Quyết định 215/1998/QĐ-NHNN5 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về Quy chế kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam. Quy chế này được thiết lập nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, đồng thời hỗ trợ các tổ chức tín dụng khắc phục các khó khăn về tài chính và hoạt động để ổn định hệ thống ngân hàng.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Quy chế này áp dụng trực tiếp đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần và các Công ty tài chính cổ phần hoạt động tại Việt Nam khi lâm vào tình trạng khó khăn hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả, thanh toán.
Các trường hợp tổ chức tín dụng cổ phần bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt
Một tổ chức tín dụng cổ phần có thể bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi rơi vào một hoặc nhiều trường hợp sau:
- Có nguy cơ mất khả năng chi trả: Không duy trì được giá trị tài sản động tương đương với các khoản phải chi trả trong 3 ngày làm việc tiếp theo trong 03 lần liên tiếp trong vòng một tháng; hoặc không có khả năng huy động nguồn vốn để thanh toán các khoản nợ đến hạn.
- Có nguy cơ mất khả năng thanh toán: Các khoản nợ khó đòi, nợ cho vay quá hạn từ 12 tháng trở lên chiếm tỷ lệ trên 10% tổng dư nợ cho vay; hoặc các khoản nợ khách hàng không có khả năng thanh toán và không có tài sản thế chấp hợp pháp lớn hơn 100% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
- Tình hình tài chính suy sụp: Số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng lớn hơn 50% tổng số vốn điều lệ thực có và các quỹ dự trữ.
Quy trình báo cáo và ban hành quyết định kiểm soát đặc biệt
- Nghĩa vụ báo cáo: Khi xuất hiện nguy cơ lâm vào các tình trạng nêu trên, tổ chức tín dụng cổ phần phải lập tức báo cáo bằng văn bản cho Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi đặt trụ sở chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân và các phương án khắc phục đã hoặc dự kiến áp dụng.
- Đề xuất kiểm soát đặc biệt: Trên cơ sở báo cáo của tổ chức tín dụng hoặc qua công tác thanh tra, giám sát, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh hoặc Thanh tra Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm báo cáo và đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra quyết định đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
- Nội dung quyết định: Quyết định kiểm soát đặc biệt phải nêu rõ tên tổ chức tín dụng bị kiểm soát, lý do áp dụng, danh sách thành viên và nhiệm vụ cụ thể của Ban kiểm soát đặc biệt, cùng thời hạn kiểm soát cụ thể.
Cơ cấu tổ chức và tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm soát đặc biệt
- Thành lập Ban kiểm soát đặc biệt: Ban do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định thành lập, hoạt động trực tiếp tại trụ sở của tổ chức tín dụng bị kiểm soát và sử dụng con dấu của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước trong các văn bản giao dịch.
- Số lượng và tiêu chuẩn thành viên: Ban kiểm soát đặc biệt phải có tối thiểu 03 thành viên. Thành viên phải là cán bộ thuộc các phòng chuyên môn của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (như quản lý tổ chức tín dụng, thanh tra, kế toán, tín dụng, quản lý ngoại hối), có ít nhất 03 năm kinh nghiệm trong ngành ngân hàng, và không phải là cổ đông hoặc có quan hệ gia đình ruột thịt (bố, mẹ, vợ, chồng, con) với các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban điều hành của tổ chức tín dụng bị kiểm soát.
- Sự tham gia của tổ chức tín dụng khác: Trong trường hợp cần thiết, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có thể chỉ định một tổ chức tín dụng khác tham gia hỗ trợ và cử cán bộ tham gia Ban kiểm soát đặc biệt.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Ban kiểm soát đặc biệt
Ban kiểm soát đặc biệt được giao các quyền năng và trách nhiệm pháp lý mạnh mẽ để chấn chỉnh tổ chức tín dụng:
- Nhiệm vụ cốt lõi: Chỉ đạo Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng xây dựng phương án củng cố tổ chức và hoạt động; giám sát chặt chẽ việc triển khai phương án; yêu cầu cung cấp hồ sơ tài liệu, kiểm kê tài sản hoặc thực hiện kiểm toán độc lập; đối chiếu công khai nợ với khách hàng và lập hồ sơ chuyển cơ quan pháp luật xử lý các vi phạm cố tình không trả nợ; báo cáo định kỳ hàng tháng cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Quyền hạn xử lý: Đình chỉ các hoạt động không phù hợp với phương án củng cố hoặc các hoạt động gây mất an toàn cho người gửi tiền; đề nghị Thống đốc đình chỉ quyền quản trị, điều hành của các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban giám đốc; yêu cầu miễn nhiệm, đình chỉ công tác nhân sự vi phạm pháp luật; kiến nghị gia hạn hoặc chấm dứt kiểm soát đặc biệt; kiến nghị cho vay đặc biệt để hỗ trợ chi trả cho khách hàng.
- Trách nhiệm: Ban kiểm soát đặc biệt chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về mọi quyết định và hoạt động của mình trong suốt quá trình kiểm soát.
Trách nhiệm và các hành vi bị nghiêm cấm đối với tổ chức tín dụng bị kiểm soát
Tổ chức tín dụng cổ phần trong thời gian bị kiểm soát đặc biệt phải tuân thủ nghiêm ngặt các nghĩa vụ sau:
- Nghĩa vụ thực hiện: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban điều hành phải tiếp tục quản trị, điều hành và bảo vệ an toàn tài sản; xây dựng và thực thi phương án củng cố; làm việc liên tục tại đơn vị để giải quyết khó khăn; chấp hành tuyệt đối chỉ đạo của Ban kiểm soát đặc biệt và thực hiện triệt để chế độ tiết kiệm chi phí.
- Trường hợp thành lập Ban quản trị lâm thời: Ban quản trị lâm thời phải lập tức tiếp quản quyền điều hành, đồng thời xác định rõ trách nhiệm cá nhân của các thành viên thuộc bộ máy quản lý cũ.
- Các hành vi bị nghiêm cấm (nếu chưa được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận): Cho phép cổ đông chuyển nhượng cổ phần; thực hiện chia lợi tức cổ phần; cất giấu, tẩu tán, cầm cố, thế chấp hoặc chuyển nhượng tài sản, hồ sơ tài liệu; từ chối hoặc tự ý giảm bớt quyền, nghĩa vụ đối với khách hàng.
Hỗ trợ tài chính và thời hạn kiểm soát đặc biệt
- Hỗ trợ chi trả tiền gửi: Để bảo đảm khả năng chi trả cho người gửi tiền, tổ chức tín dụng bị kiểm soát đặc biệt có thể được Ngân hàng Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng khác cho vay đặc biệt. Khoản vay đặc biệt này được pháp luật ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của tổ chức tín dụng đó.
- Thời hạn kiểm soát: Thời hạn kiểm soát đặc biệt cụ thể do Thống đốc quyết định cho từng trường hợp. Tổ chức tín dụng có thể xin gia hạn nếu cần thiết, tuy nhiên tổng thời gian kiểm soát đặc biệt (bao gồm cả thời gian gia hạn) không được vượt quá 02 năm.
Các trường hợp chấm dứt kiểm soát đặc biệt
Việc kiểm soát đặc biệt sẽ được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định chấm dứt trong các tình huống sau:
- Tổ chức tín dụng đã khắc phục thành công các nguyên nhân dẫn đến kiểm soát đặc biệt và phục hồi hoạt động bình thường.
- Hết thời hạn kiểm soát đặc biệt nhưng không được gia hạn, hoặc tổ chức tín dụng không thể khắc phục được yếu kém và bị Ngân hàng Nhà nước quyết định thu hồi giấy phép hoạt động.
- Tổ chức tín dụng thực hiện sáp nhập hoặc hợp nhất vào một tổ chức tín dụng khác theo quy định pháp luật.
- Tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố phá sản.
Phân công trách nhiệm của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước
- Thanh tra Ngân hàng Nhà nước: Làm đầu mối tiếp nhận, thẩm định hồ sơ từ các chi nhánh tỉnh, thành phố để trình Thống đốc quyết định đặt vào kiểm soát đặc biệt, gia hạn hoặc chấm dứt; trực tiếp chỉ đạo và giám sát hoạt động của Ban kiểm soát đặc biệt.
- Vụ các Định chế tài chính: Phối hợp với Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đánh giá thực trạng tổ chức tín dụng; xây dựng và trình Thống đốc phương án xử lý cụ thể trước, trong và sau giai đoạn kiểm soát đặc biệt.
- Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố (nơi đặt trụ sở chính của tổ chức tín dụng): Phối hợp trình Thống đốc quyết định kiểm soát đặc biệt; cử cán bộ tham gia Ban kiểm soát; làm đầu mối làm việc với chính quyền địa phương; trực tiếp chỉ đạo Ban kiểm soát đặc biệt theo ủy quyền và chịu trách nhiệm về an toàn hệ thống trên địa bàn.
- Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi đặt chi nhánh của tổ chức tín dụng bị kiểm soát: Có trách nhiệm phối hợp hỗ trợ xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến phương án củng cố hoạt động tại địa bàn quản lý.
Hiệu lực thi hành
Quyết định 215/1998/QĐ-NHNN5 có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. Chánh Văn phòng Thống đốc, Vụ trưởng Vụ các Định chế tài chính, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Thủ trưởng các đơn vị liên quan thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Giám đốc các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, cùng Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng cổ phần chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
| NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 215/1998/QĐ-NHNN5 | Hà Nội, ngày 23 tháng 6 năm 1998 |
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG CỔ PHẦN VIỆT NAM
THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 30/9/1992;
Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 02/3/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Quyết định số 96/1998/QĐ-TTg ngày 19/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc củng cố sắp xếp các Ngân hàng thương mại cổ phần tại thành phố Hồ Chí Minh;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ các Định chế tài chính - Ngân hàng Nhà nước,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1.- Ban hành kèm theo Quyết định này “Quy chế kiểm soát đặc biệt đối với các Tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam”.
Điều 2.- Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Điều 3.- Chánh văn phòng Thống đốc, Vụ trưởng Vụ các Định chế tài chính, Chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Thủ trưởng đơn vị có liên quan thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung ương; Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) các Tổ chức tín dụng cổ phần chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Trần Minh Tuấn (Đã Ký) |
KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG CỔ PHẦN VIỆT NAM
(Ban hành kèm theo Quyết định số 215/1998/QĐ-NHNN5 ngày 29/6/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)
Điều 1. Nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, giúp các tổ chức tín dụng khắc phục những khó khăn về tài chính, duy trì khả năng chi trả, khả năng thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (dưới đây viết tắt là Ngân hàng Nhà nước) quyết định việc đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi tổ chức tín dụng lâm vào một hoặc một số trường hợp được nêu tại Điều 5 Quy chế này.
Điều 2. Kiểm soát đặc biệt là việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện các biện pháp quản lý nghiệp vụ đặc biệt theo quy định tại Quy chế này để kiểm soát, giám sát trực tiếp tình hình tổ chức và hoạt động của Tổ chức tín dụng.
Điều 3. Quy chế này áp dụng đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần và Công ty tài chính cổ phần (dưới đây viết tắt là Tổ chức tín dụng cổ phần) được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước.
2. Quyết định kiểm soát đặc biệt và quyết định kết thúc kiểm soát đặc biệt được Ngân hàng Nhà nước thông báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các cơ quan hữu quan trên địa bàn để phối hợp thực hiện.
Điều 5. Tổ chức tín dụng cổ phần có thể được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi lâm vào một hoặc một số trường hợp sau đây:
1. Có nguy cơ mất khả năng chi trả, được biểu hiện:
1.1. 03 lần liên tiếp trong một tháng, không duy trì được giá trị tài sản động tương đương với các khoản phải chi trả trong 3 ngày làm việc tiếp theo;
1.2. Không có khả năng huy động để thanh toán những khoản nợ đến hạn;
2. Có nguy cơ mất khả năng thanh toán, được biểu hiện:
2.1. Các khoản nợ khó đòi, nợ cho vay quá hạn từ 12 tháng trở lên chiếm trên 10% tổng dư nợ cho vay;
2.2. Các khoản nợ khách hàng không có khả năng thanh toán, không có tài sản thế chấp hợp pháp lớn hơn 100% vốn tự có.
3. Số lỗ luỹ kế lớn hơn 50% tổng số vốn điều lệ thực có và các quỹ.
2. Căn cứ báo cáo của Tổ chức tín dụng cổ phần quy định tại khoản 5.1. điều này và khả năng tự chấn chỉnh hoặc qua công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát phát hiện Tổ chức tín dụng cổ phần lâm vào một trong những trường hợp nêu tại Điều 5, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi tổ chức tín dụng cổ phần đặt trụ sở chính hoặc Thanh tra Ngân hàng Nhà nước phải báo cáo và đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định đặt Tổ chức tín dụng cổ phần vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
Điều 7. Quyết định kiểm soát đặc biệt gồm những nội dung sau:
1. Tên Tổ chức tín dụng cổ phần được kiểm soát đặc biệt;
2. Lý do kiểm soát đặc biệt;
3. Họ, tên thành viên và nhiệm vụ cụ thể của Ban kiểm soát đặc biệt;
4. Thời hạn kiểm soát đặc biệt.
2. Trưởng ban kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong Ban theo phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn đã quy định; chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề có liên quan đến quá trình kiểm soát đặc biệt Tổ chức tín dụng cổ phần; chịu trách nhiệm trước Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc điều hành Ban kiểm soát đặc biệt và các quyết định liên quan đến việc kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng.
3. Ban kiểm soát đặc biệt phải có tối thiểu 3 thành viên, thành viên Ban kiểm soát đặc biệt phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
3.1. Là cán bộ của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, thuộc các phòng: quản lý các tổ chức tín dụng, tổng hợp (nơi không có phòng quản lý các tổ chức tín dụng), Thanh tra, Quản lý ngoại hối, Kế toán, Tín dụng;
3.2. Có trình độ, kinh nghiệm về công tác nghiệp vụ chuyên môn và có thời gian công tác trong ngành ngân hàng ít nhất là 03 năm;
3.3. Không phải là cổ đông, bố, mẹ, vợ, chồng, con của một trong các thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) của Tổ chức tín dụng cổ phần được kiểm soát đặc biệt.
4. Các thành viên Ban kiểm soát đặc biệt thực hiện công việc theo sự phân công của Trưởng ban và chịu trách nhiệm trước Trưởng ban, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố về việc thực thi nhiệm vụ của mình. Việc thay thế thành viên Ban kiểm soát đặc biệt do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định theo đề nghị của Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố và Trưởng ban kiểm soát đặc biệt.
5. Trường hợp cần thiết, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ định một tổ chức tín dụng khác tham gia kiểm soát đặc biệt Tổ chức tín dụng cổ phần và chỉ định cán bộ của Tổ chức tín dụng đó tham gia vào Ban kiểm soát đặc biệt.
Điều 9. Ban kiểm soát đặc biệt có các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm sau:
1. Nhiệm vụ:
1.1. Chỉ đạo Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng cổ phần được đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt xây dựng phương án củng cố tổ chức và hoạt động.
Nội dung phương án phải thể hiện rõ: thực trạng tổ chức và hoạt động, nguyên nhân, biện pháp, thời gian thực hiện và hiệu quả của phương án;
1.2. Chỉ đạo và giám sát Tổ chức tín dụng cổ phần triển khai các biện pháp được nêu trong phương án củng cố Tổ chức tín dụng cổ phần đã được Ban kiểm soát đặc biệt thông qua;
Để chỉ đạo triển khai thực hiện phương án, Ban kiểm soát đặc biệt được quyền yêu cầu Tổ chức tín dụng cổ phần:
1.2.1. Báo cáo, cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến tổ chức nhân sự, tình hình hoạt động, thực trạng tài chính;
1.2.2. Kiểm kê toàn bộ tài sản hiện có hoặc thực hiện kiểm toán độc lập nhằm xác định tình hình hoạt động, tài chính tại thời điểm Tổ chức tín dụng cổ phần được đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt để xác định đúng thực trạng tài chính;
12.3. Mời các khách nợ, chủ nợ đến đối chiếu công khai để xác định khả năng thu nợ, trả nợ;
1.2.4. Lập hồ sơ đề nghị các cơ quan luật pháp xử lý những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật hoặc cố tình không trả nợ;
1.3. Thường xuyên báo cáo Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước về tình hình, diễn biến của Tổ chức tín dụng cổ phần; Định kỳ hàng tháng báo cáo đánh giá kết quả thực hiện phương án củng cố Tổ chức tín dụng cổ phần lên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
2. Quyền hạn:
2.1. Được quyền đình chỉ những hoạt động không phù hợp với phương án đã được thông qua, các quy định không đảm bảo an toàn trong hoạt động có thể gây phương hại đến lợi ích của người gửi tiền. Trong thời gian tối đa 3 ngày phải báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về quyết định xử lý việc đình chỉ;
2.3. Yêu cầu Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) miễn nhiệm, đình chỉ công tác đối với những người thừa hành trong tổ chức tín dụng có hành vi vi phạm pháp luật, không chấp hành phương án củng cố tổ chức và hoạt động đã được thông qua;
2.4. Kiến nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc biệt;
2.5. Kiến nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về khoản cho vay đặc biệt để bảo đảm khả năng chi trả tiền gửi của khách hàng.
2.6. Đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định những vấn đề phát sinh không nằm trong phương án củng cố, chấn chỉnh tổ chức tín dụng cổ phần trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt.
3. Trách nhiệm:
Ban kiểm soát đặc biệt chịu trách nhiệm trước Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về các quyết định của mình trong quá trình thực hiện kiểm soát đặc biệt.
1. Ban kiểm soát đặc biệt làm việc tại tổ chức tín dụng cổ phần được kiểm soát đặc biệt;
2. Ban kiểm soát đặc biệt sử dụng con dấu của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước trong các văn bản, báo cáo do Trưởng ban ký; giữ bí mật thực trạng của tổ chức tín dụng trừ khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền;
3. Ban kiểm soát đặc biệt kết thúc nhiệm vụ khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có quyết định chấm dứt việc kiểm soát đặc biệt đối với Tổ chức tín dụng cổ phần.
Điều 11. Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng cổ phần được kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm:
1. Xây dựng phương án củng cố tổ chức và hoạt động trình Ban kiểm soát đặc biệt thông qua và tổ chức triển khai thực hiện phương án đó;
3. Làm việc thường xuyên tại Tổ chức tín dụng cổ phần để triển khai thực hiện phương án củng cố và giám sát hoạt động của Ban điều hành. Các cá nhân cố tình trốn tránh thực thi nhiệm vụ sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo quy định của luật pháp hiện hành;
4. Chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động Tổ chức tín dụng cổ phần trước, trong và sau giai đoạn kiểm soát đặc biệt.
5. Trong trường hợp phải thành lập Ban quản trị lâm thời theo tiết 2.2 khoản 2 Điều 9, Ban quản trị lâm thời phải xác định ngay trách nhiệm của các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban điều hành cũ và tiếp nhận ngay việc quản trị, kiểm soát, điều hành Tổ chức tín dụng cổ phần.
6. Chấp hành nghiêm túc các yêu cầu của Ban kiểm soát đặc biệt.
7. Báo cáo tình hình triển khai và kết quả thực hiện các biện pháp kiểm soát đặc biệt theo yêu cầu của Ban kiểm soát đặc biệt;
8. Thực hiện chế độ tiết giảm đến mức thấp nhất chi tiêu tài chính nhằm giảm bớt tổn thất về tài chính;
9. Bố trí địa điểm, phương tiện làm việc cho Ban kiểm soát đặc biệt.
Điều 12. Nhằm bảo đảm an toàn tài sản của Tổ chức tín dụng cổ phần, trong thời gian bị kiểm soát đặc biệt, nghiêm cấm Tổ chức tín dụng cổ phần thực hiện các công việc sau, nếu chưa được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước:
1. Cho cổ đông chuyển nhượng cổ phần;
2. Chia lợi tức cổ phần (nếu có);
3. Cất dấu, tẩu tán, cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng tài sản và các tài liệu, hồ sơ liên quan;
4. Từ chối hoặc giảm bớt quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với khách hàng.
Điều 13. Để bảo đảm khả năng chi trả tiền gửi của khách hàng, Tổ chức tín dụng cổ phần được kiểm soát đặc biệt có thể được các tổ chức tín dụng khác hoặc Ngân hàng Nhà nước cho vay đặc biệt theo đề nghị của Hội đồng quản trị Tổ chức tín dụng cổ phần và của Ban kiểm soát đặc biệt. Khoản vay đặc biệt này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của Tổ chức tín dụng; Thủ tục vay và việc sử dụng khoản cho vay này phải bảo đảm theo đúng quy định hiện hành.
Điều 14. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định thời hạn kiểm soát đặc biệt cụ thể đối với từng Tổ chức tín dụng cổ phần.
Trong trường hợp cần thiết và Tổ chức tín dụng cổ phần đề nghị, Ngân hàng Nhà nước có thể cho Tổ chức tín dụng cổ phần được gia hạn thời gian kiểm soát đặc biệt. Thời gian kiểm soát đặc biệt (kể cả thời gian được gia hạn) không vượt quá 2 năm.
Điều 15. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định chấm dứt việc kiểm soát đặc biệt đối với Tổ chức tín dụng cổ phần trong các trường hợp sau:
1. Hết hạn kiểm soát đặc biệt mà không được gia hạn hoặc Tổ chức tín dụng cổ phần không có khả năng giải quyết được nguyên nhân dẫn đến tình trạng kiểm soát đặc biệt và Ngân hàng Nhà nước quyết định thu hồi giấy phép hoạt động.
2. Tổ chức tín dụng cổ phần đã khắc phục được các nguyên nhân gây nên tình trạng kiểm soát đặc biệt và trở lại hoạt động bình thường.
3. Tổ chức tín dụng cổ phần được sáp nhập hay hợp nhất với một Tổ chức tín dụng khác theo các quy định của pháp luật hiện hành.
4. Tổ chức tín dụng cổ phần lâm vào tình trạng phá sản và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố phá sản theo luật định.
2. Vụ các Định chế tài chính có trách nhiệm phối hợp với Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đánh giá thực trạng Tổ chức tín dụng cổ phần để trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, gia hạn thời gian kiểm soát đặc biệt, kết thúc kiểm soát đặc biệt; Trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phương án xử lý cụ thể đối với từng Tổ chức tín dụng cổ phần trước, trong và sau giai đoạn kiểm soát đặc biệt.
3. Các Vụ, Cục có liên quan thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung ương căn cứ chức năng và nhiệm vụ có trách nhiệm hướng dẫn xử lý các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tổ chức tín dụng cổ phần được kiểm soát đặc biệt.
1.1. Phối hợp với Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng cổ phần;
1.2. Có ý kiến đề nghị cho gia hạn thời gian kiểm soát đặc biệt, kết thúc kiểm soát đặc biệt;
1.3. Cử cán bộ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia Ban kiểm soát đặc biệt;
1.4. Là đầu mối quan hệ với các cơ quan chức năng xử lý các vấn đề phát sinh trên địa bàn trong quá trình kiểm soát đặc biệt Tổ chức tín dụng cổ phần;
1.5. Chỉ đạo trực tiếp hoạt động của Ban kiểm soát đặc biệt theo sự uỷ quyền của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;
1.6. Chịu trách nhiệm trước Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng cổ phần trên địa bàn;
2. Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi Tổ chức tín dụng cổ phần được đặc trong tình trạng kiểm soát đặc biệt có trụ sở chi nhánh: có trách nhiệm phối hợp theo đề nghị của Ban kiểm soát đặc biệt trong việc xử lý các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện phương án củng cố tổ chức và hoạt động của Tổ chức tín dụng cổ phần được kiểm soát đặc biệt.
- 1 Quyết định 646/2002/QĐ-NHNN sửa đổi Điều 14 Quy chế kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam kèm theo Quyết định 215/1998/QĐ-NHNN5 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 2 Quyết định 1071/2002/QĐ-NHNN sửa đổi một số Điều, khoản của Quy chế kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam kèm theo Quyết định 215/1998/QĐ-NHNN5 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 1 Thông tư 189/1998/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các tổ chức tín dụng cổ phần do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Quyết định 92/2001/QĐ-NHNN về Quy chế kiểm soát đặc biệt đối với Quỹ tín dụng nhân dân do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 3 Thông tư 08/2010/TT-NHNN quy định về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 1 Quyết định 646/2002/QĐ-NHNN sửa đổi Điều 14 Quy chế kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam kèm theo Quyết định 215/1998/QĐ-NHNN5 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 2 Quyết định 1071/2002/QĐ-NHNN sửa đổi một số Điều, khoản của Quy chế kiểm soát đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam kèm theo Quyết định 215/1998/QĐ-NHNN5 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 3 Thông tư 08/2010/TT-NHNN quy định về kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 1 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2 Nghị định 15-CP năm 1993 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ
- 3 Thông tư 189/1998/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các tổ chức tín dụng cổ phần do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Quyết định 92/2001/QĐ-NHNN về Quy chế kiểm soát đặc biệt đối với Quỹ tín dụng nhân dân do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành