Quyết định 151-TTg được ban hành năm 1993 bởi Thủ tướng Chính phủ nhằm quy định về việc hình thành, sử dụng và quản lý Quỹ bình ổn giá của Chính phủ trong Ngân sách Nhà nước. Quyết định này được ban hành với mục tiêu chủ động chi phối cung cầu, điều hòa thị trường, bình ổn giá cả hàng hóa và góp phần ổn định ngân sách quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Quyết định áp dụng đối với các tổ chức kinh tế Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế được phép kinh doanh xuất nhập khẩu, sản xuất và tiêu thụ hàng hóa trong nước. Ngoài nhiệm vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật, các tổ chức này có nghĩa vụ nộp khoản phụ thu vào Quỹ bình ổn giá khi phát sinh chênh lệch giá hoặc lợi nhuận siêu ngạch.
Các trường hợp không thuộc diện điều chỉnh của Quyết định này bao gồm:
- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu vào khu chế xuất.
- Thiết bị, vật tư, hàng hóa đưa vào Việt Nam theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để làm hàng mẫu, quảng cáo, dự hội chợ triển lãm.
- Hàng viện trợ hoàn lại và không hoàn lại.
- Hàng hóa là quà biếu, hàng hóa và hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh.
Nguồn hình thành Quỹ bình ổn giá
Quỹ bình ổn giá được quản lý riêng biệt và hình thành từ các nguồn thu phụ thu (gọi chung cho khoản thu từ chênh lệch giá và lợi nhuận siêu ngạch), cụ thể:
- Đối với hàng nhập khẩu: Trích một phần chênh lệch giá phát sinh khi giá ngoài nước thấp hơn giá hình thành ở trong nước.
- Đối với hàng xuất khẩu: Trích một phần chênh lệch giá phát sinh khi giá ngoài nước cao hơn giá mua ở trong nước.
- Đối với hàng sản xuất và tiêu thụ trong nước: Trích một phần lợi nhuận siêu ngạch của các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong điều kiện thuận lợi hơn so với các đơn vị khác cùng ngành.
- Các nguồn thu khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Toàn bộ các nguồn thu này phải nộp vào Ngân sách Nhà nước, sau đó được trích chuyển để lập Quỹ bình ổn giá và quản lý thông qua tài khoản riêng mở tại Kho bạc Nhà nước.
Nguyên tắc xác định chênh lệch giá và tỷ lệ phụ thu
Việc tính toán mức phụ thu dựa trên nguyên tắc xác định chênh lệch giá đối với từng nhóm hàng hóa:
- Hàng nhập khẩu: Chênh lệch giữa giá bán hợp lý cần được bình ổn ở trong nước với giá vốn nhập khẩu (bao gồm giá nhập khẩu thực tế, chi phí vận tải F, phí bảo hiểm I đến cảng nhập khẩu, thuế nhập khẩu theo luật định và chiết khấu lưu thông). Mức phụ thu không vượt quá 70% chênh lệch giá phát sinh.
- Hàng xuất khẩu: Chênh lệch giữa giá xuất khẩu thực tế (không bao gồm chi phí vận tải F và phí bảo hiểm I) với giá vốn hàng xuất khẩu (bao gồm giá mua thực tế, thuế xuất khẩu theo luật định và phí lưu thông đến cảng xuất khẩu). Mức phụ thu không vượt quá 50% chênh lệch giá phát sinh.
- Hàng sản xuất và tiêu thụ trong nước: Chênh lệch giữa giá bán tại nơi sản xuất với giá vốn (bao gồm giá thành thực tế, các loại thuế theo luật định và lợi nhuận trung bình của ngành). Mức phụ thu không vượt quá 30% chênh lệch giá phát sinh.
Tỷ lệ phụ thu được xác định bằng phần trăm (%) giữa mức phụ thu và giá trị hàng hóa tương ứng (giá nhập khẩu thực tế có tính F, I đối với hàng nhập khẩu; giá xuất khẩu thực tế tại cảng không tính F, I đối với hàng xuất khẩu; giá bán sản phẩm tại nơi sản xuất đối với hàng trong nước).
Phương thức thu nộp phụ thu
- Phụ thu phải được tính bằng đồng Việt Nam (VND).
- Thời điểm thu: Thu đồng thời với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (đối với hàng xuất nhập khẩu) hoặc thu đồng thời với thuế doanh thu (đối với hàng sản xuất, tiêu thụ trong nước).
- Quy đổi ngoại tệ: Giá xuất khẩu, nhập khẩu bằng ngoại tệ dùng để tính phụ thu được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào do Ngân hàng Nhà nước công bố (quy đổi thông qua đồng đô-la Mỹ).
Mục đích sử dụng Quỹ bình ổn giá
Quỹ bình ổn giá được sử dụng cho các mục đích cụ thể sau:
- Hỗ trợ cho các ngành kinh doanh vật tư, hàng hóa quan trọng nhằm thực hiện mức dự trữ lưu thông cần thiết, bảo đảm cung cầu hàng hóa bình thường trên thị trường.
- Hỗ trợ cho các doanh nghiệp để mua vào những vật tư, hàng hóa sản xuất và tiêu dùng theo mùa vụ.
- Hỗ trợ cho các doanh nghiệp có nguồn phụ thu trong trường hợp xảy ra đột biến về giá cả.
- Hỗ trợ chi thay cho Ngân sách Nhà nước theo lệnh trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định nghiêm cấm hoàn toàn việc sử dụng Quỹ bình ổn giá để chi cho các mục đích ngoài các quy định nêu trên.
Trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện
- Ban Vật giá Chính phủ: Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Thương mại và các Bộ quản lý ngành theo dõi diễn biến giá cả thị trường trong và ngoài nước; xác định giá giới hạn làm căn cứ tính phụ thu; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ phụ thu và danh mục hàng hóa cần phụ thu. Trước mắt, thực hiện ngay việc phụ thu đối với nhóm xăng dầu nhập khẩu và một số chủng loại thuộc nhóm sắt thép nhập khẩu.
- Bộ Tài chính: Chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ Quỹ bình ổn giá theo chế độ quản lý tài chính; phối hợp lập phương án thu chi trình Thủ tướng; trực tiếp thu phụ thu đối với danh mục hàng sản xuất, tiêu thụ trong nước.
- Tổng cục Hải quan: Chịu trách nhiệm tổ chức thu phụ thu đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu.
- Xử lý vi phạm: Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan có trách nhiệm quy định việc xử lý đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm nghĩa vụ nộp phụ thu.
Hiệu lực thi hành
Quyết định 151-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Ban Vật giá Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan theo chức năng của mình chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành Quyết định này. Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 151-TTg | Hà Nội , ngày 12 tháng 4 năm 1993 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ HÌNH THÀNH SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ QUỸ BÌNH ỔN GIÁ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Theo đề nghị của Trưởng ban Vật giá Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Tài Chính,
QUYẾT ĐỊNH :
Điều 2. Quỹ bình ổn giá được quản lý riêng và hình thành từ các nguồn thu:
1. Đối với hàng nhập khẩu là một phần chênh lệch giá phát sinh khi giá ngoài nước thấp hơn giá hình thành ở trong nước.
2. Đối với hàng xuất khẩu là một phần chênh lệch giá phát sinh khi giá ngoài nước cao hơn giá mua ở trong nước.
3. Đối với hàng sản xuất và tiêu thụ trong nước là một phần lợi nhuận siêu ngạch của các đơn vị sản xuất kinh doanh trong điều kiện thuận lợi hơn so với các đơn vị khác cùng sản xuất kinh doanh loại hàng đó.
4. Một số nguồn thu khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Dưới đây, chênh lệch giá và lợi nhuận siêu ngạch được gọi chung là chênh lệch giá, thu một phần từ hai khoản này gọi chung là phụ thu.
Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vào khu chế xuất; thiết bị, vật tư, hàng hoá đưa vào theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; xuất khẩu, nhập khẩu để làm hàng mẫu, quảng cáo, dự hội trợ triển lãm; hàng viện trợ hoàn lại và không hoàn lại; hàng là quà biếu, hàng hoá và hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh không thuộc diện điều chỉnh của Quyết định này.
Điều 4. Nguyên tắc tính phụ thu và tỷ lệ phụ thu:
1. Chênh lệch giá:
- Đối với hàng nhập khẩu là chênh lệch giữa giá bán hợp lý cần được bình ổn ở trong nước với giá vốn nhập khẩu bao gồm giá nhập khẩu thực tế có tính đủ chi phí vận tải (F), phí bảo hiểm (I) đến cảng nhập khẩu, thuế nhập khẩu theo luật định và chiết khấu lưu thông.
- Đối với hàng xuất khẩu là chênh lệch giữa giá xuất khẩu thực tế không bao gồm chi phí vận tải (F), phí bảo hiểm (I) với giá vốn hàng xuất khẩu bao gồm giá mua thực tế, thuế xuất khẩu theo luật định và phí lưu thông đến cảng xuất khẩu.
- Đối với hàng sản xuất và tiêu thụ trong nước là chênh lệch giữa giá bán tại nơi sản xuất với giá vốn, bao gồm giá thành thực tế, các loại thuế theo luật định và lợi nhuận trung bình của ngành.
2. Mức phụ thu là một phần thu từ số chênh lệch giá phát sinh, phần thu này không vượt quá 70% chênh lệch giá phát sinh đối với hàng nhập khẩu; 50% đối với hàng xuất khẩu và 30% đối với hàng sản xuất, tiêu thụ trong nước.
- Đối với hàng nhập khẩu, là tỷ lệ tính bằng phần trăm (%) giữa mức phụ thu và giá nhập khẩu thực tế có tính chi phí vận tải (F), phí bảo hiểm (I) về đến cảng trong nước.
- Đối với hàng xuất khẩu, là tỷ lệ tính bằng phần trăm (%) giữa mức phụ thu và giá xuất khẩu thực tế tại cảng xuất khẩu, không tính chi phí vận tải (F) và phí bảo hiểm (I).
- Đối với hàng sản xuất và tiêu thụ trong nước, là tỷ lệ tính bằng phần trăm (%) giữa mức phụ thu và giá bán sản phẩm tại nơi sản xuất.
Điều 5. Phụ thu phải tính bằng đồng Việt Nam và thu đồng thời với thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (nếu là hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu), đồng thời với thu thuế doanh thu (nếu là hàng sản xuất, tiêu thụ trong nước). Giá nhập khẩu, giá xuất khẩu bằng ngoại tệ dùng để tính phụ thu được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào giữa đồng Việt Nam và đồng ngoại tệ được quy đổi thành đô-la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước công bố.
Điều 6. Quỹ bình ổn giá sử dụng để:
1. Hỗ trợ cho các ngành kinh doanh vật tư, hàng hoá quan trọng nhằm thực hiện mức dự trữ lưu thông cần thiết đảm bảo cung cầu hàng hoá bình thường.
2. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp để mua vào những vật tư, hàng hoá sản xuất và tiêu dùng theo mùa vụ.
3. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp có nguồn phụ thu trong trường hợp có đột biến giá.
4. Hỗ trợ chi thay cho Ngân sách Nhà nước theo lệnh của Thủ tướng Chính phủ.
Ban Vật giá Chính phủ thống nhất với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định hình thức, đối tượng và mức hỗ trợ cho các doanh nghiệp phù hợp với quy mô của quỹ bình ổn giá sau khi trao đổi với các Bộ quản lý ngành hàng hoặc Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố có các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng trong diện cần hỗ trợ bằng quỹ bình ổn giá.
Điều 7. Ban Vật giá Chính phủ cùng Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Thương mại, các Bộ và cơ quan quản lý ngành hàng theo dõi diễn biến giá cả thị trường trong nước, ngoài nước, chi phí sản xuất, phát hiện chênh lệch giá, lợi nhuận siêu ngạch, xác định giá giới hạn làm căn cứ tính phụ thu, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ phụ thu phù hợp với tình hình biến động thị trường theo từng thời kỳ; quyết định danh mục các hàng hoá cần thiết phải phụ thu. Trước mắt, cần thực hiện ngay việc phụ thu đối với các chủng loại thuộc nhóm xăng dầu nhập khẩu, một số chủng loại thuộc nhóm sắt thép nhập khẩu, để có nguồn hỗ trợ cho việc bình ổn giá một số mặt hàng quan trọng.
Điều 8. Ban Vật giá Chính phủ chủ trì cùng với Bộ Tài chính lập các phương án thu, chi thuộc Quỹ bình ổn giá trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ quỹ này theo chế độ quản lý tài chính. Nghiêm cấm việc sử dụng "Quỹ bình ổn giá" để chi ngoài quy định tại
Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm thu phụ thu đối với hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu; Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thu phụ thu đối với danh mục hàng sản xuất, tiêu thụ trong nước theo tỷ lệ phụ thu do Ban Vật giá Chính phủ và Bộ Tài chính công bố.
Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan quy định việc xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm việc nộp phụ thu.
Điều 9. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Ban Vật giá Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan theo chức năng của mình hướng dẫn chi tiết thi hành Quyết định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã Ký) |
- 1 Chỉ thị 09/2003/CT-BTC về bình ổn giá trong dịp Tết nguyên đán Giáp Thân do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 3 Thông tư liên tịch 03-LB/TT năm 1993 hướng dẫn Quyết định 151/TTg về hình thành, sử dụng và quản lý Quỹ bình ổn giá do Ban Vật giá Chính phủ-Bộ Tài chính ban hành