Quyết định 427/1999/QĐ-UBTDTT do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao ban hành là văn bản pháp lý quan trọng, chính thức áp dụng Luật đá cầu sửa đổi và bổ sung trên phạm vi toàn quốc. Luật này quy định toàn diện từ quy chuẩn sân bãi, trang thiết bị, đối tượng tham gia cho đến các luật lệ kỹ thuật trong thi đấu và công tác trọng tài điều hành giải đấu.
- Phạm vi áp dụng và hiệu lực thi hành
- Hiệu lực thi hành: Luật đá cầu sửa đổi, bổ sung gồm 6 chương, 32 điều, chính thức có hiệu lực áp dụng trong tất cả các cuộc thi đấu từ cấp cơ sở đến toàn quốc kể từ ngày 01-05-1999.
- Văn bản thay thế: Luật này hoàn toàn thay thế cho Luật đá cầu đã ban hành trước đó vào ngày 01-12-1993.
- Trách nhiệm thi hành: Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ - Đào tạo, Vụ trưởng Vụ Thể dục thể thao Quần chúng, cùng Giám đốc các Sở Thể dục thể thao, Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.
- Quy chuẩn kỹ thuật về sân bãi và trang thiết bị thi đấu
- Lưới và cột căng lưới:
- Kích thước lưới: Chiều dài lưới là 7 mét, chiều rộng là 0,75 mét. Các mắt lưới có kích thước tiêu chuẩn 1,9 cm x 1,9 cm. Mép trên của lưới được viền vải rộng từ 4 cm đến 5 cm, bên trong luồn dây cáp/dây buộc có đường kính từ 4 mm đến 5 mm.
- Chiều cao lưới: Đối với giải vô địch và giải trẻ, chiều cao lưới là 1,60 mét đối với nam và 1,50 mét đối với nữ hoặc nội dung đôi nam nữ. Đối với giải thiếu niên, chiều cao lưới áp dụng chung là 1,40 mét. Độ võng tại điểm giữa của lưới không được vượt quá 2 cm so với mặt sân.
- Cột căng lưới: Có chiều cao 1,70 mét, làm bằng gỗ hoặc kim loại, được dựng đứng hoặc chôn cố định trên đường phân đôi sân kéo dài, cách đường biên dọc một khoảng 0,50 mét.
- Quả cầu thi đấu: Phải tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng mẫu tiêu chuẩn do Ủy ban Thể dục thể thao xác định và ban hành.
- Ghế trọng tài:
- Ghế trọng tài chính: Kích thước bề mặt đạt 40 cm x 60 cm, chiều cao 1,30 mét, đặt cách cột lưới 0,5 mét về phía ngoài sân.
- Ghế trọng tài phụ: Kích thước bề mặt đạt 20 cm x 30 cm, chiều cao 0,5 mét, đặt cách các góc của đường giới hạn sân tối thiểu là 1 mét.
- Bảng báo điểm: Phải có màu sắc phân biệt rõ ràng cho hai bên sân. Kích thước tối thiểu của bảng là 20 cm x 15 cm, chữ số hiển thị cao tối thiểu 12 cm với nét chữ đậm 1 cm. Bảng báo điểm có hai mặt in số, đặt bên ngoài sân đối diện ghế trọng tài chính và cách đường biên dọc ít nhất 0,5 mét.
- Thước đo lưới: Làm bằng kim loại cứng hoặc gỗ với chiều cao tối thiểu 1,80 mét. Từ độ cao 1 mét trở lên, thước phải được chia vạch rõ ràng với khoảng cách mỗi vạch là 1 cm.
- Nội dung, tính chất thi đấu và phân nhóm tuổi
- Nội dung thi đấu: Các nội dung thi đấu cá nhân bao gồm: Đơn nam, Đơn nữ, Đôi nam, Đôi nữ, Đôi nam nữ và nội dung thi đấu đồng đội gồm 3 vận động viên.
- Tính chất thi đấu: Được phân chia rõ rệt thành thi đấu cá nhân và thi đấu đồng đội.
- Phân nhóm tuổi vận động viên:
- Nhóm Thiếu niên: Từ 15 tuổi trở xuống.
- Nhóm Thanh niên: Từ 16 tuổi trở lên.
- Nguyên tắc chuyển nhóm: Vận động viên ở nhóm tuổi dưới có thể đăng ký thi đấu ở nhóm tuổi trên nếu có sự đồng ý bằng văn bản của bác sĩ và huấn luyện viên. Ngược lại, vận động viên nhóm tuổi trên tuyệt đối không được thi đấu ở nhóm tuổi dưới.
- Cấp bậc vận động viên: Vận động viên tham gia các giải đấu quy mô toàn quốc sẽ được xem xét phong cấp bậc theo quy định cụ thể tại điều lệ giải hàng năm.
- Quy định về trang phục và tác phong thi đấu
- Trang phục tiêu chuẩn: Vận động viên phải đi giày, mặc quần ngắn và áo bỏ trong quần. Trong nội dung thi đấu đôi và thi đấu 3 người, các thành viên trong cùng một đội phải mặc đồng phục cùng màu sắc.
- Quy định về số áo (đối với nội dung 3 người): Áo thi đấu phải được đánh số rõ ràng ở cả trước ngực (cao ít nhất 10 cm) và sau lưng (cao ít nhất 15 cm). Nét số phải rộng tối thiểu 2 cm và có màu sắc, độ sáng tương phản hoàn toàn với màu áo.
- Giày thi đấu: Sử dụng giày thể thao đế bằng hoặc giày chuyên dùng bằng da lộn, mềm, có dây buộc. Phần mu giày phải phẳng và gắn liền với mũi giày; cổ giày không cao quá mắt cá chân. Đế giày dán lớp mỏng thông thường 3 mm (riêng phần gót là 5 mm).
- Quyền hạn và nhiệm vụ của Vận động viên và Huấn luyện viên
- Đối với vận động viên:
- Phải chấp hành tuyệt đối luật thi đấu, điều lệ giải và quyết định của trọng tài.
- Có quyền đề nghị trọng tài chính giải thích luật hoặc xin tạm dừng trận đấu khi gặp sự cố ngoài ý muốn bằng ký hiệu tay (mũi bàn tay này hướng vào lòng bàn tay kia ở phía trước mặt) sau khi kết thúc một đường cầu.
- Không được tự ý dừng trận đấu để lấy lại sức hoặc nghe chỉ đạo chiến thuật. Phải có mặt đúng giờ theo lịch thi đấu; quá 5 phút sau khi thông báo mà không có mặt sẽ bị xử thua cuộc.
- Trường hợp chấn thương được bác sĩ xác định không thể tiếp tục thi đấu sẽ bị xử thua vì lý do sức khỏe. Mọi hành vi thiếu văn hóa sẽ bị xử lý nghiêm khắc từ nhắc nhở, cảnh cáo đến truất quyền thi đấu.
- Đối với huấn luyện viên (chỉ đạo viên, lãnh đội):
- Phải ngồi đúng vị trí quy định của Ban tổ chức. Chỉ được phép vào khu vực thi đấu để chỉ đạo vận động viên trong thời gian nghỉ giữa các hiệp đấu.
- Không được có lời nói, hành động gây ảnh hưởng đến vận động viên đang thi đấu hoặc cản trở công tác điều hành của trọng tài và Ban tổ chức. Vi phạm sẽ bị xử lý từ nhắc nhở, cảnh cáo đến truất quyền chỉ đạo.
- Quy định về thời gian và cấu trúc trận đấu
- Thời gian quy định:
- Khởi động chuyên môn trước trận đấu: Không quá 3 phút.
- Nghỉ giữa hiệp 1 và hiệp 2: Không quá 2 phút.
- Nghỉ giữa hiệp 2 và hiệp 3 (nếu có): Không quá 5 phút.
- Nghỉ giữa hai trận đấu liên tiếp của một vận động viên: Không dưới 15 phút.
- Xử lý sự cố dừng trận đấu: Trọng tài chính là người quyết định tạm dừng trận đấu. Nếu trận đấu phải dừng vì lý do khách quan:
- Vận động viên không được tự ý rời sân khi chưa có sự cho phép của trọng tài.
- Nếu sự cố được khắc phục trong vòng 6 giờ, trận đấu sẽ tiếp tục với tỷ số được giữ nguyên.
- Nếu sau 6 giờ mới khắc phục được, kết quả cũ sẽ bị hủy bỏ và trận đấu được tổ chức đá lại từ đầu.
- Cấu trúc trận đấu: Mỗi trận đấu gồm tối đa 3 hiệp, bên nào thắng trước 2 hiệp sẽ giành chiến thắng chung cuộc. Mỗi vận động viên chỉ được tham gia tối đa 1 trận đơn và không quá 2 trận đôi trong một buổi thi đấu (ngoại trừ nội dung thi đấu đồng đội).
- Luật giao cầu, đỡ cầu và các lỗi vi phạm kỹ thuật
- Quy trình phát cầu đúng:
- Mỗi vận động viên khi giành quyền phát cầu sẽ thực hiện liên tục 5 quả phát cầu trước khi chuyển quyền phát cho đối phương.
- Trong đấu đơn và đôi, quả phát cầu đầu tiên luôn bắt đầu từ phía sau ô số 1 và phải bay chéo sang ô số 1 của đối phương. Quả tiếp theo sẽ đổi sang phát từ ô số 2 sang ô số 2 của đối phương và luân phiên liên tục.
- Thứ tự phát - đỡ trong đấu đôi: A1 phát thì B1 đỡ; lượt 5 quả tiếp theo B1 phát thì A1 đỡ; lượt tiếp theo A2 phát thì B2 đỡ; lượt tiếp theo B2 phát thì A2 đỡ, sau đó lặp lại chu kỳ.
- Trong đấu 3 người: Vận động viên phát cầu được đứng ở mọi vị trí sau đường biên ngang và thực hiện phát cầu theo đúng thứ tự đăng ký.
- Chỉ được phát cầu sau khi có hiệu lệnh của trọng tài và không được để quá 5 giây. Quả cầu phát đi chạm lưới nhưng vẫn rơi vào đúng ô quy định của đối phương thì vẫn được tính là hợp lệ.
- Đồng đội của người phát cầu phải đứng đúng ô quy định (đối với đấu đôi) hoặc đứng trong sân mình (đối với đấu 3 người), hai bàn chân tiếp xúc mặt sân, không di chuyển hay tạo động tác che chắn cho tới khi cầu được phát đi.
- Các lỗi phát cầu thường gặp:
- Cầu phát chạm vào vật cản trước khi rơi xuống sân đối phương.
- Cầu không qua lưới, mắc lưới hoặc chui dưới lưới.
- Trong đấu đôi hoặc đấu 3 người, cầu chạm vào người hoặc trang phục của đồng đội trước khi bay sang sân đối phương.
- Người phát cầu thực hiện động tác lăng chân nhưng đá hụt cầu.
- Dẫm vạch giới hạn cuối sân hoặc vạch giới hạn phát cầu khi thực hiện động tác.
- Trường hợp phát cầu lại:
- Có sự cố bất ngờ trên sân ảnh hưởng trực tiếp đến đường cầu.
- Cả hai bên cùng phạm lỗi đồng thời.
- Một bộ phận của quả cầu bị rơi ra trong lúc đang thi đấu.
- Trọng tài biên không xác định được điểm rơi và trọng tài chính không đủ cơ sở để đưa ra quyết định.
- Vận động viên tung cầu nhưng chưa thực hiện động tác đá (chân chưa rời đất) hoặc phát cầu trước tiếng còi của trọng tài (chỉ cho phép phát lại tối đa đến lần thứ hai).
- Lỗi đỡ phát cầu: Chân chạm vạch giới hạn khi đối phương phát cầu; đứng sai ô quy định (đấu đơn); vi phạm thứ tự đỡ cầu hoặc tự ý thay đổi vị trí đứng khi đối phương đang thực hiện chuỗi 5 quả phát cầu liên tục (đấu đôi).
- Quy định về đá cầu đúng:
- Vận động viên được dùng mọi bộ phận cơ thể để chơi cầu, ngoại trừ hai tay (tính từ mỏm vai đến hết ngón tay).
- Mỗi vận động viên được chạm cầu tối đa 2 lần liên tiếp trước khi đưa cầu sang sân đối phương (nếu cầu chạm một bộ phận rồi nảy sang bộ phận khác trên cùng cơ thể thì tính là 2 lần chạm).
- Trong đấu 3 người, mỗi đội được chạm cầu tối đa 4 lần, và mỗi cá nhân không được chạm quá 2 lần trước khi đưa cầu qua sân đối phương.
- Thời gian chạm cầu không quá 0,5 giây (không được để cầu dừng hoặc dính trên cơ thể).
- Ưu tiên tấn công tại mặt phẳng lưới: Vận động viên có thể đưa một phần cơ thể theo đà sang sân đối phương khi tấn công nhưng tuyệt đối không được chạm lưới hoặc vượt qua hoàn toàn mặt phẳng lưới.
- Trong nội dung đôi nam nữ, vận động viên nam được phép chắn cầu trực tiếp sang sân đối phương ngay cả khi vận động viên nữ của đội mình chưa chạm vào cầu.
- Lỗi chạm, đá cầu: Đá cầu khi cầu vẫn còn nằm hoàn toàn bên phần sân đối phương; bất kỳ bộ phận nào của cơ thể chạm vào lưới hoặc xâm nhập sang phần sân đối phương trong lúc thi đấu (trừ trường hợp tấn công hợp lệ); vận động viên nữ chưa chạm cầu trước khi cầu sang sân đối phương trong nội dung đôi nam nữ (trừ tình huống chắn cầu hợp lệ của nam).
- Cách thức tính điểm và phân định thắng thua
- Nguyên tắc tính điểm: Bên nào phạm lỗi phát cầu hoặc lỗi đỡ, đá cầu thì đối phương được cộng 1 điểm và giành quyền phát cầu (hoặc tiếp tục phát cầu theo lượt).
- Điểm số quyết định hiệp đấu: Bên nào đạt 21 điểm trước sẽ thắng hiệp đó.
- Thể thức hòa 20 - 20 (Điểm số chạm 20 đều):
- Hai bên sẽ chuyển sang thi đấu theo thể thức phát cầu luân phiên, mỗi bên phát 1 quả duy nhất rồi chuyển quyền.
- Vị trí phát cầu được cố định ở phía sau ô số 1 (đối với đấu đơn và đôi). Đối với đấu 3 người, các vận động viên luân phiên phát cầu theo thứ tự đăng ký.
- Bên đang đỡ phát cầu tại thời điểm 20 đều sẽ được quyền phát quả đầu tiên của loạt luân phiên.
- Hiệp đấu chỉ kết thúc khi một bên tạo được khoảng cách cách biệt 2 điểm so với đối phương (ví dụ: 22-20, 23-21...).
- Tổ chức giải đấu và phân công trọng tài điều hành
- Ban Tổ chức: Do Thủ trưởng cơ quan Thể dục thể thao quyết định thành lập. Trưởng Ban tổ chức chịu trách nhiệm toàn diện về công tác chuẩn bị, cơ sở vật chất và kết quả của giải đấu.
- Ban Trọng tài và phân công nhiệm vụ:
- Tổng trọng tài: Là người am hiểu sâu sắc luật đá cầu, chịu trách nhiệm sắp xếp lịch thi đấu, phân công tổ trọng tài, kiểm tra bảng đấu, giải quyết khiếu nại và tổng hợp kết quả chung cuộc.
- Trọng tài chính: Điều hành trực tiếp trận đấu, chịu trách nhiệm về sân bãi và khu vực xung quanh. Trọng tài chính có quyền đưa ra quyết định cuối cùng đối với mọi tranh chấp trước lần phát cầu tiếp theo, ký biên bản trận đấu và báo cáo Tổng trọng tài để truất quyền thi đấu của vận động viên vi phạm đạo đức hoặc luật thi đấu nghiêm trọng.
- Trọng tài biên: Xác định điểm rơi của đế cầu là "trong" hay "ngoài" sân, hỗ trợ báo lỗi kỹ thuật (như cầu chạm người vận động viên) bằng ký hiệu quy định cho trọng tài chính.
- Trọng tài lật số (báo điểm): Hỗ trợ lật bảng điểm số công khai theo đúng ký hiệu và điều khiển của trọng tài chính.
- Phương pháp chia bảng và thể thức thi đấu: Tùy thuộc vào quy mô giải đấu để áp dụng các thể thức: Loại trực tiếp một lần thua, Loại trực tiếp hai lần thua, Đấu vòng tròn tính điểm, hoặc Đấu hỗn hợp. Ban tổ chức phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, phân bổ đều các vận động viên hạt giống (dựa trên thành tích giải trước) vào các bảng đấu khác nhau.
- Biên bản thi đấu: Mọi trận đấu bắt buộc phải có biên bản ghi chép diễn biến, điểm số và các quyết định xử phạt theo đúng mẫu quy định của Luật đá cầu hiện hành, có chữ ký xác nhận của trọng tài chính sau khi trận đấu kết thúc.
| UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 427/1999/QĐ-UBTDTT | Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 1999 |
BỘ TRƯỞNG - CHỦ NHIỆM UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO
Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Nghị định số 03-1998/NĐ-CP ngày 06/01/1998 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban TDTT;
Căn cứ vào kết quả của các hội thảo sửa đổi, bổ sung luật đá cầu và nhu cầu phát triển môn đá cầu trong thời gian tới;
Theo đề nghị của Ông Vụ trưởng Vụ Thể dục thể thao Quần chúng;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Ban hành Luật đá cầu (có sửa đổi, bổ sung) gồm 6 chương, 32 điều
Điều 2. Luật đá cầu này được áp dụng trong các cuộc thi đấu từ cơ sở tới toàn quốc, bắt đầu từ ngày 01-05-1999 và thay thế Luật đá cầu ban hành 01-12-1993.
Điều 3. Các ông Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ - Đào tạo, Vụ trưởng Vụ Thể dục thể thao Quần chúng. Các ông Giám đốc Sở Thể dục thể thao, Sở Văn hoá - Thông tin - Thể thao các tỉnh, thành chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
|
| K/T BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM UỶ BAN TDTT |
1.1. Sân thi đấu đơn

1.2. Sân thi đấu đôi

1.3. Sân thi đấu 3 người

1.4. Sân thi đấu hỗn hợp


2.1. Các đường giới hạn sân:
- Đường biên dọc dài 13,40 mét
- Đường biên ngang:
Sân đơn: 5,18 mét
Sân đôi và sân 3 người: 6,10 mét
2.2. Đường phân đôi sân: Nằm ở phía dưới lưới, chia sân thành hai phần bằng nhau.
2.3. Đường giới hạn phát cầu hợp lệ: Là đường cách 1,98 mét song song với đường phân đôi sân (mỗi bên sân có một đường) hợp với các đường biên và đường dọc giữa sân tạo thành khu vực phát cầu.
2.4. Đường dọc giữa sân: Được kẻ từ đường giới hạn phát cầu đến đường biên ngang, song song với đường biên dọc, chia đều mỗi bên thành hai khu vực: Bên phải là số 1, bên trái là số 2.
2.5.1. Đường giới hạn quy định khu vực đứng phát cầu trong thi đấu 3 người là các đường kéo dài 0,2 mét về phía sau theo đường biên dọc (có đứt quãng 0,04 mét với đường biên ngang)
2.5.2. Đường giới hạn quy định khu vực đứng phát cầu trong thi đấu đơn và đôi là các đường kéo dài 0,2 mét về phía sau và theo đường biên dọc và đường dọc giữa sân (có đứt quãng 0,04 mét với đường biên ngang)
2.6. Những đường giới hạn có màu trắng, vàng hoặc các màu khác phân biệt với nền sân, rộng 0,04 mét và nằm trong phạm vi của sân.
2.7. Thi đấu 3 người chỉ áp dụng các điều 2.1; 2.2; 2.5.1; 2.6.
3.1. Nhà tổ chức thi đấu đá cầu phải có độ cao tối thiểu là 7 mét (tính từ mặt sân đến trần nhà). Sàn nhà phải bằng phẳng, khô ráo, không có vật cản trong phạm vi của sân (nếu có vật cản thì phải cách đường biên tối thiểu 2 mét)
3.2. Nếu tổ chức thi đấu trên nhiều sân thì giữa các sân phải cách nhau tối thiểu 2 mét (so với đường biên ngang và đường biên dọc).
3.3. Mặt nền xung quanh sân thi đấu (cách mỗi đường biên là 2 mét) phải bằng phẳng như mặt sân thi đấu.
3.4. Độ sáng tối thiểu là 200 Lux. Ánh sáng khuếch tán đều, không gây chói mắt.
3.5. Nơi thi đấu phải lặng gió, không bị gió tạt, gió lùa làm sai lệch đường bay của quả cầu.
4.1. Lưới:
- Lưới đá cầu không quy định màu sắc, dài 7 mét, rộng 0,75 mét. Các mắt lưới có diện tích là 1,9 cm x 1,9 cm. Mép trên của lưới có viền vải rộng từ 4 cm đến 5cm. Bên trong lớp vải luồn dây có đường kính từ 4mm - 5mm để buộc lưới vào hai cột.
- Chiều cao của lưới (tính từ mặt sân đến mép trên của lưới):
+ Giải vô địch và giải trẻ áp dụng mức lưới:
Cao 1,60 mét cho vận động viên nam
Cao 1.50 mét cho vận động viên nữ và đá đôi nam, nữ.
+ Giải thiếu niên áp dụng chung mức lưới: 1,40 mét.
- Độ cao của lưới tính từ mặt sân đến mép trên giữa lưới không được võng quá 2cm.
4.2. Cột căng lưới:
- Cột để căng lưới bằng gỗ hoặc kim loại có chiều cao tính từ mặt sân là 1,70 mét.
- Cột có thể dựng đứng hoặc chôn cố định trên đường phân đôi sân kéo dài cách đường biên dọc sân là 0,50 mét.
Theo mẫu do Uỷ ban Thể dục thể thao xác định.
6.1. Ghế trọng tài chính: Có bề mặt 40cm x 60cm, cao 1,30 mét đặt cách cột lưới 0,5 mét về phía bên ngoài.
6.2. Ghế trọng tài phụ: Có bề mặt 20cm x 30cm, cao 0,5 mét, đặt cách các góc của đường giới hạn tối thiểu là 1 mét.
Bảng báo điểm có màu sắc phân biệt cho hai bên sân, kích thước tối thiểu 20cm x 15cm chữ số có chiều cao 12cm, nét đậm 1cm. Bảng báo điểm có hai mặt đều in số, đặt ở bên ngoài sân, đối diện với ghế trọng tài chính, cách đường biên dọc tối thiểu là 0,5 mét.
Làm bằng kim loại cứng hoặc bằng gỗ, có chiều cao tối thiểu là 1,80 mét. Từ độ cao 1 mét trở lên, thước được chia theo các vạch cách nhau 1cm.
Thi đấu cá nhân được tổ chức theo các nội dung sau:
Đơn nam
Đơn nữ
Đôi nam
Đôi nữ
Đôi nam nữ
Thi đấu 3 vận động viên
Thi đấu cá nhân và thi đấu đồng đội.
VẬN ĐỘNG VIÊN, HUẤN LUYỆN VIÊN
11.1. Vận động viên tham gia thi đấu được chia theo các nhóm tuổi sau:
- Thiếu niên từ 15 tuổi trở xuống
- Thanh niên từ 16 tuổi trở lên
11.2. Những vận động viên ở lứa tuổi dưới có thể thi đấu ở lứa tuổi trên, nhưng phải được sự đồng ý của bác sĩ và huấn luyện viên. Vận động viên ở lứa tuổi trên không được thi đấu ở lứa tuổi dưới.
Điều 12. Cấp bậc vận động viên
Những vận động viên tham gia thi đấu đá cầu tại các giải có quy mô toàn quốc được phong cấp bậc vận động viên theo quy định của điều lệ hàng năm.
13.1. Vận động viên tham gia thi đấu phải đi giầy, mặc quần ngắn, áo bỏ trong quần.
13.2. Trong thi đấu đôi và thi đấu 3 người, các vận động viên cùng đội phải mặc quần áo có cùng màu sắc.
13.3. Trong thi đấu 3 người phải mặc áo có đánh số.
13.3.1. Số áo phải ở giữa ngực và giữa lưng. Màu sắc và độ sáng của số phải tương phản với màu sắc và độ sáng của áo.
13.3.2. Số trước ngực cao ít nhất 10cm, số sau lưng 15cm. Nét số rộng ít nhất 2cm.
13.4. Giầy đá cầu là các loại giầy thể thao đế bằng hoặc giầy chuyên dùng.
13.5. Giầy chuyên dùng được làm bằng da lộn, mềm, có dây buộc. Phần mu giầy phẳng, gắn liền với mũi giầy. Phần cổ giầy không cao quá mắt cá chân. Phần đề giầy được dán một lớp mỏng (thông thường là 3mm, riêng ở gót giầy 5mm)
Điều 14. Quyền hạn, nhiệm vụ của vận động viên
14.1. Vận động viên phải chấp hành luật thi đấu và điều lệ giải. Phải tuân thủ quyết định của trọng tài.
14.2. Trong thi đấu, vận động viên có quyền đề nghị trọng tài chính giải thích những vấn đề chưa rõ hoặc xin tạm dừng trận đấu khi có hoàn cảnh cần thiết ngoài ý muốn. Xin tạm dừng sau khi kết thúc một đường cầu, vận động viên hướng mặt về phía trọng tài chính, mũi bàn tay này hướng vào lòng bàn tay kia ở phía trước mặt để ra ký hiệu xin phép.
14.3. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vận động viên cũng không được ngừng trận đấu để lấy lại sức hoặc để nghe lời chỉ dẫn.
14.4. Vận động viên phải có mặt không được dừng trận đấu hoặc ra khỏi sân khi chưa được trọng tài chính cho phép.
14.5. Vận động viên phải có mặt trên sân theo lịch thi đấu. Sau 5 phút thông báo thi đấu mà vận động viên không có mặt bị coi như tự bỏ cuộc.
14.6. Khi vận động viên bị chấn thương sau khi trọng tài y tế xác định không tiếp tục thi đấu được sẽ bị xử thua vì lý do sức khoẻ.
14.7. Đối với những vận động viên phạm luật, hoặc có những lời nói, hành vi thiếu văn hoá, vi phạm đạo đức thì tuỳ theo mức độ sẽ xử lý từ nhắc nhở, cảnh cáo đến truất quyền thi đấu.
Điều 15. Quyền hạn và nhiệm vụ của huấn luyện viên chỉ đạo (chỉ đạo viên, lãnh đội)
15.1. Huấn luyện viên phải ngồi đúng vị trí mà Ban tổ chức quy định. Huấn luyện viên chỉ được vào khu vực thi đấu để chỉ đạo vận động viên của mình trong thời gian nghỉ giữa các hiệp.
15.2. Huấn luyện viên không được có những lời nói, hành động làm ảnh hưởng đến các vận động viên khi thi đấu; gây cản trở trọng tài, Ban tổ chức trong khi làm nhiệm vụ. Đối với những huấn luyện viên phạm luật tuỳ theo mức độ xử lý từ nhắc nhở, cảnh cáo đến truất quyền chỉ đạo.
Điều 16. Thời gian cho cuộc thi
16.1. Thời gian khởi động chuyên môn trước thi đấu không quá 3 phút.
16.2. Thời gian nghỉ trước khi vào hiệp thứ 2 không quá 2 phút
16.3. Thời gian nghỉ trước khi vào hiệp thứ 3 không quá 5 phút.
16.4. Thời gian nghỉ giữa hai trận đấu không dưới 15 phút
16.5. Trọng tài là người quyết định về bất kỳ một sự tạm dừng thi đấu.
16.6. Quyết định dừng từng trận đấu hoặc cả cuộc thi vì những lý do cấp thiết do Ban tổ chức quyết định
16.7. Nếu xảy ra tình huống vì lý do khách quan phải dừng trận đấu thì:
16.7.1. Nếu chưa được phép của trọng tàu các vận động viên không được ra khỏi sân.
16.7.2. Nếu khắc phục được sự cố trong vòng 6 giờ đồng hồ kể từ khi phải tạm dừng thì trận đấu tiếp tục với kết quả đã có
16.7.3. Nếu sau 6 giờ đồng hồ mới khắc phục được sự cố thì huỷ bỏ kết quả trận đấu đã có để thi đấu lại.
Điều 17. Số trận đấu, hiệp đấu
17.1. Mỗi trận thi đấu đá cầu gồm 3 hiệp. Bên nào thắng hai hiệp là bên đó thắng
17.2. Mỗi vận động viên chỉ được tham gia một trận đơn và không quá hai trận đôi trong một buổi thi đấu (không áp dụng trong thi đấu giải đồng đội)
Đăng ký nội dung thi đấu và số lượng vận động viên theo điều lệ thi đấu từng năm quy định
19.1. Tiến hành chọn hạt giống của giải do điều lệ từng năm quy định
19.2. Trước khi bắt đầu trận đấu và trước khi bắt đầu hiệp thứ ba, hai bên sẽ bốc thăm. Bên nào bốc được thăm ưu tiên sẽ được quyền chọn sân hoặc phát cầu trước.
Trọng tài cho vận động viên đổi bên trong các trường hợp sau:
20.1. Khi bắt đầu hiệp thứ hai
20.2. Khi đạt điểm số 11 ở hiệp thứ ba
20.3. Nếu phát hiện việc đổi sân không đúng như quy định ở điều 20.1 và 20.2 thì trọng tài phải cho đổi sân ngay và giữ nguyên điểm số hiện tại.
21.1. Khi được quyền phát cầu, mỗi vận động viên được phát 5 quả liên tục. Sau đó chuyển quyền phát cầu cho đội bạn.
21.2. Trong thi đấu đơn và đôi, mỗi lần phát cầu đều được bắt đầu ở khu vực phía sau ô số 1. Cầu phát chéo sang khu vực đỡ phát cầu của đội bạn (ô số 1). Lần phát cầu tiếp theo đổi vị trí sang nửa sân bên kia (ô số 2) và lặp lại.
21.3. Trong đá đôi: (thí dụ bên A phát cầu trước)
- Lần phát cầu đầu tiên của 5 quả thứ nhất: A1 phát, B1 đỡ.
- Lần phát cầu đầu tiên của 5 quả thứ hai: B1 phát, A1 đỡ.
- Lần phát cầu đầu tiên của 5 quả thứ ba: A2 phát, B2 đỡ.
- Lần phát cầu đầu tiên của 5 quả thứ tư: B2 phát, A2 đỡ.
Sau đó lặp lại
21.4. Trong thi đấu 3 người: Vận động viên phát cầu được đứng ở mọi vị trí trong giới hạn sau đường biên ngang phát cầu sang sân đội bạn. Vận động viên phát cầu theo thứ tự đã đăng ký.
21.5. Chỉ được phát cầu khi đã có hiệu lệnh của trọng tài (không quá 5 giây)
21.6. Cầu phát đi, chạm mép trên của lưới nhưng rơi vào khu vực đỡ phát cầu của đội bạn.
21.7. Cầu đá sang sân đội bạn phải đi trên lưới và nằm trong khu vực giữa hai cột.
21.8. Để cầu rơi vào khu vực đỡ phát cầu của đội bạn (kể cả đế cầu chạm vào các đường giới hạn của ô đó)
21.9. Trong thi đấu đôi, vận động viên cùng đội bên phát cầu phải đứng trong khu vực ô còn lại, chân không được chạm vào các đường giới hạn ô đó.
21.10. Trong thi đấu 3 người, các vận động viên của bên phát cầu (trừ vận động viên phát cầu) đứng trong khu vực của sân mình, chân không được chạm vào các đường giới hạn của sân.
21.11. Hai bàn chân của đồng đội bên phát cầu phải tiếp xúc với mặt sân, vận động viên không di chuyển, không thực hiện động tác che chắn cho tới khi cầu được phát đi.
21.12. Lần phát cầu đầu tiên ở hiệp thứ hai do bên đỡ cầu đầu tiên ở hiệp thứ nhất thực hiện.
22.1. Khi phạm vào các quy định ở điều 21. Khi vận động viên phạm vào điều 21.1, 21.12 thì chỉ tính phạm lỗi lần đang đá cầu hiện tại, còn điểm số trước đó vẫn được giữ nguyên.
22.2. Cầu phát sang chạm vào một vật cản trước khi rơi xuống sân.
22.3. Cầu không qua lưới, (mắc lưới) hoặc chui dưới lưới.
22.4. Trong đá đôi, đá đồng đội cầu chạm vào tóc, quần áo... của vận động viên cùng đội trước khi bay sang sân đối phương.
22.5. Người phát cầu đá không trúng quả cầu khi đã thực hiện động tác lăng chân phát cầu.
22.6. Dẫm vào vạch ngang giới hạn cuối sân hoặc các vạch giới hạn phát cầu.
23.1. Khi đang thi đấu, có sự cố bất ngờ trên sân ảnh hưởng tới trận đấu.
23.2. Cả hai bên (giao cầu và đỡ phát cầu) cùng phạm lỗi một lúc.
23.3. Trong thi đấu một bộ phận của quả cầu rơi ra
23.4. Khi trọng tài biên không xác định được điểm rơi của quả cầu và trọng tài chính không đủ điều kiện để quyết định.
23.5. Khi vận động viên tung, thả cầu nhưng chưa làm động tác phát cầu (chân đá chưa rời khỏi mặt sân). Trong trường hợp này chỉ được phát lại đến lần thứ hai.
23.6. Phát cầu khi chưa có hiệu lệnh của trọng tài. Trong trường hợp này chỉ được phát lại đến lần thứ hai.
23.6. Phát cầu khi chưa có hiệu lệnh của trọng tài. Trong trường hợp này chỉ được phát lại đến lần thứ hai.
24.1. Chân chạm vào các đường giới hạn trong khu vực đỡ phát cầu khi đội bạn phát cầu
24.2. Người đỡ phát cầu đứng sai ô quy định (trong đá đơn)
24.3. Phạm vào điều 21.3 (trong đá đôi)
24.4. Vị trí bên đỡ phát cầu thay đổi khi bên phát cầu đang phát 5 quả liên tục (trong đá đôi).
25.1. Vận động viên sử dụng tất cả các bộ phận của cơ thể để đá, đỡ cầu trừ hai tay (tính từ mỏm vai đến ngón tay)
25.2. Trước khi cầu sang sân đối phương, mỗi vận động viên được chạm cầu tối đa hai lần (cầu chạm vào một bộ phận nào đó của cơ thể sau đó bật sang một bộ phận khác thì coi như hai lần chạm cầu)
25.3. Trong thi đấu 3 vận động viên trước khi cầu sang sân đối phương mỗi đội chỉ được phép chạm cầu tối đa 4 lần. Mỗi vận động viên chỉ được chạm cầu tối đa 2 lần.
25.4. Mỗi lần chạm cầu không quá 1/2 giây (không được để cầu dừng một cách rõ ràng trên bất kỳ một bộ phận nào của cơ thể)
25.5. Ưu tiên cho bên đang tấn công khi cầu ở vị trí phía trên của mặt phẳng lưới. Một phần của bộ phận nào của cơ thể vận động viên thực hiện kỹ thuật tấn công theo đà sang sân đội bạn nhưng không chạm lưới hoặc qua hoàn toàn so với mặt phẳng của lưới.
25.6. Vận động viên được di chuyển ra ngoài các đường giới hạn để đá, đỡ cầu nhưng cầu đá sang sân đội bạn phải đi trên lưới, nằm trong khu vực giữa hai cột và rơi ở phần sân đội bạn.
25.7. Khi cầu được phát đi, vận động viên được di chuyển tới mọi vị trí trên sân để đá hoặc đỡ cầu.
25.8. Sau khi đá cầu xong, vận động viên chạm vào cột lưới hoặc bất kỳ vật nào ở phía ngoài cột lưới không tính phạm luật.
25.9. Trong thi đấu đôi nam nữ vận động viên nam được chắn cầu sang sân đối phương (bên phòng thủ) mặc dù vận động viên nữ chưa chạm cầu.
26.1. Phạm vào từ điều 25.1 đến điều 25.6 và các điều 22.2, 22.3.
26.2. Đá cầu khi cầu còn ở sân phần đội bạn.
26.3. Trong khi thi đấu bất kỳ một bộ phận nào của cơ thể chạm lưới hoặc sang sân đội bạn. Vận động viên đang tấn công áp dụng điều 25.5.
26.4. Trong khi thi đấu đôi nam nữ trước khi cầu sang sân đội bạn, vận động viên nữ chưa chạm cầu, trừ tình huống được ghi trong điều 25.9
27.1. Phát cầu hỏng, đối phương được tính điểm thắng
- Đỡ, đá cầu hỏng, đối phương được tính điểm thắng
27.2. Trong thi đấu (đơn, đôi, đồng đội) bên nào dẫn trước 21 điểm thì sẽ thắng ở hiệp đó (trừ khi xảy ra trường hợp ở điều 27.3)
27.3. Khi điểm số hai bên tới 20 đều (20-20) thì sẽ thi đấu theo thể thức phát cầu luân phiên.
27.3.1. Vị trí phát cầu không thay đổi ở phía sau ô số một của mỗi bên đối với thi đấu đơn và đôi.
27.3.2. Với thi đấu 3 người: vận động viên của mỗi bên luân phiên phát cầu theo thứ tự đã đăng ký.
27.3.3. Vận động viên sẽ phải luân phiên phát cầu một lần cho tới khi bên nào dẫn trước với tỷ số chênh lệch 2 điểm thì sẽ thắng ở hiệp đó.
27.4. Cách thực hiện:
27.4.1. Trong thi đấu đơn và 3 người khi điểm số 20 đều bên đang đỡ phát cầu sẽ được phát cầu trước, sau đó chuyển quyền phát cầu cho đội bạn.
27.4.2. Trong thi đấu đôi: (thí dụ bên A đỡ phát cầu khi tỷ số 20 đều)
- Lần phát thứ nhất: A1 phát B1 đỡ
- Lần phát thứ hai: B1 phát A1 đỡ
- Lần phát thứ ba: A2 phát B2 đỡ
- Lần phát thứ tư: B2 phát A2 đỡ
Sau đó sẽ lặp lại
Điều 28. Ban Tổ chức - Ban Trọng tài
28.1. Quyết định thành lập Ban tổ chức, Ban trọng tài do thủ trưởng cơ quan Thể dục thể thao trực tiếp quyết định.
28.2. Ban tổ chức ra quyết định thành lập các tiểu ban.
28.3. Trưởng Ban tổ chức là người chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức cuộc thi và bảo đảm mọi mặt cho cuộc thi đạt kết quả tốt nhất.
Điều 29. Trọng tài và các quyết định
29.1. Ban trọng tài có nhiệm vụ: Điều khiển cuộc thi theo chương trình thi đấu được Ban tổ chức quyết định và theo các điều khoản luật thi đấu đá cầu hiện hành.
29.2. Tổng trọng tài:
- Thường là cán bộ nghiệp vụ Thể dục thể thao am hiểu, nắm chắc luật đá cầu và có khả năng tổ chức điều hành.
- Tổng trọng tài có nhiệm vụ sắp xếp chương trình thi đấu, phân công và kiểm tra các trọng tài viên, kiểm tra các bảng đấu, giải quyết các trường hợp khiếu nại (nếu có) và tổng hợp kết quả thi đấu của giải.
29.3. Trọng tài chính:
- Trọng tài chính làm việc dưới quyền của tổng trọng tài.
- Trọng tài chính (được phân công) chịu trách nhiệm về trận đấu, sân thi đấu và khu vực xung quanh sân đấu.
- Trọng tài chính phải xin ý kiến tổng trọng tài (khi tự mình không quyết định được). Nếu tổng trọng tài vắng mặt, trọng tài chính phải trao đổi những vấn đề đó với quan chức khác có trách nhiệm.
- Đưa ra quyết định về mọi khiếu nại liên quan đến một tranh chấp, điều đó được thực hiện trước lần phát cầu tiếp theo.
- Nếu vị trí trọng tài trên sên bị thiếu trọng tài chính phải phân công lại nhiệm vụ của tổ trọng tài.
Ký biên bản thi đấu và phản ảnh với tổng trọng tài mọi sự liên quan đến tiến trình trận đấu.
- Đối với các đối tượng đã bị cảnh cáo vẫn tiếp tục vi phạm luật, trọng tài chính báo cáo với tổng trọng tài (hoặc quan chức có trách nhiệm nếu vắng tổng trọng tài) để truất quyền đối tượng tham gia vào trận đấu.
29.4. Trọng tài biên và trọng tài báo điểm: Do tổng trọng tài chỉ định hoặc có thể do trọng tài chính chỉ định nhưng đã thông qua tổng trọng tài
29.4.1. Các trọng tài biên xác định đế quả cầu rơi "trong" hay "ngoài" sân (hoặc ô quy định)
29.4.2. Có thể báo lỗi bằng các ký hiệu cho trọng tài chính khi không có quyết định của trọng tài chính.
Ví dụ: Khi cầu chạm vào người của vận động viên.
29.4.3. Trọng tài lật số: giúp trọng tài chính báo điểm và chỉ lật số khi có ký hiệu của trọng tài chính.
29.5. Vị trí các trọng tài trên sân theo sơ đồ sau:
Khi vận động viên có thái độ đạo đức xấu thì trọng tài cho dừng trận đấu yêu cầu vận động viên đó đến và tuyên bố khiển trách hoặc cảnh cáo.
Điều 30. Khẩu lệnh và động tác điều khiển trận đấu
30.1. Trọng tài chính







Khi vận động viên có thái độ đạo đức xấu thì trọng tài cho dừng trận đấu yêu cầu vận động viên đó đến và tuyên bố khiển trách hoặc cảnh cáo.
30.2. Trọng tài biên
Sự phân chia các bảng đấu loại do quy mô tính chất cuộc thi chi phối, nhưng phải bảo đảm công bằng và hợp lý, đặc biệt các vận động viên hạt giống phải chia đều cho các bảng (dựa vào kết quả giải lần trước)
31.1. Loại trực tiếp một lần thua: Vận động viên (đội, đôi) thua một lần là bị loại
31.2. Loại trực tiếp hai lần thua: vận động viên (đội, đôi) thua hai lần là bị loại
31.3. Đấu vòng tròn: vận động viên (đội, đôi) lần lượt đấu với nhau, sau đó tính điểm xếp hạng.
31.4. Đấu hỗn hợp (kết hợp các điều 31.3, 31.2 và 31.3)
Từng trận đấu phải có biên bản ghi rõ theo mẫu sau
