toán nợ địa phương, các Ngân hàng căn cứ hướng dẫn của Ban chỉ đạo tổng thanh toán nợ Trung ương xem xét, xử lý: nếu là khoản nợ phải thu của Ngân hàng thì các Ngân hàng Thương mại quyết định xử lý từ nguồn Quỹ dự phòng tài chính của mình, nếu thiếu thì hạch toán vào kết quả kinh doanh và báo cáo Ngân hàng Nhà nước. Những khoản nợ chuyển từ vốn vay thành vốn ngân sách cấp, Ngân hàng Thương mại báo cáo Liên Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước để xử lý theo quy định.
Định kỳ hàng tháng Ngân hàng Thương mại báo cáo tiến độ xử lý thanh toán nợ về Ban chỉ đạo tổng thanh toán nợ Trung ương, Bộ Tài chính.
"Điều 20. Đối với các khoản nợ của Dự trữ Quốc gia, căn cứ vào kết luận xử lý của Ban thanh toán nợ địa phương (được xoá nợ, hoặc giao lại cho địa phương), Cục Dự trữ Quốc gia chịu trách nhiệm xử lý và tổng hợp báo cáo Ban chỉ đạo tổng thanh toán nợ Trung ương và Bộ Tài chính để quyết định giảm vốn cho Cục Dự trữ Quốc gia, và định kỳ hàng tháng báo cáo tình hình thực hiện với 2 cơ quan nêu trên".
"Điều 25. Đối với doanh nghiệp vay vốn nước ngoài có bảo lãnh của các Bộ, ngành, địa phương nhưng không trả được nợ; các Bộ, ngành, địa phương chủ trì đàm phán với chủ nợ nước ngoài để giảm số nợ phải trả (nợ gốc và lãi) đến mức thấp nhất để tổ chức bán nợ theo quy định hoặc có kế hoạch bố trí vào ngân sách cùng cấp để có nguồn trả nợ nước ngoài, doanh nghiệp mua lại nợ hoặc được ngân sách trả thay nợ nước ngoài có trách nhiệm hoàn trả ngân sách. Nếu có khó khăn, các Bộ, ngành, địa phương báo cáo Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định".
"Điều 30. Các bên chủ nợ, con nợ, người bảo lãnh và người kế thừa chịu trách nhiệm xử lý thanh toán nợ theo Quyết định này. Trường hợp con nợ đang chấp hành án phạt tù, chưa thực hiện phần bồi thường về mặt kinh tế theo quyết định của toà án thì các khoản nợ này được giao cho Sở Tài chính địa phương theo dõi để thu dần qua cơ quan thi hành án. Cơ quan quyết định, hoặc được uỷ quyền thành lập doanh nghiệp là người chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc xử lý thanh toán nợ.
Các doanh nghiệp Nhà nước được xử lý một lần, hoặc nhiều lần các khoản nợ không đòi được vào kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 5 năm. Nếu việc xử lý vào kết quả sản xuất, kinh doanh mà doanh nghiệp giảm lãi, hoặc bị lỗ tương ứng với số nợ không đòi được của doanh nghiệp đưa xử lý vào kết quả sản xuất kinh doanh năm đó thì:
- Doanh nghiệp vẫn được quan hệ vay vốn trong các Ngân hàng Thương mại như trước khi xử lý nợ.
- Vẫn được hưởng Quỹ tiền lương như trước khi hạch toán khoản nợ khó đòi vào kết quả sản xuất, kinh doanh.
- Vẫn giữa nguyên hạng của doanh nghiệp.
- Vẫn được trích các Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi như trước khi xử lý nợ theo quy định của chế độ hiện hành.
Đối với doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động có nợ lẫn nhau nếu không trực tiếp thanh toán được thì cơ quan tài chính chủ trì xử lý tăng vốn cho đơn vị mắc nợ và giảm vốn cho doanh nghiệp là chủ nợ.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ quản lý ngành và Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 là cơ quan chỉ đạo, đề xuất biện pháp xử lý, trường hợp vướng mắc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định".
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trong Quyết định số 95/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trái với nội dung quy định của Quyết định này đều bãi bỏ.
|
| Nguyễn Tấn Dũng (Đã ký) |