Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Tóm tắt Quyết định 1657/2005/QĐ-TTCP về Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước trong ngành Thanh tra

Quyết định 1657/2005/QĐ-TTCP do Tổng thanh tra Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước trong ngành Thanh tra. Văn bản này thiết lập hệ thống quy định chặt chẽ nhằm bảo vệ an toàn thông tin, tài liệu mật trong toàn bộ hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng.

Hiệu lực thi hành và trách nhiệm quản lý chung

  • Hiệu lực pháp lý: Quyết định có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo và bãi bỏ Quyết định số 460/TTNN ngày 13/5/1994 của Tổng Thanh tra Nhà nước.
  • Đối tượng áp dụng: Vụ trưởng, thủ trưởng các đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ; Chánh thanh tra các Bộ, ngành Trung ương; Chánh thanh tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành.
  • Quản lý danh mục bí mật: Các đơn vị có trách nhiệm nắm chắc phạm vi bí mật Nhà nước của ngành Thanh tra. Hàng năm (vào quý I), các đơn vị phải rà soát danh mục bí mật thuộc phạm vi quản lý để đề xuất thay đổi độ mật, giải mật hoặc bổ sung danh mục mới trình cấp có thẩm quyền quyết định.

Bảo vệ bí mật trong soạn thảo, in ấn và sao chụp tài liệu

  • Địa điểm và thiết bị thực hiện: Việc soạn thảo, đánh máy, in, sao, chụp tài liệu mật phải tiến hành ở nơi an toàn do Thủ trưởng đơn vị quản lý. Tuyệt đối không sử dụng máy vi tính đã kết nối mạng Internet để thực hiện các công việc này. Dữ liệu trên máy tính phải được xóa ngay sau khi hoàn thành việc in ấn.
  • Nhân sự thực hiện: Chỉ giao cho cán bộ có đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức thực hiện; nghiêm cấm thuê người ngoài cơ quan đánh máy, in, sao, chụp tài liệu mật.
  • Quy trình xác định độ mật: Người soạn thảo phải đề xuất mức độ mật; người duyệt ký văn bản quyết định việc đóng dấu độ mật, số lượng phát hành và phạm vi lưu hành. Đối với vật mang bí mật Nhà nước (băng, đĩa, phim...) phải được niêm phong và có văn bản ghi rõ tên vật lưu kèm đóng dấu độ mật.
  • Lấy ý kiến dự thảo: Khi lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn bản mật, đơn vị chủ trì phải xác định rõ phạm vi, đối tượng và đóng dấu độ mật cần thiết vào dự thảo trước khi gửi.
  • Hủy bỏ bản thảo hỏng: Sau khi hoàn thành việc in, sao, chụp, phải kiểm tra và hủy ngay bản thảo (nếu không lưu), bản hỏng, giấy nến, giấy than đã sử dụng dưới sự chứng kiến của người nhận hoặc cán bộ bảo mật.
  • Thẩm quyền sao chụp: Việc sao chụp tài liệu "Tuyệt mật" và "Tối mật" phải được sự đồng ý bằng văn bản của nơi ban hành tài liệu gốc; tài liệu độ "Mật" phải được Thủ trưởng cơ quan đồng ý.
  • Quy chuẩn con dấu: Sử dụng mực màu đỏ tươi để đóng các loại con dấu độ mật, dấu thu hồi, dấu "chỉ người có tên mới được bóc bì" theo đúng quy định của Bộ Công an.

Quy trình vận chuyển, giao nhận và thu hồi tài liệu mật

  • Giao nhận trực tiếp: Mọi khâu chuyển giao tài liệu mật giữa người soạn thảo, văn thư, người giải quyết, người lưu trữ... đều phải vào sổ theo dõi và ký nhận trực tiếp tại nơi làm việc.
  • Gửi tài liệu đi:
    • Phải vào sổ "Tài liệu mật đi" đầy đủ các thông tin kiểm soát. Tài liệu độ "Tuyệt mật" chỉ ghi trích yếu khi được người có thẩm quyền đồng ý.
    • Tài liệu gửi đi phải kèm theo phiếu gửi bỏ chung vào bì dán kín. Bì ngoài làm bằng giấy dai, khó bóc, không nhìn thấu.
    • Đóng dấu ký hiệu độ mật ngoài bì: chữ "C" cho tài liệu "Mật"; chữ "B" cho tài liệu "Tối mật".
    • Tài liệu "Tuyệt mật" phải gửi bằng hai lớp bì: bì trong ghi rõ số hiệu, tên người nhận, đóng dấu "Tuyệt mật" (hoặc "Chỉ người có tên mới được bóc bì"); bì ngoài ghi như tài liệu thường và đóng dấu chữ "A". Các mối chéo bì trong phải được niêm phong bằng si hoặc giấy mỏng khó bóc.
  • Nhận tài liệu đến: Mọi tài liệu mật gửi đến phải qua văn thư để vào sổ "Tài liệu mật đến". Đối với bì có dấu "chỉ người có tên mới được bóc bì", văn thư không được bóc mà phải chuyển nguyên bì đến người nhận. Nếu phát hiện tài liệu có dấu hiệu bị bóc, tráo đổi, mất mát, phải lập biên bản và báo cáo ngay Thủ trưởng cơ quan.
  • Thu hồi tài liệu: Văn thư có trách nhiệm theo dõi, thu hồi hoặc trả lại nơi gửi đúng thời hạn đối với các tài liệu có đóng dấu "Tài liệu thu hồi".
  • Vận chuyển tài liệu: Do cán bộ bảo mật, văn thư hoặc giao liên thực hiện. Quá trình vận chuyển phải có phương tiện bảo quản an toàn và phải có người coi giữ cẩn thận trong mọi trường hợp.

Thống kê, cất giữ, bảo quản và sử dụng tài liệu mật

  • Chế độ lưu trữ: Các đơn vị phải lập sổ thống kê tài liệu mật theo trình tự thời gian và từng độ mật. Tài liệu mật phải được cất giữ nghiêm ngặt trong tủ, két khóa chắc chắn tại nơi an toàn. Tài liệu "Tuyệt mật" và "Tối mật" phải được bảo quản riêng và có người phụ trách do Thủ trưởng chỉ định.
  • Mang tài liệu ra ngoài cơ quan: Nghiêm cấm tự ý mang tài liệu mật ra ngoài cơ quan hoặc về nhà riêng. Trường hợp đi công tác, đi họp cần mang theo phải được Thủ trưởng đồng ý, phải đăng ký với bộ phận bảo mật và nộp trả lại ngay sau khi về.
  • Phạm vi phổ biến và sử dụng:
    • Tài liệu "Tuyệt mật" chỉ cá nhân người giải quyết được biết.
    • Tài liệu "Tối mật" chỉ phổ biến đến người hoặc đơn vị có trách nhiệm giải quyết.
    • Tài liệu "Mật" phổ biến đến người hoặc đơn vị có liên quan đến việc thi hành.
    • Việc ghi chép, ghi âm, ghi hình, quay phim tại các buổi phổ biến mật chỉ được thực hiện khi được phép của Thủ trưởng đơn vị quản lý.
  • Thông báo trách nhiệm: Khi triển khai thực hiện tài liệu mật, Thủ trưởng phải thông báo rõ mức độ mật cho cá nhân hoặc bộ phận trực tiếp thực hiện biết để bảo mật thông tin.

Bảo mật trong hoạt động thanh tra, thông tin liên lạc và đối ngoại

  • Trong hoạt động thanh tra: Trưởng đoàn, các thành viên đoàn thanh tra và người liên quan phải giữ bí mật tuyệt đối mọi thông tin, tài liệu thanh tra; không viết bài, đưa tin bình luận về các vụ việc đang trong quá trình thanh tra.
  • Cung cấp thông tin trong nước: Mọi trường hợp cung cấp thông tin mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt:
    • Độ "Tuyệt mật" và "Tối mật" do Tổng Thanh tra duyệt.
    • Độ "Mật" do Thủ trưởng đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra Bộ/ngành hoặc Chánh Thanh tra tỉnh/thành phố duyệt.
    • Nội dung cung cấp phải lập biên bản chi tiết và nộp lại bộ phận bảo mật. Bên nhận không được làm lộ hoặc cung cấp cho bên thứ ba.
  • Thông tin liên lạc: Việc chuyển nhận nội dung mật qua phương tiện vô tuyến, hữu tuyến, fax... phải thực hiện qua Phòng Cơ yếu. Tuyệt đối không trao đổi nội dung mật qua hệ thống điện thoại thông thường.
  • Trong hoạt động đối ngoại: Khi tiếp xúc với tổ chức, cá nhân nước ngoài, chỉ trao đổi nội dung đã được duyệt. Việc cung cấp tài liệu mật cho phía nước ngoài phải tuân thủ thẩm quyền:
    • Độ "Tuyệt mật" do Thủ tướng Chính phủ duyệt.
    • Độ "Tối mật" do Bộ trưởng Bộ Công an duyệt.
    • Độ "Mật" do Tổng Thanh tra duyệt.
    • Khi cung cấp phải lập biên bản và bên nhận phải cam kết bằng văn bản không tiết lộ cho bên thứ ba.

Quy trình tiêu hủy tài liệu mật

  • Thẩm quyền quyết định tiêu hủy:
    • Tổng Thanh tra quyết định tiêu hủy tài liệu mật độ "Tuyệt mật" và "Tối mật".
    • Thủ trưởng các đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra Bộ/ngành/tỉnh quyết định tiêu hủy tài liệu mật độ "Mật".
  • Thành lập Hội đồng tiêu hủy: Hội đồng do Thủ trưởng cơ quan có tài liệu mật làm Chủ tịch; các thành viên gồm đại diện đơn vị có tài liệu tiêu hủy, văn phòng, người trực tiếp quản lý tài liệu mật và cán bộ bảo mật.
  • Yêu cầu kỹ thuật tiêu hủy: Đảm bảo không để lộ lọt nội dung. Tài liệu giấy phải đốt, xé hoặc nghiền nhỏ đến mức không thể chắp ghép. Vật mang bí mật (băng, đĩa, phim) phải làm thay đổi hoàn toàn hình dạng và tính năng để không thể phục hồi, khai thác.
  • Hồ sơ tiêu hủy: Phải lập biên bản thống kê chi tiết danh mục tài liệu đã tiêu hủy (số công văn, số bản, trích yếu nội dung, phương thức tiêu hủy) có đầy đủ chữ ký của các thành viên Hội đồng và lưu tại bộ phận bảo mật.

Cam kết bảo mật, kiểm tra và chế độ báo cáo

  • Cam kết bảo mật: Cán bộ làm công tác bảo mật phải làm bản cam kết lưu hồ sơ nhân sự. Người được tiếp xúc với tài liệu "Tuyệt mật", "Tối mật" phải ký tên vào danh sách cam kết bảo mật do Thủ trưởng lập và lưu trữ tại bộ phận bảo mật.
  • Công tác kiểm tra: Tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất dưới sự chỉ đạo của Thủ trưởng cơ quan. Sau kiểm tra phải lập biên bản báo cáo ưu điểm, khuyết điểm và kiến nghị gửi cấp trên.
  • Chế độ báo cáo:
    • Báo cáo đột xuất: Báo cáo ngay khi xảy ra các sự cố gây phương hại đến bí mật Nhà nước (lộ, lọt, mất mát tài liệu mật) để kịp thời truy xét, ngăn chặn và hạn chế tác hại.
    • Báo cáo định kỳ: Báo cáo toàn diện công tác bảo mật mỗi năm 01 lần (vào dịp báo cáo tổng kết năm), gửi về Văn phòng Thanh tra Chính phủ để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Khen thưởng, xử lý vi phạm và tổ chức thực hiện

  • Khen thưởng: Áp dụng đối với tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ bí mật; dũng cảm bảo vệ tài liệu mật; kịp thời phát hiện, tố giác hành vi xâm phạm bí mật Nhà nước.
  • Xử lý vi phạm: Cá nhân, tập thể vi phạm quy chế này tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
  • Trách nhiệm tổ chức thực hiện: Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Quy chế này trong toàn ngành. Ngoài quy chế này, các đơn vị phải tuân thủ nghiêm túc Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước, Nghị định 33/2002/NĐ-CP và Thông tư 12/2002/TT-BCA.

THANH TRA CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 1657/2005/QĐ-TTCP

Hà Nội, ngày 06 tháng 09 năm 2005 

 

QUYẾT ĐỊNH

CỦA TỔNG THANH TRA CHÍNH PHỦ BAN HÀNH QUY CHẾ BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC TRONG NGÀNH THANH TRA.

TỔNG THANH TRA

Căn cứ Luật Thanh tra năm 2004;
Căn cứ Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28/12/2000 của Chính phủ quy chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 5/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang bộ;
Căn cứ Quyết định số 588/2004/QĐ-BCA (A11) ngày 25/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Công an về danh mục bí mật nhà nước trong ngành Thanh tra;
Xét đề nghị của ông Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ, 

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo quyết định này “Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước trong ngành Thanh tra”.

Điều 2: Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo; bãi bỏ Quyết định số: 460/TTNN ngày 13/5/1994 của Tổng Thanh tra Nhà nước ban hành nội quy bảo mật Nhà nước của Thanh tra Nhà nước.

Điều 3: Vụ trưởng, thủ trưởng các đơn vị thuộc thanh tra Chính phủ; Chánh thanh tra các Bộ, ngành TW; Chánh thanh tra các tỉnh, TP trực thuộc TW chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

 

 

Quách Lê Thanh

(Đã ký)

 

QUY CHẾ

BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC TRONG NGÀNH THANH TRA
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1657/2005/QĐ-TTCP ngày 06 tháng 9 năm 2005 của Tổng thanh tra)

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1:Bí mật Nhà nước trong ngành Thanh tra thuộc phạm vi danh mục bí mật Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Công an quy định tại Quyết định số 588/2004/QĐ-BCA (A11) ngày 25/6/2004 (gọi tắt là bí mật Nhà nước trong ngành Thanh tra) và các quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 2:Quy chế này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài ngành Thanh tra làm các công việc có liên quan đến bí mật Nhà nước trong ngành Thanh tra.

Điều 3:Cán bộ, công chức làm công tác có liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước của ngành Thanh tra phải có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức cảnh giác bảo vệ bí mật Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao; có chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Những người được giao nhiệm vụ tiếp xúc với bí mật Nhà nước phải thực hiện đầy đủ các quy định tại Quy chế này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 4:Nghiêm cấm mọi thành vi thu thập, cung cấp, làm lộ, làm mất, chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy trái phép các bí mật Nhà nước.

Chương 2:

NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ

I. CÁC ĐỊNH ĐỘ MẬT, THAY ĐỔI ĐỘ MẬT, GIẢI MẬT, SỬA ĐỔI, BỔ SUNG DANH MỤC BÍ MẬT NHÀ NƯỚC.

Điều 5:Các đơn vị trực thuộc Thanh tra Chính phủ, Thanh tra các cấp, các ngành có trách nhiệm:

1. Nắm chắc phạm vi bí mật Nhà nước theo danh mục bí mật Nhà nước của ngành thanh tra. Xác định kịp thời, chính xác mọi bí mật Nhà nước hiện có hoặc phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

Đối với những nội dung mới chưa có trong danh mục mà yêu cầu thực tế đặt ra phải đảm bảo bí mật thì báo cáo ngay Tổng Thanh tra trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

2. Hàng năm (vào quý I), các Vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ, Thanh tra các Bộ, ngành Trung ương, Thanh tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải xem xét danh mục bí mật Nhà nước thuộc phạm vi đơn vị mình quản lý, trường hợp thấy cần thay đổi độ mật, cần giải mật hoặc xác định những nội dung mới cần được bảo mật thì báo cáo Tổng Thanh tra trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật Nhà nước theo quy định của pháp luật.

II. BẢO VỆ BÍ MẬT TRONG VIỆC SOẠN THẢO, SAO CHỤP, IN TÀI LIỆU BÍ MẬT NHÀ NƯỚC

Điều 6:Khi soạn thảo, đánh máy, in các văn bản, sao, chụp hồ sơ, tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước có liên quan đến bí mật Nhà nước của ngành Thanh tra phải tuân theo các quy định sau:

1. Việc soạn thảo, đánh máy, in, sao, chụp tài liệu mật phải được tiến hành ở nơi an toàn do Thủ trưởng đơn vị trực tiếp quản lý tài liệu mật theo quy định. Không được sử dụng máy vi tính đã kết nối mạng Internet để đánh máy, in, sao và lưu văn bản thuộc tài liệu mật.

2. Vụ trưởng, thủ trưởng các đơn vị giao cho người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 3 Quy chế này thực hiện nhiệm vụ đánh máy, in, sao, chụp tài liệu mật. Không thuê người ngoài cơ quan đánh máy, in, sao, chụp tài liệu mật.

3. Khi soạn thảo văn bản có nội dung bí mật Nhà nước, người soạn thảo phải đề xuất với Thủ trưởng trực tiếp về mức độ mật theo đúng danh mục; người duyệt, ký văn bản chịu trách nhiệm quyết định việc đóng dấu mức độ mật, số lượng bản phát hành và phạm vi lưu hành.

Đối với vật mang bí mật Nhà nước (băng, đĩa, phim...) phải được niêm phong, có văn bản ghi rõ tên cụ thể vật lưu kèm và đóng dấu mức độ mật vào văn bản này.

4. Khi tổ chức lấy ý kiến để xây dựng dự thảo văn bản có nội dung bí mật Nhà nước đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, thì đơn vị chủ trì soạn thảo phải xác định rõ phạm vi, đối tượng, phải đóng dấu xác định mức độ mật cần thiết vào dự thảo trước khi gửi xin ý kiến.

5. Người có trách nhiệm đánh máy, in, sao, chụp tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước chỉ được in, sao, chụp đủ số lượng văn bản, đóng dấu độ mật, dấu thu hồi (nếu cần), đánh số trang, số bản, số lượng in, phạm vi lưu hành, tên người đánh máy, in, soát, sao chụp tài liệu. Đối với tài liệu mật sao, chụp ở dạng băng, đĩa, phim... phải niêm phong và đóng dấu độ mật, ghi rõ tên người sao, chụp ở bì niêm phong.

Sau khi đánh máy, in, sao, chụp xong phải kiểm tra lại và hủy ngay bản thảo (nếu không cần lưu), những bản đánh máy, in, sao chụp hỏng, giấy nến, giấy than đã sử dụng để in, sao các tài liệu đó, có sự chứng kiến của người nhận văn bản hoặc cán bộ bảo mật (nếu có); nếu đánh máy bằng máy vi tính, phải xóa ngay dữ liệu sau khi hoàn thành việc in tài liệu, trường hợp đặc biệt chỉ được lưu đến khi văn bản phát hành.

Việc sao, chụp văn bản, tài liệu mật hoặc các vật mang bí mật Nhà nước (Băng, đĩa, phim, ảnh...): đối với tài liệu độ “Tuyệt mật”, “Tối mật” phải được nơi ban hành tài liệu gốc đồng ý bằng văn bản ghi rõ số lượng bản sao, chụp; đối với tài liệu độ “mật” phải được Thủ trưởng cơ quan đồng ý.

6. Việc đóng dấu mức độ mật vào tài liệu mật và mẫu dấu các độ mật, mẫu dấu tài liệu thu hồi và mẫu dấu “chỉ người có tên mới được bóc bì” thực hiện theo quy định tại Thông tư số 12/2002/TT-BCA (A11) ngày 13/9/2002 của Bộ Công an hướng dẫn thực hiện Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002 của Chính phủ và các quy định của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước.

7. Mực dùng để đóng các loại con dấu trên là loại mực màu đỏ tươi.

III. BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC VẬN CHUYỂN, GIAO NHẬN TÀI LIỆU, VẬT MANG BÍ MẬT NHÀ NƯỚC

Điều 7.Việc vận chuyển, giao nhận các tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước (sau đây gọi chung là tài liệu mật) phải đảm bảo tuyệt đối an toàn và thực hiện theo các quy định sau:

1. Giao nhận tài liệu mật:

Mọi trường hợp giao, nhận tài liệu mật giữa các khâu: Người soạn thảo, đánh máy, in, văn thư, giao liên, người có trách nhiệm giải quyết, người lưu giữ, bảo quản .... đều phải vào sổ, có ký nhận của người giao, người nhận. Việc giao nhận tài liệu mật phải được thực hiện trực tiếp tại nơi làm việc, đảm bảo an toàn theo quy định của Thủ trưởng đơn vị có tài liệu mật.

2. Gửi tài liệu mật đi:

a) Vào sổ: Tài liệu mật trước khi gửi đi phải vào sổ “Tài liệu mật đi”; phải ghi đầy đủ các cột, mục sau: số thứ tự, ngày, tháng, năm, nơi nhận, trích yếu nội dung, độ mật, độ khẩn, người ký nhận (ghi rõ họ tên). Trường hợp gửi tài liệu mật độ “Tuyệt mật” thì cột trích yếu nội dung chỉ được ghi khi người có thẩm quyền đồng ý. Tài liệu mật gửi đi phải cho vào bì dán kín và chuyển đến văn thư để làm bì ngoài gửi đi.

b) Lập phiếu gửi: Tài liệu mật gửi đi phải kèm theo phiếu gửi và phải bỏ chung vào bì cùng với tài liệu. Phiếu gửi phải ghi rõ nơi gửi, số phiếu gửi, nơi nhận, số ký hiệu từng tài liệu gửi đi, đóng dấu độ mật, độ khẩn của tài liệu vào góc trên phía trái của tờ phiếu.

Khi nhận tài liệu mật, phải hoàn lại phiếu gửi cho nơi gửi tài liệu mật.

c) Làm bì: Tài liệu mật gửi đi không được bỏ chung trong một bì với tài liệu thường. Bì gửi tài liệu mật phải làm bằng chất liệu giấy dai, độ thấm nước thấp, khó bóc, không nhìn thấu qua được.

Đóng dấu ký hiệu các độ mật ngoài bì như sau:

- Tài liệu độ “Mật” đóng dấu chữ “C”

- Tài liệu độ “Tối mật” đóng dấu chữ “B”

- Tài liệu độ “Tuyệt mật” gửi bằng hai bì:

+ Bì trong: ghi rõ số, ký hiệu của tài liệu, tên người nhận, đóng dấu độ “Tuyệt mật”. Nếu tài liệu được gửi đích danh cho người có trách nhiệm giải quyết thì đóng dấu “Chỉ người có tên mới được bóc bì”.

+ Bì ngoài: Ghi như tài liệu thường, đóng dấu chữ “A”.

d) Niêm phong: Tài liệu “Tuyệt mật”, “Tối mật” gửi đi, bì trong sau khi dán hồ phải niêm phong chỗ giao điểm các mối chéo phía sau của bì bằng si hoặc bằng giấy mỏng khó bóc. Dấu niêm phong đóng một nửa trên si hoặc trên giấy niêm phong, một nủa trên giấy bì, dùng mực dấu mầu đỏ tươi.

3. Nhận tài liệu mật đến:

Mọi tài liệu mật từ bất cứ nguồn nào gửi đến đều phải qua bộ phận văn thư cơ quan, đơn vị vào sổ “Tài liệu mật đến” để theo dõi và chuyển đến người có trách nhiệm giải quyết.

Trường hợp tài liệu mật gửi đến mà bì trong có dấu “chỉ người có tên mới được bóc bì” thì văn thư vào sổ số tài liệu ghi ngoài bì và chuyển ngay đến người có tên trên bì. Nếu người có tên trên bì đi vắng thì chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết. Văn thư không được bóc bì.

Mọi tài liệu mật đến sau khi nhận, kiểm tra xong, văn thư phải ký xác nhận vào phiếu gửi và trả lại nơi gửi tài liệu đó.

Trường hợp thấy tài liệu mật gửi đến nơi mà nơi gửi không thực hiện đúng thủ tục bảo mật thì chuyển đến người có trách nhiệm giải quyết, đồng thời thông tin lại nơi gửi để rút kinh nghiệm. Nếu phát hiện tài liệu gửi đến có dấu hiệu bị bóc, mở bao bì, lộ bí mật hoặc bị tráo đổi, mất, hư hỏng... thì người nhận phải lập biên bản xác nhận và báo cáo ngay với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị để có biện pháp xử lý kịp thời.

4. Thu hồi tài liệu mật

Những tài liệu mật có đóng dấu “Tài liệu thu hồi”, văn thư phải theo dõi, thu hồi hoặc trả lại nơi gửi đúng thời hạn. Khi nhận cũng như khi trả phải kiểm tra, đối chiếu đảm bảo tài liệu không bị thất lạc.

5. Vận chuyển tài liệu mật

Vận chuyển tài liệu mật phải đảm bảo an toàn tuyệt đối theo quy định sau:

Do cán bộ làm công tác bảo mật hoặc cán bộ văn thư, giao liên của cơ quan, đơn vị thực hiện.

- Khi vận chuyển tài liệu mật phải có đủ phương tiện đáp ứng việc bảo quản, mang, giữ; trong mọi trường hợp phải có người có trách nhiệm coi giữ cẩn thận, đảm bảo an toàn tuyệt đối các loại tài liệu mật.

IV. THỐNG KÊ CẤT GIỮ, BẢO QUẢN CÁC TÀI LIỆU THUỘC BÍ MẬT NHÀ NƯỚC

Điều 8.

Việc thống kê, cất giữ, bảo quản tài liệu mật phải được thực hiện theo các quy định sau:

1. Các đơn vị trực thuộc Thanh tra Chính phủ, Thanh tra các cấp, các ngành phải lập sổ thống kê các loại tài liệu mật do đơn vị mình quản lý, theo trình tự thời gian và theo từng độ mật (gồm các tài liệu mật hiện có, phát sinh trong quá trình hoạt động của cơ quan, đơn vị hoặc được tiếp nhận từ bên ngoài gửi tới).

2. Tài liệu mật phải được cất giữ, bảo quản nghiêm ngặt tại nơi bảo đảm an toàn tuyệt đối, do Thủ trưởng đơn vị quy định. Không được tự ý mang tài liệu mật ra ngoài cơ quan hoặc mang về nhà riêng. Ngoài giờ làm việc phải cất tài liệu mật vào tủ, bàn, két khóa chắc chắn.

3. Tài liệu mật độ “Tuyệt mật”, “Tối mật” phải được cất giữ bảo quản riêng, có người phụ trách do Thủ trưởng đơn vị chỉ định.

4. Cán bộ, công chức đi công tác, đi họp ngoài cơ quan hoặc làm việc tại nhà riêng cần mang theo tài liệu mật phải được Thủ trưởng đơn vị đồng ý, chỉ được mang theo những tài liệu mật có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ được giao; phải đăng ký với bộ phận bảo mật của cơ quan, đơn vị; phải đảm bảo an toàn tuyệt đối tài liệu mật mang theo; khi về nộp trả cơ quan, đơn vị.

V. BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHỔ BIẾN, LƯU HÀNHTÌM HIỂU, SỬ DỤNG TÀI LIỆU THUỘC BÍ MẬT NHÀ NƯỚC

Điều 9: Việc phổ biến, lưu hành, tìm hiểu, sử dụng tài liệu mật phải theo đúng các quy định sau:

1. Phạm vi, đối tượng

a) Tài liệu độ “Tuyệt mật” chỉ có cá nhân người giải quyết được biết.

b) Tài liệu độ “Tối mật” chỉ phổ biến đến những người hoặc những đơn vị có trách nhiệm giải quyết.

c) Tài liệu độ “Mật” được phổ biến đến những người, những đơn vị có quan hệ đến việc thi hành văn bản.

2. Thực hiện ở nơi đảm bảo an toàn, do Thủ trưởng đơn vị quy định.

3. Người phổ biến, giao nhiệm vụ phải thực hiện đúng nội dung cấp trên giao và có trách nhiệm nhắc người nghe, tìm hiểu giữ bí mật.

4. Chỉ được ghi chép, ghi âm, ghi hình khi được phép của Thủ trưởng đơn vị trực tiếp quản lý bí mật Nhà nước cần phổ biến. Người được nghe, được tìm hiểu, ghi chép, ghi âm, quay phim, chụp ảnh... phải bảo quản, sử dụng bí mật Nhà nước được phổ biến như tài liệu gốc.

Điều 10. Khi triển khai thực hiện tài liệu mật, Thủ trưởng đơn vị có tài liệu mật phải thông báo cho cá nhân hoặc bộ phân trực tiếp thực hiện biết mức độ mật của tài liệu; người được giao thực hiện không được làm lộ nội dung tài liệu mật cho người không có trách nhiệm biết.

VI. BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, TRONG THÔNG TIN LIÊN LẠC VÀ THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG

Điều 11.Trong quá trình thanh tra, Trưởng đoàn, các thành viên đoàn thanh tra và những gnười có liên quan phải tuyệt đối giữ bí mật về mọi thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động thanh tra; không viết bài, không đưa tin bình luận về nội dung các vụ việc đang thanh tra.

Trưởng đoàn và các thành viên đoàn thanh tra phải bảo quản an toàn, bí mật tài liệu, hồ sơ thanh tra.

Điều 12.Mọi trường hợp trao đổi, cung cấp tình hình, số liệu thông tin có nội dung bí mật Nhà nước cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải được sự đồng ý của Tổng Thanh tra hoặc thủ trưởng đơn vị nơi phát hành tài liệu mật và phải chịu trách nhiệm đối với việc cung cấp thông tin.

Điều 13. Các cơ quan, đơn vị có lưu giữ bí mật Nhà nước thuộc danh mục bí mật Nhà nước trong ngành Thanh tra khi cung cấp thông tin thuộc phạm vi bí mật Nhà nước phải được cấp có thẩm quyền xét duyệt, theo quy định sau:

1. Bí mật Nhà nước độ “Tuyệt mật” và “Tối mật” do Tổng Thanh tra duyệt.

2. Bí mật Nhà nước độ “Mật” do Thủ trưởng đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra Bộ, ngành Trung ương và Chánh Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương duyệt.

3. Cơ quan, đơn vị và người thực hiện chỉ được cung cấp tài liệu mật theo đúng nội dung được duyệt. Bên nhận thông tin không được làm lộ lọt và không được cung cấp thông tin đã nhận cho người khác. Nội dung buổi làm việc về cung cấp thông tin phải được ghi chi tiết bằng biên bản để báo cáo với người đã duyệt cung cấp thông tin và nộp lại bộ phận bảo mật của cơ quan, đơn vị.

Điều 14. Mọi nội dung thuộc phạm vi bí mật Nhà nước trong ngành Thanh tra chuyển nhận bằng các phương tiện thông tin vô tuyến, hữu tuyến điện báo, fax... đều phải thực hiện thông qua các Phòng nghiệp vụ (Phòng cơ yếu) của các cơ quan có thẩm quyền. Tuyệt đối không sử dụng điện rõ nội dung và không được trao đổi nội dung tài liệu mật qua hệ thống điện thoại thông thường.

VII. BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

Điều 15.Khi quan hệ tiếp xúc với cơ quan , tổ chức nước ngoài, cá nhân người nước ngoài (ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài) để thi hành công vụ , phải tuân theo các quy định sau:

1. Chỉ được trao đổi những nội dung đã được cấp có thẩm quyền duyệt và phải báo cáo kết quả cuộc tiếp xúc nói trên với thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Ngoài ra không được tiết lộ bí mật Nhà nước nói chung và bí mật Nhà nước của ngành Thanh tra nói riêng.

2. Nếu có yêu cầu phải cung cấp tài liệu mật cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, phải tuân thủ nguyên tắc:

a) Bảo vệ lợi ích Quốc gia

b) Chỉ cung cấp thông tin được cấp có thẩm quyền duyệt đồng ý theo quy định sau:

- Bí mật Nhà nước độ “Tuyệt mật” do Thủ tướng Chính phủ duyệt.

- Bí mật Nhà nước độ “Tối mật” do Bộ trưởng Bộ Công an duyệt.

- Bí mật Nhà nước độ “Mật” do Tổng Thanh tra duyệt.

Khi cung cấp thông tin phải có biên bản, trong đó bên nhận tin phải cam kết sử dụng đúng mục đích nguồn thông tin nhận được và không tiết lộ cho bên thứ 3.

VIII. BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC TIÊU HỦY TÀI LIỆU THUỘC BÍ MẬT NHÀ NƯỚC

Điều 16. Mọi trường hợp tiêu hủy tài liệu mật phải được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền.

Tổng Thanh tra quyết định việc tiêu hủy đối với tài liệu mật độ “Tuyệt mật”, “Tối mật”; Thủ trưởng các đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ, Chánh thanh tra bộ, ngành Trung ương, Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định tiêu hủy đối với tài liệu mật độ “Mật”.

Căn cứ quy định trên, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có tài liệu mật liên quan có trách nhiệm xem xét, quyết định việc tiêu hủy tài liệu mật trong phạm vi quản lý của mình.

Điều 17. Khi tổ chức tiêu hủy tài liệu mật phải lập hội đồng gồm: Thủ trưởng cơ quan có tài liệu mật làm Chủ tịch hội đồng; đại diện các đơn vị có tài liệu mật tiêu hủy, Văn phòng, người trực tiếp quản lý tài liệu mật, cán bộ bảo mật và đại diện đơn vị có liên quan tham gia (do Chủ tịch hội đồng quyết định).

Hội đồng tiêu hủy tài liệu mật có trách nhiệm:

1. Đối với văn bản, tài liệu thuộc danh mục bí mật Nhà nước không cần thiết đưa vào lưu trữ Nhà nước thì hội đồng lập danh mục và tờ trình báo cáo Tổng Thanh tra, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có liên quan đến bí mật Nhà nước thuộc lĩnh vực của ngành Thanh tra xem xét, quyết định việc tiêu hủy.

Đối với mật mã, thực hiện tiêu hủy theo quy định của Ban Cơ yếu Chính phủ.

2. Trong quá trình thực hiện tiêu hủy tài liệu mật phải bảo đảm:

- Không tiết lộ, để lọt nội dung tài liệu mật.

- Đối với tài liệu mật và văn bản in trên chất liệu giấy phải đốt, xé, nghiền nhỏ tới mức không thể chắp ghép.

- Đối với tài liệu mật là vật mang bí mật Nhà nước (Băng, đĩa, phim... đã sử dụng) phải làm thay đổi toàn bộ hình dạng và tính năng tác dụng để không còn phục hồi, khai thác, sử dụng được.

3. Lập biên bản thống kê đầy đủ danh mục từng tài liệu mật đã tiêu hủy, trong đó phải ghi rõ số công văn, số bản, trích yếu nội dung tài liệu. Nội dung biên bản phải phản ánh được phương thức, trình tự tiến hành và người thực hiện tiêu hủy tài liệu mật. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia, sau đó nộp lưu tại bộ phận bảo mật của cơ quan, đơn vị.

IX. CAM KẾT BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC

Điều 18.Cán bộ được cử làm công tác bảo mật phải làm bản cam kết bảo vệ bí mật Nhà nước để lưu hồ sơ nhân sự của cơ quan, đơn vị.

Điều 19.Người được tiếp xúc (nghe phổ biến, nghiên cứu, sử dụng...) tin tức, tài liệu độ “Tuyệt mật”, “Tối mật” phải cam kết bảo vệ bí mật Nhà nước bằng cách lập danh sách ghi rõ họ tên, chức vụ, đơn vị, những nội dung bí mật được tiếp xúc, ký tên. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc người được ủy quyền chịu trách nhiệm lập danh sách này, cùng ký tên và nộp lưu tại bộ phận bảo mật của cơ quan, đơn vị chủ quản.

X. KIỂM TRA THỰC HIỆN CÔNG TÁC BẢO VỆ BÍ MẬT NHÀ NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ BÁO CÁO

Điều 20.Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ hoặc có nhiệm vụ liên quan đến bí mật Nhà nước thuộc ngành Thanh tra thực hiện việc kiểm tra công tác theo định kỳ và đột xuất do cán bộ bảo mật thực hiện, dưới sự chỉ đạo của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

Nội dung các cuộc kiểm tra định kỳ và đột xuất Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định. Sau khi hoàn thành việc kiểm tra phải có biên bản ghi nhận ưu điểm, khuyết điểm và kiến nghị của người thực hiện kiểm tra, báo cáo Thủ trưởng cơ quan, đơn vị và gửi lên cấp trên.

Điều 21.Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ, hoặc có nhiệm vụ liên quan đến bí mật Nhà nước thuộc ngành Thanh tra thực hiện chế độ báo cáo theo các hình thức sau:

1. Báo cáo đột xuất: là báo cáo ngay những vụ việc đột xuất nếu gây phương hại đến bí mật Nhà nước như có những hành vi thông báo, chuyển giao, tiết lộ bí mật Nhà nước dưới mọi hình thức cho người không có phận sự, làm mất, thất thoát tài liệu mật.

Nội dung báo cáo phải ghi đầy đủ địa điểm, thời gian xảy ra sự việc, đồng thời tiến hành ngay các biện pháp kiểm tra, xác minh, truy xét, thu hồi, ngăn chặn, hạn chế tác hại có thể xảy ra thuộc phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị.

2. Báo cáo định kỳ: là báo cáo toàn diện công việc thực hiện công tác bảo mật của cơ quan, đơn vị, mỗi năm 01 lần cùng với thời điểm báo cáo công tác năm do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị ký và được gửi về Thanh tra Chính phủ (Văn phòng) để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định.

Chương 3:

KHEN THƯỞNG, XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 22.Tập thể, cá nhân sẽ được xét khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước, dựa trên các tiêu chí sau:

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ bí mật Nhà nước theo nhiệm vụ được giao.

Vượt khó khăn, nguy hiểm để bảo vệ bí mật Nhà nước. Ngăn chặn và khắc phục được hậu quả, tác hại do việc làm lộ, làm mất, thất thoát bí mật Nhà nước do người khác gây ra.

- Phát hiện, tố giác kịp thời các hành vi dò xét, chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy trái phép bí mật Nhà nước.

Có thành tích đột xuất khác liên quan đến bảo vệ bí mật Nhà nước thuộc ngành Thanh tra.

Điều 23.Tập thể, cá nhân vi phạm chế độ bảo vệ bí mật Nhà nước được quy định tại Quy chế này và các quy định khác của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành Thanh tra hoặc gây phương hại đến an ninh quốc gia thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm sẽ bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Chương 4:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 24.Việc thực hiện công tác bảo vệ bí mật Nhà nước của ngành Thanh tra là trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong và ngoài ngành Thanh tra. Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Thanh tra Chính phủ, Chánh thanh tra các Bộ, ngành TW, Chánh thanh tra các tỉnh, thành phố TW thực hiện Quy chế này.

Điều 25.Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp tình hình thực hiện công tác bảo vệ bí mật Nhà nước trong toàn ngành Thanh tra.

Điều 26.Ngoài các quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước của ngành Thanh tra tại Quy chế này, Thanh tra các Bộ, ngành TW, Thanh tra các tỉnh, thành phố TW phải thực hiện quy định của Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước; Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước; Thông tư số 12/2002/TT-BCA (A11) ngày 13/9/2002 của Bộ công an hướng dẫn thực hiện Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002 của Chính phủ và các quy định của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 1657/2005/QĐ-TTCP về quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước trong ngành thanh tra do Tổng thanh tra Chính phủ ban hành

Số hiệu: 1657/2005/QĐ-TTCP
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 06/09/2005
Nơi ban hành: Thanh tra Chính phủ
Người ký: Quách Lê Thanh
Ngày công báo: 17/09/2005
Số công báo: Số 22
Ngày hiệu lực: 02/10/2005
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 1657/2005/QĐ-TTCP về quy chế bảo v...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký