Tóm tắt Quyết định 335/QĐ-UBTDTT năm 2007 ban hành Luật Đá cầu
Quyết định 335/QĐ-UBTDTT do Bộ trưởng - Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao Nguyễn Danh Thái ký ban hành, chính thức áp dụng Luật Đá cầu mới gồm 19 điều và phần phụ lục hướng dẫn ký hiệu trọng tài. Luật này áp dụng thống nhất cho tất cả các giải thi đấu đá cầu quy mô toàn quốc và quốc tế tổ chức tại Việt Nam, thay thế cho Luật Đá cầu cũ ban hành năm 1999.
Quy định chung và hiệu lực thi hành (Điều 1 - Điều 5)
- Phạm vi áp dụng: Luật áp dụng bắt buộc và thống nhất trong các cuộc thi đấu đá cầu toàn quốc và quốc tế tại Việt Nam. Điều lệ của tất cả các giải đấu không được phép trái với các quy định trong văn bản này.
- Hiệu lực thi hành: Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký, thay thế hoàn toàn Luật Đá cầu ban hành kèm theo Quyết định số 427/1999/QĐ/UBTDTT ngày 03 tháng 5 năm 1999.
Quy định về đấu thủ và trang phục thi đấu (Điều 6 - Điều 7)
- Các nội dung thi đấu:
- Trận đấu đơn: Mỗi đội có 1 đấu thủ thi đấu trên sân.
- Trận đấu đôi: Mỗi đội có 2 đấu thủ thi đấu trên sân.
- Trận đấu đội: Mỗi đội có 3 đấu thủ thi đấu trên sân.
- Trận đấu đồng đội: Mỗi đội đăng ký tối đa 9 đấu thủ và tối thiểu 6 đấu thủ. Trận đấu tiến hành theo thứ tự các trận nhỏ: đơn, đôi, đội, đôi, đơn. Mỗi đấu thủ chỉ được phép thi đấu tối đa 2 nội dung trong một trận đồng đội.
- Trang phục thi đấu của đấu thủ: Phải mặc quần áo thể thao (áo phải bỏ trong quần) và đi giày thể thao hoặc giày chuyên dụng đá cầu. Đội trưởng phải đeo băng đội trưởng ở cánh tay trái. Áo thi đấu phải in số cố định ở cả trước ngực (cao tối thiểu 0,10m) và sau lưng (cao tối thiểu 0,20m) từ số 1 đến số 15. Trong nội dung đôi và đội, các đấu thủ cùng đội phải mặc đồng phục cùng màu sắc và kiểu dáng.
- Trang phục của ban huấn luyện và trọng tài: Huấn luyện viên và chỉ đạo viên phải mặc trang phục thể thao, đi giày thể thao. Trọng tài phải mặc áo trắng, quần sẫm màu và đi giày tây (giày mô ca).
Quy định về thay người và tổ trọng tài (Điều 8 - Điều 9)
- Thủ tục thay người: Mỗi đội được phép thay tối đa 3 đấu thủ trong một hiệp đấu khi cầu ngoài cuộc (cầu dừng), theo yêu cầu của lãnh đội hoặc đội trưởng gửi tới trọng tài chính. Nội dung thi đấu đội được đăng ký tối đa 3 đấu thủ dự bị; các nội dung đơn và đôi không có đấu thủ dự bị.
- Xử lý khi bị truất quyền thi đấu: Ở nội dung thi đấu đội, nếu đấu thủ bị đuổi, đội được quyền thay người dự bị (nếu chưa thực hiện thay người trong hiệp đó), nếu đã hết lượt thay người thì bị xử thua. Ở nội dung đơn và đôi, nếu đấu thủ bị truất quyền thi đấu thì đội đó bị xử thua cuộc ngay lập tức.
- Thành phần tổ trọng tài điều hành: Gồm có 1 trọng tài chính, 1 trợ lý trọng tài (trọng tài số 2), trọng tài bàn, 1 trọng tài lật số và 2 trọng tài biên.
Thể thức thi đấu, vị trí đứng và quy định phát cầu (Điều 10 - Điều 12)
- Bắt thăm và khởi động: Hai bên tiến hành bắt thăm trước khi trận đấu bắt đầu và trước khi bước vào hiệp thứ ba để chọn sân hoặc chọn quyền phát cầu. Bên thắng thăm được quyền khởi động trước trong 2 phút. Chỉ có huấn luyện viên hoặc chỉ đạo viên mới được vào sân khởi động cùng đấu thủ chính thức.
- Vị trí của đấu thủ trên sân:
- Đấu thủ phát cầu: Phải đặt chân trụ ở phía ngoài sân thi đấu, trong phạm vi khu vực giới hạn phát cầu.
- Đấu thủ đỡ phát cầu: Đứng trong phạm vi sân của mình và được di chuyển tự do sau khi đối phương phát cầu.
- Trong thi đấu đôi và đội: Khi phát cầu, các đấu thủ còn lại không được đứng trên đường tưởng tượng nối khu vực phát cầu của hai bên và không được có hành vi làm mất tập trung của đối phương. Đội đỡ phát cầu trong thi đấu đội phải đứng đúng vị trí đăng ký 1 - 2 - 3 (số 1 đứng gần đường biên ngang nhất, số 2 và số 3 đứng gần lưới và biên dọc hơn).
- Bắt đầu trận đấu và phát cầu: Đấu thủ phải thực hiện phát cầu ngay sau khi trọng tài công bố điểm. Nếu cố tình trì hoãn quá 2 lần sẽ bị trọng tài bắt lỗi và xử phạt 1 điểm cho đối phương.
- Các trường hợp được phát cầu lại: Cầu mắc vào lưới khi đang thi đấu (ngoại trừ lần chạm cầu cuối cùng); quả cầu bị rơi các bộ phận ra ngoài trong lúc bay; cầu được phát đi trước khi trọng tài ra ký hiệu; hoặc do các nguyên nhân khách quan bên ngoài làm ảnh hưởng đến quá trình thi đấu.
Các lỗi vi phạm trong thi đấu (Điều 13)
- Lỗi của bên phát cầu: Giẫm chân vào đường biên ngang hoặc vạch giới hạn phát cầu khi thực hiện động tác; cầu phát không qua lưới hoặc chạm lưới; cầu chạm vào đồng đội hoặc vật cản trước khi sang sân đối phương; cầu bay ra ngoài sân; trì hoãn phát cầu quá 5 giây sau hiệu lệnh của trọng tài; phát cầu sai thứ tự.
- Lỗi của bên đỡ phát cầu: Có hành vi la hét, gây tiếng ồn làm mất tập trung của đối phương; chân chạm vào các đường giới hạn khi đối phương đang phát cầu; đỡ cầu dính hoặc để cầu lăn trên bất kỳ bộ phận nào của cơ thể.
- Lỗi chung của cả hai bên trong trận đấu:
- Chạm cầu ở không gian bên phần sân đối phương.
- Để bất kỳ bộ phận nào của cơ thể hoặc trang phục sang phần sân đối phương (dù ở phía trên hay phía dưới lưới).
- Để cầu chạm vào cánh tay hoặc giữ cầu dưới cánh tay, giữa hai chân, trên người.
- Chạm vào lưới, cột lưới, ghế trọng tài hoặc sang phần sân đối phương.
- Cầu chạm vào trần nhà, mái nhà hoặc các vật cản cố định khác.
- Nội dung đơn chạm cầu quá 2 lần; nội dung đôi và đội chạm cầu quá 2 lần liên tiếp ở một đấu thủ hoặc cả đội chạm cầu quá 4 lần trước khi sang sân đối phương.
Hệ thống tính điểm, hội ý và tạm dừng trận đấu (Điều 14 - Điều 16)
- Hệ thống tính điểm: Bên nào phạm lỗi thì đối phương được cộng 1 điểm và giành quyền giao cầu. Điểm thắng của một hiệp đấu thông thường là 21 điểm. Nếu hòa 20 - 20, hai bên phát cầu luân lưu cho đến khi cách biệt 2 điểm (điểm tối đa của hiệp đấu là 25).
- Hiệp quyết thắng (Hiệp 3): Nếu mỗi đội thắng 1 hiệp, trận đấu sẽ quyết định bằng hiệp thứ 3 với điểm thắng là 15. Nếu hòa 14 - 14, phát cầu luân lưu đến khi cách biệt 2 điểm (điểm tối đa là 17). Hai bên tiến hành đổi sân khi có một đội đạt đến điểm số 8.
- Quy định hội ý: Mỗi đội được quyền xin hội ý tối đa 2 lần trong mỗi hiệp đấu, mỗi lần không quá 30 giây khi cầu ngoài cuộc. Chỉ có huấn luyện viên hoặc đội trưởng mới có quyền xin hội ý.
- Tạm dừng trận đấu: Trọng tài có quyền tạm dừng trận đấu tối đa 5 phút do sự cố khách quan hoặc đấu thủ gặp chấn thương cần cấp cứu. Đấu thủ chấn thương được dừng tối đa 5 phút; nếu sau đó không thể tiếp tục thi đấu thì phải thay người. Nếu đội đã hết lượt thay người trong hiệp đó thì bị xử thua cuộc. Trong thời gian tạm dừng hoặc nghỉ giữa hiệp, đấu thủ không được tự ý rời sân thi đấu.
Kỷ luật và các hình thức xử phạt (Điều 17 - Điều 19)
- Quyền trao đổi với trọng tài: Chỉ có đội trưởng trên sân mới có quyền tiếp cận và trao đổi với trọng tài chính khi có thắc mắc.
- Phạt cảnh cáo (Thẻ vàng): Áp dụng đối với đấu thủ phạm các lỗi: có hành vi phi thể thao; phản đối quyết định của trọng tài bằng lời lẽ hoặc hành động; cố tình vi phạm luật; trì hoãn trận đấu; tự ý vào hoặc rời sân thi đấu mà không được sự cho phép của trọng tài.
- Phạt đuổi khỏi sân (Thẻ đỏ): Áp dụng đối với đấu thủ phạm các lỗi: vi phạm luật nghiêm trọng; có hành vi bạo lực cố ý gây chấn thương cho người khác; nhổ nước bọt vào đối phương hoặc bất kỳ ai; lăng mạ, sỉ nhục người khác bằng lời nói/hành động; nhận thẻ vàng thứ hai trong cùng một trận đấu. Thẻ phạt này cũng được áp dụng đối với huấn luyện viên.
- Giải quyết tranh chấp phát sinh: Đối với những tình huống phát sinh thực tế chưa được quy định cụ thể trong luật, quyết định của Tổng trọng tài giải đấu là quyết định cuối cùng.
Phụ lục: Khẩu lệnh và ký hiệu của trọng tài
- Trọng tài chính: Sử dụng còi để bắt đầu và kết thúc một đường cầu. Các ký hiệu tay cơ bản gồm:
- Chuẩn bị: Một tay chỉ về phía bên phòng thủ, lòng bàn tay úp.
- Dừng cầu: Một tay giơ thẳng ra phía trước, song song với lưới, lòng bàn tay úp.
- Phát cầu: Tay phía bên phát cầu hất sang hướng bên đỡ phát cầu.
- Điểm: Một tay đưa sang ngang về phía bên được điểm.
- Đổi phát cầu: Một tay chỉ sang bên được quyền phát cầu, lòng bàn tay ngửa.
- Phát cầu lại: Hai tay đưa ra trước ngực, hai bàn tay nắm lại và giơ hai ngón cái lên.
- Cầu ngoài sân: Hai tay đặt trên vai, cẳng tay vuông góc với cánh tay.
- Đổi bên: Hai tay bắt chéo trên đầu.
- Đấu thủ chạm lưới: Một tay vỗ nhẹ vào mép trên của lưới.
- Cầu trong sân: Tay duỗi thẳng chỉ xuống sân, lòng bàn tay ngửa.
- Cầu ngoài sân (chạm đối thủ): Một tay dựng vuông góc hướng vào mặt, bàn tay kia đưa ngang chạm đầu các ngón tay.
- Qua lưới (lỗi vị trí): Khuỷu tay gập, cẳng tay trước ngực song song với sân, chỉ theo hướng bên phạm lỗi.
- Cầu không qua lưới: Lòng bàn tay hướng vào mặt lưới và lắc bàn tay.
- Cầu hỏng (trượt/dính cầu): Cánh tay duỗi, lòng bàn tay hướng xuống sân và lắc bàn tay.
- Trọng tài biên: Sử dụng cờ để báo hiệu các tình huống:
- Cầu trong sân: Tay cầm cờ duỗi hướng xuống dưới đất, chỉ vào trong sân.
- Cầu ngoài biên: Tay cầm cờ đưa thẳng lên cao.
- Cầu chạm đấu thủ rơi ngoài sân: Một tay cầm cờ, tay còn lại dùng lòng bàn tay đưa chéo phía trên cờ.
- Cầu vào sân từ ngoài cột ăngten: Đưa cờ lên cao và rung cờ báo lỗi.
- Phát cầu giẫm vạch: Đưa cờ lên cao rung báo lỗi, sau đó chỉ cờ vào vạch phạm lỗi.
| UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 335/QĐ-UBTDTT | Hà Nội, ngày 27 tháng 2 năm 2007 |
BỘ TRƯỞNG - CHỦ NHIỆM UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO
- Căn cứ Nghị định số 22/2003/NĐ-CP ngày 11/3/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Uỷ ban Thể dục Thể thao;
- Căn cứ vào việc thay đổi Luật thi đấu của Liên đoàn Đá cầu thế giới.
- Xét yêu cầu về phát triển và nâng cao thành tích môn Đá cầu ở nước ta;
- Xét đề nghị của Ông Vụ trưởng Vụ Thể dục thành tích cao II;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 2: Luật này áp dụng thống nhất trong các cuộc thi đấu toàn quốc và quốc tế tại nước ta
Điều 3: Điều lệ các cuộc thi đấu toàn quốc không được trái với những điều ghi trong Luật này.
Điều 4: Luật này thay thế cho Luật Đá cầu ban hành kèm theo quyết định số 427/1999/QĐ/UBTDTT ngày 03 tháng 5 năm 1999 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể Thao.
Điều 5: Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký. Các ông Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Thể thao thành tích cao II, Giám đốc các Sở Thể dục Thể thao, Thủ trưởng các Vụ, Đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
|
| BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM |
1.1. Sân thi đấu là một mặt phẳng cứng hình chữ nhật có kích thước chiều dài 11,88m, chiều rộng 6,10m tính đến mép ngoài của đường giới hạn. Sân thi đấu không bị vật cản trong khoảng chiều cao 8m tính từ mặt sân.
1.2. Các đường giới hạn:
- Đường phân đôi sân: Nằm ở phía dưới lưới, chia sân thành 2 phần bằng nhau.
- Đường giới hạn khu vực tấn công cách 1,98m và chạy song song với đường phân đôi sân.
2.1. Lưới rộng 0,75 mét, dài tối thiểu là 7,10m, các mắt lưới có kích thước là 0,019m x 0,019m. Mép trên và mép dưới của lưới được viền bởi một băng vải gập đôi rộng từ 0,04m đến 0,05m và được luồn sợi dây thường hoặc dây nylông giữ cho căng lưới. Lưới được theo trên cột căng lưới, hai cột căng lưới được dựng thẳng đứng ở 2 đầu đường phân đôi của sân thi đấu. Hai cột căng lưới phải để ngoài sân, cách đường biên dọc 0,50m.
2.2. Chiều cao của lưới:
2.2.1 Chiều cao của lưới đối với nữ và nữ trẻ: 1,50m.
2.2.2 Chiều cao của lưới đối với nữ và nữ trẻ: 1,60m.
2.2.3 Chiều cao của lưới đối với thiếu niên: 1,40m.
2.2.4 Chiều cao của lưới đối với nhi đồng: 1,30m.
2.2.5 Chiều cao của đỉnh lưới ở giữa lưới được phép có độ võng không quá 0,02m.
3.1. Cột lưới phải cao tối đa: 1,70 mét.
3.2. Vị trí của các cột lưới được dựng đứng hoặc chôn cố định trên đường phân đôi sân kéo dài cách đường biên dọc sân là 0,50 mét.
3.3. Cột Ăngten: Có chiều dài 1,20m; đường kính 0,01m; cao hơn so với mép trên của lưới là 0,44m. Trên cột Ăngten được vẽ bằng những mầu sáng tương phản với tiết diện 10cm.
- Cầu đá Việt Nam 202
+ Chiều cao 0,131m, rộng 0,06m.
+ Trọng lượng 14gam (+, -1).
5.1. Ghế trọng tài chính có chiều cao từ 1,20m - 1,50m, được đặt chính giữa sau cột lưới, trên đường phân đôi sân kéo dài và cách cột lưới 0,50m.
5.2. Ghế trợ lý trọng tài (trọng tài số 2) có chiều cao từ 0,80m - 1,00m đặt phía ngoài cột lưới đối diện với trọng tài chính và cách cột lưới 0,50m.
6.1. Trận đấu đơn diễn ra giữa 2 đội, mỗi đội có một đấu thủ.
6.2. Trận đấu đôi diễn ra giữa 2 đội, mỗi đội có hai đấu thủ.
6.3. Trận đấu đội diễn ra giữa 2 đội, mỗi đội có ba đấu thủ.
6.4. Trận đấu đồng đội diễn ra giữa 2 đội, mỗi đội có tối đa chín đấu thủ và tối thiểu sáu đấu thủ. Thi đấu theo thứ tự: đơn, đôi, đội, đôi, đơn.
6.5. Mỗi đấu thủ chỉ được phép thi đấu không quá 2 nội dung trong nội dung đồng đội (kể cả nội dung 3 đấu thủ)
7.1. Trang phục thi đấu:
7.1.1 Đấu thủ phải mặc quần áo thi đấu thể thao và đi giầy thể thao hoặc giầy chuyên dụng của Đá cầu. Trang phục của đấu thủ được coi là một phần của cơ thể đấu thủ, áo phải bỏ trong quần.
7.1.2 Đội trưởng của mỗi đội phải đeo băng đội trưởng ở cánh tay trái.
7.1.3 Áo của đâú thủ phải có số sau lưng và phía trước. Mỗi đấu thủ phải đeo một số áo cố định trong suốt giải. Mỗi đấu thủ được quyền sử dụng một số trong các số từ 1 - 15. Chiều cao tối thiểu của số ở sau lưng là 0,20m và ở đằng trước là 0,10m.
7.1.4 Trong thi đấu đôi và thi đấu 3 đấu thủ, các đấu thủ cùng 1 đội phải mặc trang phục thi đấu có cùng màu sắc và giống nhau (đồng phục).
7.2. Trang phục chỉ đạo viên và huấn luyện viên: Phải mặc trang phục thể thao và đi giầy thể thao.
7.3. Trang phục Trọng tài: Phải mặc áo trắng, quần sẫm màu đi giầy mô ca (Tây).
8.1. Được phép thay đấu thủ ở bất cứ thời điểm nào (được thay 3 đấu thủ trong 1 hiệp), theo yêu cầu của lãnh đội hoặc đội trưởng của mỗi đội với trọng tài chính khi cầu dừng. Mỗi đội được đăng ký 3 đấu thủ dự bị ở nội dung đội, còn các nội dung đơn, đôi không có đấu thủ dự bị.
8.2. Trong khi đấu, khi trọng tài truất quyền thi đấu của đấu thủ:
- Ở nội dung đội thì đội đó được quyền thay đấu thủ khác nếu như đội đó chưa thực hiện thay người trong hiệp đấu đó. Nếu đã thực hiện thay người rồi thì bị xử thua.
- Ở nội dung đôi và đơn thì đội đó bị xử thua.
Trận đấu được điều hành bởi những Trọng tài sau:
9.1. Một trọng tài chính.
9.2. Một trợ lý trọng tài (số 2)
9.3. Trọng tài bàn.
9.4. Một trọng tài lật số.
9.5. Hai trọng tài biên.
Điều 10. BẮT THĂM VÀ KHỞI ĐỘNG
Trước khi thi đấu và trước khi bắt đầu vào hiệp thứ ba, hai bên bắt thăm. Bên nào được thăm có quyền chọn sân hoặc cầu. Bên kia được chọn phần còn lại. Bên được thăm sẽ khởi động trước 2 phút, sau đó đến bên kia. Chỉ huấn luyện viên hoặc chỉ đạo viên mới được phép vào sân khởi động cùng với đấu thủ chính thức.
11.1. Khi bắt đầu trận đấu, các đấu thủ của mỗi đội phải đứng ở vị trí tương ứng trên phần sân của mình trong tư thế sẵn sàng.
11.2. Đấu thủ phát cầu phải đặt chân trụ phía ngoài sân thi đấu ở khu giới hạn phát cầu.
11.3. Đấu thủ bên đỡ phát cầu phải đứng trong phạm vi sân thi đấu của mình và được di chuyển tự do trong phần sân của mình.
11.4. Vị trí cầu thủ trong thi đấu đôi và đội:
Phát cầu:
Thi đấu đôi: Khi một đấu thủ phát cầu, đấu thủ còn lại không được đứng trong đường tưởng tượng nối khu vực phát cầu 2 bên và không được có những hành động lời nói làm ảnh hưởng đến sự tập trung của đối phương.
Thi đấu đội: Khi đấu thủ số 1 phát cầu, đấu thủ số 2 - 3 đứng trong sân (2 bên phải, 3 bên trái) và không được đứng trong đường tưởng tượng nối khu vực phát cầu 2 bên.
Đỡ phát cầu đội: Phải đứng đúng vị trí 1 - 2 - 3 theo đăng ký (số 1 phải đứng gần đường biên ngang sân mình nhất và ở trong khoảng cách hình chiếu của số 2 và 3). Số 2 và số 3 phải đứng gần lưới và đường biên dọc bên mình hơn số 1.
Điều 12. BẮT ĐẦU TRẬN ĐẤU VÀ PHÁT CẦU
12.1. Bên phát cầu trước sẽ bắt đầu hiệp đấu đàu tiên. Bên nào thắng sẽ giành quyền phát cầu ở hiệp thứ hai.
12.2. Phải phát cầu ngay khi trọng tài công bố điểm. Đấu thủ cố tình trì hoãn, trọng tài sẽ nhắc nhở và nhắc nhở đến lần thứ hai thì sẽ bị bắt lỗi và một điểm cho đối phương.
12.3. Khi phát cầu, ngay sau khi đấu thủ tiếp xúc với cầu, tất cả các đối thủ còn lại được phép tự do di chuyển trên phần sân của mình.
12.4. Cấm bất cứ vật trợ giúp nào từ bên ngoài làm tăng tốc độ của quả cầu và sự di chuyển của đấu thủ.
12.5 Phát cầu lại:
- Cầu mắc vào lưới khi đang thi đấu, ngoại trừ lần chạm cầu cuối cùng.
- Các bộ phận của quả cầu bị rơi ra trong khi thi đấu.
- Cầu được phát đi trước khi trọng tài ra ký hiệu phát cầu.
- Do khách quan làm ảnh hưởng đến thi đấu.
13.1. Lỗi của bên phát cầu:
13.1.1 Đấu thủ phát cầu trong khi thực hiện động tác nhưng giẫm chân vào đường biên ngang hoặc đường giới hạn khu vực phát cầu.
13.1.2 Đấu thủ phát cầu không qua lướihoặc qua nhưng chạm lưới.
13.1.3 Cầu phát chạm vào đồng đội hoặc bất cứ vật gì trước khi bay sang phần sân đối phương.
13.1.4 Quả cầu bay qua lưới nhưng rơi ra ngoài sân.
13.1.5 Đấu thủ phát cầu làm các động tác trì hoãn và làm rơi cầu xuống đất sau khi trọng tài đã ra ký hiệu cho phát cầu (tối đa là 5 giây).
13.1.6 Phát cầu không đúng thứ tự trong thi đấu.
13.2. Lỗi của bên đỡ phát cầu:
13.2.1 Có hành vi gây mất tập trung, làm ồn hoặc la hét nhằm vào đấu thủ
13.2.2 Chân chạm vào các đường giới hạn khi đối phương phát cầu.
13.2.3 Đỡ cầu dính hoặc lăn trên bất cứ bộ phận nào của cơ thể.
13.3. Lỗi với cả hai bên trong trận đấu:
13.3.1 Đấu thủ chạm cầu ở bên sân đối phương.
13.3.2 Để bất cứ bộ phận nào của cơ thể sang phần sân đối phương dù ở trên hay dưới lưới.
13.3.3 Cầu chạm cánh tay.
13.3.4 Dừng hay giữ dầu dưới cánh tay, giữa hai chân hoặc trên người
13.3.5 Bất cứ phần nào của cơ thể hay trang phục của đấu thủ chạm vào lưới, cột lưới, ghế trọng tài hay sang phần sân đối phương.
13.3.6 Cầu chạm vào trần nhà, mái nhà hay bất cứ bộ phận nào khác.
13.3.7 Nội dung đơn chạm cầu quá 2 lần
13.3.8 Nội dung đôi và đội: 1 đấu thủ chạm cầu quá 2 lần liên tiếp, 1 bên quá 4 chạm.
14.1. Bất cứ bên nào (giao cầu hoặc nhận giao cầu) phạm lỗi, đối phương được tính một điểm và giành quyền giao cầu.
14.2. Điểm thắng của hiệp đấu là 21, trừ trường hợp hoà 20 - 20, sẽ phát cầu luân lưu đến khi một bên cách biệt 2 điểm thì hiệp đấu đó kết thúc (điểm tối đa của hiệp đấu là 25).
14.3. Mỗi trận đấu có 2 hiệp đấu, giữa 2 hiệp nghỉ 2 phút.
Nếu mỗi đội thắng 1 hiệp, sẽ quyết định trận đấu bằng hiệp thứ 3 (hiệp quyết thắng), điểm thắng của hiệp này là 15, trừ trường hợp hoà 14 - 14 thì sẽ phát cầu luân lưu đến khi 1 bên cách biệt 2 điểm thì trận đấu đó kết thúc (điểm tối đa của hiệp đấu là 17).
14.4. Ở hiệp đấu thứ 3, khi tỷ số lên đến 8 thì 2 bên sẽ đổi sân.
14.5. Trong tất cả các nội dung thi đấu, khi tỉ số là 14 - 14 hoặc 20 - 20, thì bên vừa ghi được điểm sẽ phát cầu và sau đó thì phát cầu luân phiên.
- Mỗi bên được quyền xin hội ý không quá 2 lần, mỗi lần không quá 30 giây trong mỗi hiệp đấu khi cầu ngoài cuộc.
- Chỉ có huấn luyện viên hoặc đấu thủ đội trưởng trên sân mới có quyền xin hội ý. Trong thời gian hội ý đấu thủ phải ở trong sân của mình.
16.1. Trọng tài có thể tạm dừng trận đấu tối đa 5 phút trong trường hợp có vật cản, bị gây rối hay đáu thủ bị chấn thương cần cấp cứu.
16.2. Bất cứ đấu thủ nào chấn thương cũng được phép tạm dừng trận đấu (nếu được trọng tài đồng ý) tối đa 5 phút. Sau 5 phút, đấu thủ không thể thi đâú thì tiến hành thay người. Nếu đội của đấu thủ bị chấn thương đã tiến hành thay người trong hiệp đấu đó rồi thì trận đấu sẽ kết thúc với phần thắng nghiêng về đội đối phương.
16.3 Trong trường hợp tạm dừng trận đấu, tất cả các đấu thủ không được phép rời sân để uống nước hay nhận bất kỳ sự trợ giúp nào.
16.4. Trong các trường hợp nghỉ giữa hiệp, đấu thủ không được rời sân thi đấu mà phải đứng ở phần sân của mình, hàng ghế dành cho đội.
17.1. Mọi đấu thủ và huấn luyện viên phải chấp hành luật này.
17.2. Trong trận đấu chỉ có đội trưởng mỗi đội mới có quyền tiếp cận trọng tài.
18.1. Phạt cảnh cáo (thẻ vàng)
Đấu thủ bị cảnh cáo và phạt thẻ vàng nếu đấu thủ đó phạm 1 trong 6 lỗi sau:
18.1.1 Có hành vi phi thể thao.
18.1.2 Thể hiện sự bất đồng bằng lời lẽ hoặc hành động.
18.1.3 Cố tình vi phạm luật thi đấu.
18.1.4 Trì hoãn việc bắt đầu trận đấu.
18.1.5 Vào sân hay quay trở lại sân không được phép của trọng tài.
18.1.6 Tự động rời sân mà không được sụ cho phép của trọng tài
18.2. Đuổi khỏi sân (thẻ đỏ)
Đấu thủ bị đuổi khỏi sân và phạt thẻ đỏ nếu đấu thủ đó phạm 1 trong 5 lỗi sau:
18.2.1 Phạm lỗi thi đấu nghiêm trọng.
18.2.2 Có hành vi bạo lực, gồm cả hành động cố ý nhằm làm đối thủ chấn thương.
18.2.3 Nhổ nước bọt vào đối phương hoặc bất cứ người nào.
18.2.4 Có hành vi tấn công, lăng mạ, sỉ nhục người khác bằng lời nói hoặc hành động.
18.2.5 Bị cảnh cáo lần thứ hai (nhận thẻ vàng thứ 2) trong cùng một trận đấu.
18.3. Đấu thủ bị phạt cảnh cáo hay bị đuổi, dù ở trong sân hay ngoài sân, dù trực tiếp đến đấu thủ, đồng đội, trọng tài, trợ lý trọng tài hay bất cứ ai khác thì kỷ luật theo mức độ vi phạm (thẻ vàng, thẻ đỏ áp dụng cả với huấn luyện viên).
Trong khi thi đấu nếu có thắc mắc hay có vấn đề gì phát sinh không đề cập trong bất cứ luật nào thì quyết định của Tổng trọng tài là quyết định cuối cùng.
KHẨU LỆNH VÀ KÝ HIỆU CỦA TRỌNG TÀI
1. Trọng tài chính: Bắt đầu và kết thúc một đường cầu phải thổi một tiếng còi.
- Chuẩn bị: Một tay chỉ bên phòng thủ, lòng bàn tay úp.
- Dừng cầu: Một tay giơ thẳng ra trước, song song với lưới (lòng bàn tay úp).
- Phát cầu: Tay phía bên phát cầu hất sang bên đỡ phát cầu.
- Điểm: Một tay đưa sang ngang về phía bên được điểm.
- Đổi phát cầu: Một tay chỉ sang bên được quyền phát cầu, lòng bàn tay ngửa.
- Phát cầu lại: Hai tay đưa ra phía trước ngực, hai bàn tay nắm hai ngón cái giơ lên.
- Cầu ngoài: khi cầu ở ngoài sân thì 2 tay trên vai, cẳng tay vuông góc với cánh tay.
- Đổi bên: Hai tay bắt chéo trên đầu.
- Đấu thủ chạm lưới: Khi một bộ phận cơ thể chạm vào lưới thì một tay vỗ nhẹ vào mép trên của lưới.
- Cầu trong sân: Khi cầu rơi ở trong sân thì tay duỗi thẳng chỉ xuống sân, lòng bàn tay ngửa.
- Cầu ngoài sân (chạm đối thủ): Một tay dựng vuông góc (lòng bàn tay hướng vào mặt), bàn tay kia đưa ngang chạm đầu các ngón tay.
- Qua lưới: Khi một bộ phận của cơ thể qua mặt phẳng của lưới thì khuỷ tay gập, cẳng tay trước ngực song song với sân, chỉ theo hướng bên phạm lỗi qua lưới.
- Cầu không qua: Khi cầu không qua lưới (mắc lưới) hoặc chui qua lưới thì lòng bàn tay hướng vào mặt lưới và lắc bàn tay.
- Cầu hỏng: Khi đá hỏng (trượt cầu, dính cầu) thì cánh tay duỗi, lòng bàn tay hướng xuống sân và lắc bàn tay.
- Cầu ngoài cột: Khi cầu đá bay từ ngoài vào (không nằm trong khoảng giữa 2 cột ăngten) thì cánh tay duỗi về sau.
- Khi đấu thủ có thái độ đạo đức xấu thì trọng tài cho dừng trận đấu yêu cầu đấu thủ đó đến và tuyên bố khiển trách hoặc cảnh cáo.
2. Trọng tài biên:
- Cầu trong sân: Khi cầu trong sân, tay cầm cờ duỗi hướng xuống dưới đất, chỉ vào sân.
- Cầu ngoài biên: Khi cầu ngoài sân, tay cầm cờ đưa thẳng lên cao.
- Cầu chạm đấu thủ rơi ngoài sân: Một tay cầm cờ, tay kia dùng bàn tay đưa chéo phía trên cờ.
- Cầu vào sân từ ngoài cột ăngten: Đưa cờ lên cao rung báo lỗi.
- Phát cầu giẫm vạch: Đưa cờ lên cao (rung) báo lỗi. Sau đó chỉ vào vạch phạm lỗi.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HOẠ




