Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Quyết định số 123-HĐBT được ban hành năm 1987 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách đối với cán bộ y tế tại xã, phường, thị trấn, góp phần củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở trong giai đoạn mới.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Quyết định này áp dụng đối với các trạm y tế xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) và đội ngũ cán bộ y tế công tác tại cấp cơ sở, bao gồm cả cán bộ y tế tại các thôn, ấp, bản, buôn, làng trên phạm vi cả nước.

Quy định về định biên nhân sự tại các trạm y tế xã

Nhằm bảo đảm nhân lực cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhân dân, Hội đồng Bộ trưởng quy định cụ thể về số lượng cán bộ tại mỗi trạm y tế xã như sau:

  • Mỗi trạm y tế xã, phường, thị trấn được bố trí tối thiểu là 3 cán bộ y tế.
  • Đối với các xã có quy mô dân số trên 3.000 dân, cứ tăng thêm 1.000 dân thì được phép bố trí thêm 1 cán bộ y tế, nhưng tổng số lượng nhân sự tối đa không quá 7 người.
  • Đối với các xã lớn có quy mô dân số trên 10.000 dân, trạm y tế được bố trí từ 8 người trở lên, nhưng khống chế số lượng tối đa không quá 10 người.

Chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ y tế xã

Quyết định phân định rõ ràng quyền lợi của cán bộ y tế xã dựa trên tình trạng biên chế và trình độ chuyên môn:

  • Đối với cán bộ đã tuyển dụng vào biên chế: Tiếp tục được giữ nguyên trong biên chế Nhà nước và hưởng đầy đủ các quyền lợi theo quy định hiện hành.
  • Đối với cán bộ chưa vào biên chế nhưng có bằng cấp chuyên môn: Những người được đào tạo theo chương trình thống nhất của Nhà nước sẽ được hưởng mức sinh hoạt phí tương đương với bảng lương của cán bộ y tế Nhà nước có cùng trình độ chuyên môn và thâm niên công tác.
  • Các khoản phụ cấp và ưu đãi kèm theo: Cán bộ y tế xã chưa biên chế được hưởng phụ cấp khu vực, phụ cấp đắt đỏ; được mua lương thực, hàng hóa theo quy định tại Quyết định số 156-CP ngày 07/10/1968 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng.
  • Chế độ bảo hiểm và ưu đãi ngành: Được hưởng phụ cấp ưu đãi ngành, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp lây nhiễm, độc hại, phụ cấp đi học. Đồng thời, được áp dụng các chế độ bảo hiểm xã hội như nghỉ hưu, mất sức lao động, thôi việc, phụ cấp khi ốm đau, thai sản, tử tuất và trợ cấp khó khăn tương tự như cán bộ y tế Nhà nước.

Nguồn kinh phí chi trả và phương thức bảo đảm hoạt động y tế cơ sở

Kinh phí chi trả sinh hoạt phí và phụ cấp cho cán bộ y tế xã được thực hiện theo phương châm "Nhà nước và Nhân dân cùng làm, Trung ương và địa phương cùng làm", phân định cụ thể theo từng vùng miền:

  • Ngân sách Nhà nước cấp tỉnh, huyện chi trả cho: Cán bộ y tế xã và cán bộ y tế bản, buôn, làng tại các xã vùng cao miền núi, xã miền núi có nhiều khó khăn, xã đồng bào dân tộc Tây Nguyên, vùng biên giới, hải đảo xa, và các xã kinh tế mới trong 3 năm đầu.
  • Định mức đối với y tế thôn bản: Mỗi bản, buôn, làng chỉ bố trí 1 cán bộ y tế. Mức phụ cấp cho đối tượng này bằng 1/2 mức sinh hoạt phí của cán bộ y tế xã có cùng trình độ chuyên môn.
  • Ngân sách xã chi trả cho: Cán bộ y tế tại các xã miền núi còn lại, các xã vùng trung du và đồng bằng. Trong trường hợp các xã này gặp khó khăn đặc biệt do sản xuất thấp, thiên tai, dịch họa dẫn đến ngân sách xã không đủ chi, ngân sách Nhà nước cấp quận, huyện, tỉnh, thành phố sẽ cấp hỗ trợ.
  • Xây dựng Quỹ sự nghiệp y tế xã: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố, đặc khu được phép cho lập quỹ này dựa trên các nguồn thu từ đóng góp tự nguyện của nhân dân, các tổ chức kinh tế tập thể, tiền hoa hồng bán thuốc, lãi từ chế biến sản xuất thuốc nam và một số dịch vụ y tế khác. Quỹ do Ủy ban nhân dân xã quản lý và chỉ được chi riêng cho sự nghiệp y tế.
  • Chế độ đối với cán bộ y tế thôn, ấp, bản, buôn, làng tự quản: Những người không thuộc diện ngân sách đài thọ sẽ được hưởng công điểm thời gian làm việc tương đương xã viên lao động khá trong hợp tác xã hoặc tập đoàn sản xuất. Nơi không có tổ chức kinh tế tập thể, nhân dân địa phương đóng góp đài thọ tương đương ngày công lao động khá, áp dụng cho chế độ bán chuyên trách làm việc nửa ngày.

Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1987. Tất cả các văn bản trước đây có nội dung trái với Quyết định này đều bị bãi bỏ. Bộ Y tế, Bộ Tài chính, các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm hướng dẫn và thi hành quyết định này.

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 123-HĐBT

Hà Nội, ngày 19 tháng 8 năm 1987

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC SỬA ĐỔI CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ Y TẾ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Để bảo đảm sự hoạt động của cán bộ Y tế chăm sóc sức khoẻ của Nhân dân ở xã, phường, thị trấn;
Theo đề nghị của Bộ Y tế và ý kiến của Bộ tài chính, Ban tổ chức của Chính phủ,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Mỗi trạm Y tế xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) được bố trí ít nhất là 3 cán bộ Y tế. Những xã có trên 3.000 dân thì cứ thêm 1.000 dân được bố trí thêm 1 cán bộ Y tế, nhưng tổng số không quá 7 người. Những xã lớn trên 10.000 dân được bố trí 8 người trở lên, nhưng nhiều nhất cũng không quá 10 người.

Điều 2. Các cán bộ Y tế xã đã được tuyển vào biên chế Nhà nước, được giữ nguyên trong biên chế Nhà nước.

Các cán bộ Y tế xã có bằng cấp, được đào tạo chuyên môn theo chương trình thống nhất của Nhà nước, nhưng chưa tuyển vào biên chế Nhà nước nay được hưởng sinh hoạt phí theo bảng lương cán bộ Y tế Nhà nước có cùng trình độ chuyên môn và thâm niên công tác, được hưởng chế độ phụ cấp khu vực, phụ cấp đắt đỏ và được mua lương thực, hàng hoá như quy định tại các Quyết định số 156-CP ngày 7-10-1968 của Hội đồng Chính phủ và số 111-HĐBT ngày 13-10-1981 của Hội đồng Bộ trưởng; được hưởng các chế độ ưu đãi ngành, phụ cấp trách nhiệm, lây nhiễm, độc hại, phụ cấp đi học, các chế độ bảo hiểm xã hội như nghỉ hưu, mất sức, thôi việc, phụ cấp khi ốm đau, sinh đẻ, chết, trợ cấp khó khăn như đối với cán bộ Y tế Nhà nước.

Điều 3. Nguồn kinh phí trả sinh hoạt phí và các phụ cấp khác cho cán bộ Y tế xã giải quyết theo phương châm Nhà nước và Nhân dân cùng làm, Trung ương và địa phương cùng làm. Cụ thể là:

Ngân sách Nhà nước (tỉnh, huyện) trả sinh hoạt phí và các phụ cấp khác cho cán bộ Y tế xã và cán bộ Y tế bản, buôn, làng, các xã vùng cao miền núi, xã miền núi mà kinh tế còn nhiều khó khăn, xã đồng bào dân tộc Tây nguyên, biên giới, hải đảo xa, xã kinh tế mới trong 3 năm đầu. Mức phụ cấp cho cán bộ Y tế các bản, buôn, làng bằng 1/2 mức sinh hoạt phí cán bộ Y tế xã có cùng trình độ chuyên môn. Mỗi bản, buôn, làng chỉ bố trí một cán bộ Y tế.

Ngân sách xã trả sinh hoạt phí và các phụ cấp khác cho cán bộ Y tế các xã miền núi còn lại, các xã vùng trung du, đồng bằng. Đối với những xã ở các vùng này mà kinh tế còn nhiều khó khăn do sản xuất thấp, hoặc khi gặp thiên tai, địch hoạ, ngân sách xã không đủ chi cho sự nghiệp Y tế thì ngân sách Nhà nước (quận, huyện, tỉnh, thành phố, đặc khu) trợ cấp.

Tuỳ theo tình hình cụ thể từng nơi, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu có thể cho phép xây dựng "quỹ sự nghiệp Y tế" xã, phường, thị trấn, dựa vào các nguồn đóng góp của nhân dân, đóng góp của các tổ chức kinh tế tập thể, tiền hoả hồng bán tân được, tiền lãi do chế biến, sản xuất thuốc nam, tiền thu một số khoản dịch vụ Y tế... do Bộ Y tế và Bộ tài chính hướng dẫn cụ thể. Quỹ này do Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý và chi tiêu riêng cho sự nghiệp Y tế.

Các cán bộ Y tế ở thôn, ấp, bản, buôn, làng (trừ số đã được ngân sách huyện, tỉnh đài thọ) được hưởng công điểm thời gian làm công tác Y tế như xã viên lao động khá trong hợp tác xã, tập đoàn sản xuất. Những nơi không có hợp tác xã, tập đoàn sản xuất hay một tổ chức kinh tế tập thể nào, thì nhân dân địa phương đóng góp đài thọ tương đương với ngày công lao động khá ở đó, theo chế độ công tác của cán bộ Y tế bán chuyên trách làm việc 1/2 ngày.

Điều 4. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 năm 1987, các văn bản trước đây trái với Quyết định này đều bãi bỏ.

Bộ Y tế, Bộ tài chính, các Bộ, các ngành có liên quan và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

 

 

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 123-HĐBT năm 1987 sửa đổi chế độ, chính sách đối với Cán bộ y tế xã, phường, thị trấn do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu: 123-HĐBT
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 19/08/1987
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày công báo: 31/08/1987
Số công báo: Số 15
Ngày hiệu lực: 01/09/1987
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 123-HĐBT năm 1987 sửa đổi chế độ,...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký