Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Quyết định 111-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1981 nhằm sửa đổi, bổ sung các chính sách và chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ xã, phường trên phạm vi cả nước. Văn bản này tập trung điều chỉnh mức phụ cấp sinh hoạt phí, chế độ lương thực, nhu yếu phẩm, bảo hiểm xã hội, đồng thời phân định rõ nguồn kinh phí chi trả nhằm ổn định đời sống cho cán bộ cơ sở trong giai đoạn mới.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Quyết định này áp dụng đối với toàn bộ cán bộ, nhân viên đang công tác tại các xã, phường, thị trấn trong cả nước, bao gồm cán bộ giữ chức danh bầu cử, cán bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, y tế, kỹ thuật và cán bộ phụ trách các địa bàn thôn, ấp, bản, buôn làng.

Chế độ phụ cấp sinh hoạt phí hàng tháng đối với cán bộ xã, phường

Mức phụ cấp sinh hoạt phí hàng tháng của cán bộ xã, phường được điều chỉnh và quy định cụ thể theo từng nhóm chức danh như sau:

  • Nhóm cán bộ chủ chốt: Bí thư đảng uỷ xã, phường hoặc Bí thư chi bộ xã, phường (nơi chưa thành lập đảng uỷ) và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã, phường được hưởng mức phụ cấp sinh hoạt phí hàng tháng tương đương với mức lương quy định trong khung lương hiện hành của Trưởng ban chuyên môn cấp huyện.
  • Nhóm cán bộ phó và uỷ viên: Các Phó Chủ tịch, Uỷ viên quân sự và Uỷ viên thư ký Uỷ ban Nhân dân xã, phường được hưởng phụ cấp sinh hoạt phí hàng tháng tương đương với chức danh Phó trưởng ban chuyên môn cấp huyện.
  • Nhóm cán bộ đoàn thể và chuyên môn: Cán bộ Mặt trận Tổ quốc và cán bộ các đoàn thể nhân dân được hưởng sinh hoạt phí tương đương mức lương của Uỷ viên thường trực các đoàn thể cấp huyện. Cán bộ, nhân viên chuyên môn, nghiệp vụ thuộc đảng uỷ, Uỷ ban Nhân dân xã, phường và cán bộ phụ trách các ấp, bản, buôn làng được hưởng sinh hoạt phí tương đương với khung lương của nhân viên hành chính hiện hành.
  • Nhóm cán bộ chuyên môn kỹ thuật và y tế: Cán bộ, nhân viên y tế và cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ đã qua đào tạo ở các trình độ đại học, trung cấp, sơ cấp chuyên nghiệp, nếu được bố trí sử dụng đúng chuyên môn và làm việc theo quy chế chung của Nhà nước thì được hưởng sinh hoạt phí tương đương bậc lương của cán bộ có cùng trình độ, cùng ngành trong biên chế Nhà nước.
  • Chính sách ưu đãi khu vực: Cán bộ công tác tại các xã, thị trấn thuộc biên giới Việt - Trung và khu vực hải đảo ngoài mức phụ cấp hàng tháng nêu trên còn được hưởng thêm phụ cấp khu vực theo chế độ hiện hành của Nhà nước.
  • Chính sách khi hết nhiệm kỳ: Đối với cán bộ giữ chức danh bầu cử (Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên quân sự, Uỷ viên thư ký) khi hết nhiệm kỳ mà không trúng cử lại, nếu được phân công, bố trí công tác khác thì sẽ hưởng chế độ đãi ngộ theo nhiệm vụ mới.
  • Quản lý số lượng cán bộ: Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương có trách nhiệm quy định cụ thể số lượng cán bộ xã, phường được hưởng sinh hoạt phí (đối với nhóm cán bộ đoàn thể, chuyên môn, y tế, kỹ thuật) sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình và khả năng chi trả của ngân sách địa phương, trên tinh thần hạn chế tối đa số lượng người thoát ly sản xuất tại các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất.

Chế độ phân phối lương thực và nhu yếu phẩm

Chính sách cung cấp lương thực và các mặt hàng công nghệ phẩm tiêu dùng cho cán bộ xã, phường được quy định chi tiết nhằm bảo đảm đời sống sinh hoạt:

  • Chế độ lương thực chung: Cán bộ xã nói chung thực hiện chế độ lương thực theo Quyết định số 400-CP ngày 05/11/1979 của Hội đồng Chính phủ và Thông tư hướng dẫn số 8-BNN/TT ngày 05/05/1980 của Bộ Nông nghiệp.
  • Chính sách đặc thù tại vùng biên giới và hải đảo: Mỗi xã thuộc biên giới Việt - Trung và hải đảo được dự trù 150 kilôgam lương thực/tháng để bán theo giá chỉ đạo cho những cán bộ xã phải làm việc nhiều, không có điều kiện tăng gia sản xuất hoặc sử dụng trong những ngày trực tại trụ sở. Đồng thời, cấp huyện và cấp tỉnh có trách nhiệm hỗ trợ trang bị các điều kiện sinh hoạt thiết yếu tại trụ sở trực như sách, báo, máy thu thanh, chăn, màn, chiếu và dụng cụ nấu ăn.
  • Đối với địa phương chưa có hợp tác xã: Ở những xã chưa thành lập hợp tác xã hoặc tập đoàn sản xuất, nếu cán bộ xã gặp khó khăn đột xuất thì Uỷ ban Nhân dân cấp huyện xem xét, đề nghị cấp tỉnh giải quyết hỗ trợ cụ thể theo từng trường hợp, không áp dụng việc bán lương thực thường xuyên.
  • Đối với cán bộ y tế xã: Hàng tháng được mua 13 kilôgam gạo theo giá chỉ đạo, nguồn gạo này được trích từ tỷ lệ thuế nông nghiệp để lại cho xã.
  • Đối với cán bộ phường: Được mua lương thực, thực phẩm và các mặt hàng công nghệ phẩm tiêu dùng theo tiêu chuẩn và chế độ như cán bộ, công nhân, viên chức trong biên chế Nhà nước.
  • Đối với cán bộ xã: Được ưu tiên mua một số mặt hàng công nghệ phẩm thiết yếu bao gồm phụ tùng xe đạp, vải vóc, đường và xà phòng tương tự như tiêu chuẩn của cán bộ trong biên chế Nhà nước.

Chế độ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ

Cán bộ xã, phường khi được cử đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được hưởng các quyền lợi sau:

  • Được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách học tập như đối với cán bộ, công nhân, viên chức trong biên chế Nhà nước.
  • Trường hợp cán bộ xã tham gia các lớp học ngắn hạn (thời gian không quá ba tháng) do cấp huyện hoặc cấp tỉnh triệu tập thì được mua 15 kilôgam lương thực/tháng theo giá chỉ đạo; đồng thời phần tiêu chuẩn lương thực tại địa phương vẫn được giữ nguyên để lại cho gia đình sử dụng.

Chế độ trợ cấp khi nghỉ việc và các chính sách phúc lợi xã hội

Bên cạnh phụ cấp hàng tháng, cán bộ xã, phường còn được bảo đảm các quyền lợi về an sinh xã hội và bảo hiểm:

  • Chế độ trợ cấp hưu trí, già yếu: Cán bộ xã, phường có thời gian công tác lâu năm, khi già yếu nghỉ việc và có đủ điều kiện theo quy định tại Quyết định số 130-CP ngày 20/06/1975 của Hội đồng Chính phủ thì được hưởng trợ cấp hàng tháng bằng 60% mức sinh hoạt phí khi đang công tác. Mức trợ cấp này cũng được áp dụng đồng bộ cho cả những cán bộ xã đã nghỉ việc và đang hưởng trợ cấp theo Quyết định số 130-CP trước đó.
  • Các chế độ phúc lợi khác: Cán bộ xã, phường được hưởng các chế độ về khen thưởng, bảo vệ sức khoẻ, chế độ thai sản, công tác phí, trợ cấp khó khăn đột xuất và mai táng phí tương tự như cán bộ, công nhân, viên chức trong biên chế Nhà nước.
  • Nghĩa vụ dân công: Việc thực hiện nghĩa vụ dân công đối với cán bộ xã, phường được áp dụng theo đúng quy định tại Điểm VI của Quyết định số 130-CP của Hội đồng Chính phủ.

Quy định về nguồn kinh phí chi trả và quản lý ngân sách địa phương

Nguồn kinh phí để chi trả phụ cấp sinh hoạt phí cho cán bộ xã, phường được phân định rõ ràng giữa các cấp ngân sách:

  • Ngân sách cấp tỉnh đài thọ: Chi trả sinh hoạt phí cho Bí thư đảng uỷ (hoặc Bí thư chi bộ nơi chưa có đảng uỷ) và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã, phường.
  • Ngân sách xã, phường đài thọ: Chi trả sinh hoạt phí cho Phó Chủ tịch kiêm Trưởng công an xã, Uỷ viên thư ký, Uỷ viên quân sự, cán bộ Mặt trận Tổ quốc, cán bộ các đoàn thể và cán bộ, nhân viên y tế, chuyên môn khác quy định tại Điểm c, Điều 1. Trường hợp ngân sách xã, phường bị thiếu hụt thì ngân sách cấp huyện, tỉnh, thành phố hoặc đặc khu trực thuộc trung ương sẽ cấp bù, trợ cấp thêm.
  • Nguồn kinh phí từ ngành dọc: Đối với cán bộ, nhân viên thuộc các lĩnh vực bưu điện, hợp tác xã tín dụng, hợp tác xã mua bán tại xã, phường sẽ do ngành dọc cấp trên và các tổ chức kinh doanh trực tiếp đài thọ.
  • Trách nhiệm quản lý ngân sách: Bộ Tài chính và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo công tác xây dựng ngân sách xã, phường nhằm tạo nguồn thu ổn định, phục vụ việc xây dựng cơ sở vật chất và chi trả phụ cấp. Nhà nước áp dụng chế độ khuyến khích đối với các địa phương quản lý ngân sách tốt, thu chi đúng chế độ. Các đoàn thể nhân dân tại xã, phường cần chủ động xây dựng quỹ tự có để từng bước tự trang trải chi phí cho cán bộ của tổ chức mình, giảm dần sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước.

Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện

Quyết định này có hiệu lực thi hành thống nhất trên phạm vi cả nước kể từ tháng 10 năm 1981. Đối với cán bộ công tác tại các thị trấn, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương căn cứ vào các nguyên tắc của Quyết định này để hướng dẫn vận dụng cho phù hợp với tình hình thực tế. Các Bộ trưởng, Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, Thủ trưởng các ngành liên quan ở trung ương và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm thi hành. Trưởng Ban tổ chức của Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi và báo cáo kết quả thực hiện lên Hội đồng Bộ trưởng.

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 111-HĐBT

Hà Nội, ngày 13 tháng 10 năm 1981

 

QUYẾT ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 111-HĐBT NGÀY 13-10-1981 VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ XÃ, PHƯỜNG

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng trong phiên họp Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng ngày 29/9/1981;
Xét nhu cầu công tác và đời sống của cán bộ cấp xã, phường;
Theo đề nghị của đồng chí trưởng ban Ban tổ chức của Chính phủ,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay sửa đổi mức phụ cấp sinh hoạt phí hàng tháng cho cán bộ xã, phường như sau:

a. Bí thư đảng uỷ xã, phường hoặc bí thư chi bộ xã, phường (nơi chưa có đảng uỷ), chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã, phường được phụ cấp sinh hoạt phí hàng tháng tương đương với mức lương quy định trong khung lương hiện hành của trưởng ban chuyên môn của huyện.

b. Các phó chủ tịch, uỷ viên quân sự, uỷ viên thư ký uỷ ban nhân dân xã, phường được hưởng phụ cấp sinh hoạt phí hàng tháng tương đương với phó trưởng ban chuyên môn của huyện.

c. Cán bộ Mặt trận tổ quốc và cán bộ các đoàn thể nhân dân được hưởng sinh hoạt phí hàng tháng tương đương với mức lương quy định trong khung lương hiện hành của uỷ viên thường trực các đoàn thể cấp huyện; cán bộ, nhân viên chuyên môn, nghiệp vụ của đảng uỷ, Uỷ ban Nhân dân xã, phường và cán bộ phụ trách các ấp, bản, buôn làng được hưởng sinh hoạt phí hàng tháng tương đương với khung lương của nhân viên hành chính hiện hành.

d. Cán bộ, nhân viên y tế và cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ được đào tạo có trình độ đại học, trung cấp và sơ cấp chuyên nghiệp nếu được sử dụng đúng ngành nghề, làm việc theo quy chế chung của Nhà nước thì hàng tháng cũng được hưởng sinh hoạt phí tương đương bậc lương của cán bộ cùng trình độ, cùng ngành trong biên chế Nhà nước; cán bộ xã, thị trấn biên giới Việt - Trung và hải đảo, ngoài phụ cấp hàng tháng còn được hưởng phụ cấp khu vực theo chế độ hiện hành.

Điều 2: Cán bộ được bầu cử nói ở điểm a và b trong Điều 1 khi hết nhiệm kỳ không trúng cử lại, nếu được bố trí công tác khác thì đãi ngộ theo nhiệm vụ mới.

Số lượng cán bộ xã, phường được hưởng sinh hoạt phí nói ở điểm c và d trong Điều 1 do Uỷ ban Nhần dân tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương quy định cho sát hợp, tuỳ theo đặc điểm tình hình và khả năng đài thọ của ngân sách xã, phường, và trên tinh thần hạn chế đến mức thấp nhất số người thoát ly sản xuất trong các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất.

Điều 3: Về lương thực, cán bộ xã nói chung, hưởng theo quyết định số 400-CP ngày 5-11-1979 của Hội đồng Chính phủ và thông tư số 8-BNN/TT ngày 5/5/1980 của Bộ Nông nghiệp hướng dẫn thi hành quyết định số 400-CP của Hội đồng Chính phủ.

Đối với các xã biên giới Việt - Trung và hải đảo, hàng tháng, mỗi xã được dự trù 150 kilôgam lương thực để bán theo giá chỉ đạo cho cán bộ xã phải làm việc nhiều, không có điều kiện sản xuất hoặc sử dụng cho cán bộ xã trong những ngày thường trực tại trụ sở. Ngoài ra, huyện và tỉnh cần tạo mọi điều kiện để anh chị em có phương tiện hoạt động và sinh hoạt, bảo đảm cho mỗi xã có được những thứ cần thiết như sách, báo, máy thu thanh, chăn, màn, chiếu, dụng cụ nấu ăn, v.v... khi thường trực ở trụ sở.

Ở những xã chưa có hợp tác xã, chưa có tập đoàn sản xuất, nếu cán bộ xã gặp khó khăn đột xuất, thì huyện xét đề nghị tỉnh giải quyết cụ thể, không đặt vấn đề bán lương thực thường xuyên.

Cán bộ y tế xã, hàng tháng được mua 13 kilôgam gạo theo giá chỉ đạo trích trong tỷ lệ thuế nông nghiệp để lại cho xã.

Cán bộ phường được mua lương thực, thực phẩm và một số hàng công nghệ phẩm như cán bộ, công nhân, viên chức trong biên chế Nhà nước.

Cán bộ xã được mua một số mặt hàng công nghệ phẩm: phụ tùng xe đạp, vải, đường, xà phòng như cán bộ trong biên chế Nhà nước.

Điều 4: Cán bộ xã, phường đi học, dự lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, được hưởng chế độ như cán bộ, công nhân, viên chức trong biên chế Nhà nước; cán bộ xã học lớp ngắn hạn, không quá ba tháng do huyện, tỉnh triệu tập, được mua mỗi tháng 15 kilôgam lương thực theo giá chỉ đạo, phần lương thực ở nhà được để lại cho gia đình.

Điều 5: Cán bộ xã, phường công tác lâu năm, khi già yếu, nghỉ việc, có đủ những điều kiện quy định trong quyết định số 130-CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ, được hưởng trợ cấp hàng tháng bằng 60% của mức sinh hoạt phí khi đang công tác. Mức trợ cấp này được áp dụng cho cả những cán bộ xã đã được hưởng chế độ trợ cấp theo quyết định số 130-CP.

Điều 6: Cán bộ xã, phường còn được hưởng các chế độ khen thưởng, bảo vệ sức khoẻ, thai sản, công tác phí, trợ cấp khó khăn, mai táng phí như cán bộ, công nhân viên trong biên chế Nhà nước.

Về chế độ nghĩa vụ dân công áp dụng đối với cán bộ xã, phường cần thực hiện theo điểm VI của quyết định số 130-CP của Hội đồng Chính phủ.

Điều 7: Các nguồn kinh phí trả sinh hoạt phí cho cán bộ xã, phường quy định như sau:

a. Bí thư đảng uỷ hoặc bí thư chi bộ (nơi chưa có đảng uỷ), chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã, phường do ngân sách tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương đài thọ. Phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã, uỷ viên thư ký và uỷ viên quân sự do ngân sách xã, phường đài thọ, nếu thiếu thì ngân sách huyện, tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương trợ cấp thêm.

b. Cán bộ Mặt trận tổ quốc và cán bộ các đoàn thể, cán bộ, nhân viên y tế và các cán bộ, nhân viên khác của xã, phường ghi ở điểm c, Điều 1 do ngân sách xã, phường đài thọ.

Các cán bộ, nhân viên bưu điện, hợp tác xã tín dụng, hợp tác xã mua bán do ngành dọc cấp trên và tổ chức kinh doanh đài thọ.

Điều 8: Bộ Tài chính và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương có trách nhiệm chỉ đạo tốt việc xây dựng ngân sách xã, phường để xã, phường có nguồn thu ổn định và từ đó có điều kiện xây dựng cơ sở vật chất và chi các khoản phụ cấp cho cán bộ; có chế độ khuyến khích thoả đáng đối với những xã, phường xây dựng ngân sách tốt, thu chi đúng chế độ quản lý kinh tế tài chính.

Các đoàn thể nhân dân ở xã, phường cần có kế hoạch thực hiện xây dựng quỹ để dần dần bảo đảm được các khoản chi cho cán bộ đoàn thể mình bớt phần Nhà nước trợ cấp.

Điều 9: Đối với cán bộ thị trấn, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương dựa theo quyết định này để hướng dẫn việc vận dụng cho thích hợp.

Điều 10: Quyết định này được thi hành thống nhất trong cả nước kể từ tháng 10 năm 1981.

Các đồng chí Bộ trưởng, Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, thủ trưởng các ngành có liên quan ở trung ương và chủ tịch Uỷ ban Nhân dân của các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Đồng chí trưởng Ban tổ chức của Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi việc thực hiện và báo cáo kết quả lên Hội đồng Bộ trưởng.

 

Tố Hữu

(Đã ký)

 

Văn bản hướng dẫn
Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 111-HĐBT năm 1981 sửa đổi chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu: 111-HĐBT
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 13/10/1981
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Tố Hữu
Ngày công báo: 15/10/1981
Số công báo: Số 18
Ngày hiệu lực: 01/10/1981
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 111-HĐBT năm 1981 sửa đổi chính sá...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký