Quyết định 499/BXD-GĐ được ban hành năm 1996 bởi Bộ trưởng Bộ Xây dựng, kèm theo Quy chế bảo hành xây lắp công trình nhằm thống nhất các quy định về trách nhiệm, quyền hạn và thủ tục bảo hành công trình xây dựng trên phạm vi cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Quy chế này áp dụng thống nhất trong cả nước đối với các chủ đầu tư, doanh nghiệp xây dựng nhận thầu xây lắp, các tổ chức tài chính, ngân hàng bảo lãnh và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động xây lắp công trình.
Hoàn trả tiền bảo hành công trình (Điều 5)
- Đến thời điểm kết thúc thời hạn bảo hành xây lắp công trình mà không xảy ra hư hỏng do doanh nghiệp xây dựng gây nên, chủ đầu tư phải xác nhận để Ngân hàng hoàn trả đúng hạn cho doanh nghiệp xây dựng toàn bộ số tiền bảo hành cộng với lãi suất phát sinh theo thời hạn gửi, hoặc hoàn trả giấy bảo lãnh của Ngân hàng.
- Nếu hết thời hạn bảo hành mà chủ đầu tư chưa xác nhận để Ngân hàng hoàn trả tiền bảo hành cho doanh nghiệp xây dựng, chủ đầu tư sẽ bị phạt vi phạm hợp đồng giao nhận thầu xây lắp, đồng thời phải trả lãi suất theo quy định của Ngân hàng đối với số tiền bảo hành chậm trả.
Loại trừ trách nhiệm bảo hành xây lắp công trình (Điều 6)
- Doanh nghiệp xây dựng không phải thực hiện trách nhiệm bảo hành khi các hư hỏng công trình trong thời hạn bảo hành không phải do lỗi của doanh nghiệp gây ra.
- Trường hợp bộ phận, hạng mục hoặc toàn bộ công trình bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ do chủ đầu tư vi phạm pháp luật về xây dựng, doanh nghiệp xây dựng được miễn trách nhiệm bảo hành, kể cả khi có sai sót về kỹ thuật xây dựng trong các hạng mục đó.
Trường hợp chi phí sửa chữa vượt quá số tiền bảo hành (Điều 7)
- Nếu việc sửa chữa các hư hỏng trong thời hạn bảo hành do lỗi của doanh nghiệp xây dựng phát sinh chi phí vượt quá số tiền bảo hành đã quy định, chủ đầu tư có quyền đưa vụ việc ra cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để giải quyết và đòi bồi thường theo quy định của pháp luật.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong bảo hành xây lắp (Điều 8)
- Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư:
- Yêu cầu doanh nghiệp xây dựng thực hiện bảo hành xây lắp công trình theo đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng giao nhận thầu.
- Yêu cầu doanh nghiệp xây dựng tuân thủ nghiêm ngặt Điều lệ quản lý chất lượng công trình do Bộ Xây dựng ban hành.
- Tuân thủ đầy đủ các chỉ dẫn khai thác, sử dụng công trình từ các doanh nghiệp khảo sát, thiết kế và xây lắp.
- Khi xảy ra hư hỏng nặng bộ phận công trình trong thời hạn bảo hành, chủ đầu tư được phép thực hiện các biện pháp tạm thời phù hợp để hạn chế thiệt hại, đồng thời phải thông báo ngay cho doanh nghiệp khảo sát, thiết kế, xây lắp để cử nhân viên kỹ thuật đến lập biên bản xử lý.
- Không được tự ý thuê doanh nghiệp khác sửa chữa hư hỏng khi công trình còn trong thời hạn bảo hành. Trừ trường hợp doanh nghiệp chịu trách nhiệm bảo hành không thực hiện đúng cam kết về dự toán và tiến độ sửa chữa, chủ đầu tư có quyền dùng tiền bảo hành để thuê đơn vị khác thực hiện và thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hành biết.
- Trường hợp thay đổi chủ đầu tư, người kế thừa hợp pháp mới sẽ tiếp quản toàn bộ quyền và nghĩa vụ bảo hành của chủ đầu tư trước đó.
- Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xây dựng:
- Yêu cầu chủ đầu tư tuân thủ đúng các quy định tại Điều lệ quản lý chất lượng công trình do Bộ Xây dựng ban hành.
- Được quyền từ chối sửa chữa các hư hỏng không do lỗi của mình gây ra và có quyền khiếu nại lên Tổ chức giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng để giải quyết.
- Có nghĩa vụ khắc phục, sửa chữa triệt để các hư hỏng do lỗi của mình gây ra trong thời hạn bảo hành với mọi chi phí tự chịu.
- Phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư để thực hiện các biện pháp hạn chế hư hỏng phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng công trình.
Thủ tục và trình tự thực hiện bảo hành xây lắp (Điều 9)
- Nộp bảo lãnh bảo hành: Sau khi công trình hoàn thành và được nghiệm thu đưa vào sử dụng, doanh nghiệp xây dựng phải nộp cho chủ đầu tư giấy cam đoan bảo hành có xác nhận của Ngân hàng về số tiền bảo hành đã gửi, hoặc giấy chứng nhận bảo lãnh của Ngân hàng.
- Thông báo hư hỏng: Khi phát hiện hư hỏng trong thời hạn bảo hành, chủ đầu tư gửi thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp xây dựng và Ngân hàng quản lý tiền bảo hành hoặc Ngân hàng bảo lãnh.
- Khảo sát hiện trạng: Sau khi nhận văn bản, doanh nghiệp xây dựng phải cử ngay nhân viên kỹ thuật đến công trình phối hợp với chủ đầu tư khảo sát hiện trạng, xác định nguyên nhân và trách nhiệm, hoặc thỏa thuận thuê cơ quan tư vấn độc lập để xác định nguyên nhân.
- Thống nhất dự toán và thi công: Hai bên thống nhất dự toán và tiến độ sửa chữa. Chủ đầu tư làm thủ tục với Ngân hàng để trích tiền bảo hành chi trả cho việc sửa chữa theo dự toán đã thống nhất.
- Nghiệm thu bàn giao: Sau khi hoàn thành việc khắc phục, chủ đầu tư và doanh nghiệp xây dựng tiến hành nghiệm thu phần công trình đã sửa chữa.
- Hồ sơ bảo hành: Quá trình thực hiện bảo hành phải được lập thành 03 bộ hồ sơ lưu trữ tại doanh nghiệp xây dựng, chủ đầu tư và ngân hàng bảo lãnh, bao gồm: Bản sao hợp đồng giao nhận thầu xây lắp; Xác nhận của Ngân hàng về số tiền bảo hành hoặc giấy bảo lãnh; Bản kết luận giám định chất lượng của Tổ chức Giám định Nhà nước (nếu có); Biên bản nghiệm thu phần đã sửa chữa.
Thẩm quyền xử lý tranh chấp (Điều 10)
- Đối với các công trình thuộc dự án nhóm A: Bộ Xây dựng là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc xác định nguyên nhân hư hỏng công trình.
- Đối với các công trình thuộc dự án nhóm B và nhóm C: Sở Xây dựng địa phương chịu trách nhiệm giải quyết tranh chấp.
Trách nhiệm pháp lý sau khi hết hạn bảo hành (Điều 11)
- Khi đã hết thời hạn bảo hành, nếu công trình phát sinh sự cố nghiêm trọng, sụt giảm chất lượng nặng nề hoặc sập đổ bộ phận do lỗi sai phạm lớn về kỹ thuật trong quá trình xây lắp trước đó, doanh nghiệp xây dựng vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật theo quy định tại Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ.
Hiệu lực thi hành (Điều 1, 2, 12)
- Quyết định này được thực hiện thống nhất trong cả nước và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
- Quy chế này thay thế hoàn toàn cho Quy chế bảo hành công trình xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 535/BXD-GĐ ngày 14/12/1994 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
| BỘ XÂY DỰNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 499/BXD-GĐ | Hà Nội , ngày 18 tháng 9 năm 1996 |
BỘ TRƯỞNG BỘ XÂY DỰNG
Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 4/3/1994 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
- Căn cứ Nghị định số 42/CP ngày 16 tháng 7 năm 1996 của Chính phủ ban hành Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng;
- Theo đề nghị của Cục trưởng Cục giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy chế bảo hành xây lắp công trình, thay thế cho Quy chế bảo hành công trình xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 535/BXD-GĐ ngày 14/12/1994 của Bộ Xây dựng.
Điều 2. Quyết định này được thực hiện thống nhất trong cả nước và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định này.
|
| Ngô Xuân Lộc (Đã Ký) |
BẢO HÀNH XÂY LẮP CÔNG TRÌNH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 499 BXD-GĐ ngày 18/9/1996 của Bộ trưởng Bộ xây dựng)
Điều 1. Mục đích việc bảo hành:
Việc bảo hành xây lắp công trình nhằm bảo vệ lợi ích của chủ đầu tư đồng thời xác định trách nhiệm của doanh nghiệp xây dựng về chất lượng công trình trước chủ đầu tư và pháp luật. Doanh nghiệp xây dựng có nghĩa vụ thực hiện sửa chữa các hư hỏng do mình gây nên trong thời hạn bảo hành.
Các công trình xây dựng đều phải được các doanh nghiệp xây dựng thực hiện bảo hành xây lắp công trình trong thời hạn quy định tại Quy chế này. Số tiền bảo hành và thời hạn bảo hành được ghi trong hợp đồng giao nhận thầu xây lắp giữa chủ đầu tư và các doanh nghiệp xây dựng nhận thầu xây lắp công trình (sau đây gọi chung là doanh nghiệp xây dựng):
1. Quy chế này quy định việc bảo hành xây lắp các công trình có vốn đầu tư trong nước đã kết thúc xây dựng, bàn giao công trình đưa vào khai thác, sử dụng đạt mục tiêu đã định.
2. Quy chế này không áp dụng đối với việc bảo hành các sản phẩm khảo sát, thiết kế. Các doanh nghiệp khảo sát, thiết kế xây dựng phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật về chất lượng sản phẩm, kết quả công tác do mình thực hiện.
3. Việc bảo hành đối với các loại vật tư, thiết bị là sản phẩm hàng hoá công nghiệp được thực hiện theo quy định của Bộ khoa học công nghệ và môi trường.
4. Việc bảo hành xây lắp các công trình có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định riêng.
Thời hạn bảo hành xây lắp được tính từ ngày doanh nghiệp xây dựng kết thúc hoạt động xây dựng, bàn giao công trình cho chủ đầu tư (hoặc người sử dụng) cho đến khi hết thời hạn quy định sau:
- Thời hạn 24 tháng đối với công trình thuộc dự án nhóm A; - Thời hạn 18 tháng đối với công trình thuộc dự án nhóm B; - Thời hạn 12 tháng đối với công trình thuộc dự án nhóm C.
Các Bộ quản lý xây dựng chuyên ngành (giao thông, thuỷ lợi, hầm mỏ, đường dây tải điện và trạm biến thế, bưu điện, nông lâm nghiệp) quy định cụ thể thời hạn bảo hành đối với từng loại công trình chuyên ngành thuộc Bộ quản lý, nhưng không được thấp hơn thời hạn bảo hành đã quy định trong Quy chế này.
Mức tiền bảo hành xây lắp công trình được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) của giá trị thanh lý hợp đồng nhận thầu xây lắp. Số tiền này được sử dụng để sửa chữa các hư hỏng của công trình trong thời hạn bảo hành do lỗi của doanh nghiệp xây dựng.
Mức tiền bảo hành xây lắp công trình được tính như sau:
- 0,5% giá trị thanh lý hợp đồng xây lắp đối với công trình thuộc dự án nhóm A;
- 1,5% giá trị thanh lý hợp đồng xây lắp dối với công trình thuộc dự án nhóm B;
- 3% giá trị thanh lý hợp đồng xây lắp đối với công trình thuộc dự án nhóm C.
Khi công trình hoàn thành, chủ đầu tư nghiệm thu đưa công trình vào khai thác, sử dụng thì doanh nghiệp xây dựng gửi vào Ngân hàng nơi đã mở tài khoản giao dịch khi xây lắp công trình khoản tiền bảo hành xây lắp theo mức quy định trên. Số tiền gửi này được tính lãi theo quy định hiện hành của Ngân hàng. Trường hợp doanh nghiệp xây dựng có Ngân hàng bảo lãnh, doanh nghiệp xây dựng chỉ nộp chủ đầu tư giấy bảo lãnh của Ngân hàng về khoản tiền bảo hành xây lắp công trình theo mức quy định.
Chủ đầu tư được sử dụng số tiền bảo hành này (bằng tiền gửi hoặc chứng từ bảo lãnh của Ngân hàng) trong suốt thời hạn bảo hành cho mục đích bảo hành xây lắp công trình.
Điều 5: Việc hoàn trả tiền bảo hành:
Đến thời điểm kết thúc thời hạn bảo hành xây lắp công trình mà không xảy ra hư hỏng công trình do doanh nghiệp xây dựng gây nên, chủ đầu tư phải xác nhận để Ngân hàng hoàn trả đúng hạn cho doanh nghiệp xây dựng toàn bộ số tiền bảo hành công trình cộng với lãi suất theo thời hạn gửi tại Ngân hàng, hoặc hoàn trả giấy bảo lãnh của Ngân hàng. Hết thời hạn bảo hành xây lắp công trình mà chủ đầu tư chưa xác nhận để Ngân hàng hoàn trả tiền bảo hành xây lắp cho doanh nghiệp xây dựng thì chủ đầu tư chịu phạt về vi phạm hợp đồng giao nhận thầu xây lắp. Đồng thời phải trả lãi xuất theo quy định của Ngân hàng của số tiền bảo hành chậm trả cho doanh nghiệp xây dựng.
Điều 6. Loại trừ trách nhiệm bảo hành xây lắp công trình:
Doanh nghiệp xây dựng không phải thực hiện trách nhiệm bảo hành xây lắp công trình khi các hư hỏng công trình xây dựng trong thời hạn bảo hành không phải lỗi của doanh nghiệp gây nên.
Trường hợp trong thời hạn bảo hành xây lắp công trình, mà bộ phận, hạng mục công trình, công trình do chủ đầu tư vi phạm pháp luật về xây dựng bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp buộc tháo dỡ thì doanh nghiệp xây dựng không có trách nhiệm bảo hành mặc dù trong đó có thể có sai sót về kỹ thuật xây dựng.
Điều 7. Trường hợp phải chi vượt số tiền bảo hành:
Trường hợp sửa chữa các hư hỏng công trình xây dựng trong thời hạn bảo hành do lỗi của doanh nghiệp xây dựng mà vượt quá số tiền bảo hành xây lắp quy định tại Điều 4 của bản Quy chế này thì chủ đầu tư có quyền đưa ra cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo pháp luật.
QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC GIAO, NHẬN THẦU XÂY LẮP VÀ TRÌNH TỰ THỰC HIỆN BẢO HÀNH
Điều 8: Quyền, nghĩa vụ thực hiện bảo hành xây lắp công trình:
1- Quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư:
a) Yêu cầu doanh nghiệp xây dựng công trình thực hiện bảo hành xây lắp công trình như đã ghi trong hợp đồng giao nhận thầu xây lắp.
b) Yêu cầu doanh nghiệp xây dựng nhận thầu xây lắp công trình phải tuân thủ Điều lệ quản lý chất lượng công trình do Bộ Xây dựng ban hành.
c) Tuân thủ các chỉ dẫn khi khai thác, sử dụng công trình của các doanh nghiệp khảo sát, thiết kế và xây lắp công trình.
d) Trường hợp có hư hỏng nặng bộ phận công trình trong thời hạn bảo hành được phép thực hiện các biện pháp phù hợp với khả năng của chủ đầu tư để hạn chế các hư hỏng công trình và thông báo ngay cho doanh nghiệp khảo sát, thiết kế, xây lắp công trình biết trong thời hạn ngắn nhất để cử nhân viên kỹ thuật đến xem xét, lập biên bản ghi nhận biện pháp giải quyết.
e) Không được tự ý thuê một doanh nghiệp khác sửa chữa hư hỏng công trình còn trong thời hạn bảo hành mà doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm bảo hành. Trừ trường hợp doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm bảo hành không thực hiện đúng cam kết về dự toán và tiến độ sửa chữa các hư hỏng công trình do doanh nghiệp xây dựng gây ra, chủ đầu tư có quyền sử dụng số tiền bảo hành để thuê một doanh nghiệp xây dựng khác sửa chữa các hư hỏng của công trình, đồng thời thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm bảo hành công trình.
g) Trường hợp thay đổi chủ đầu tư thì người mới thay thế hợp pháp được thừa kế công việc bảo hành của chủ đầu tư trước.
2. Quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp xây dựng:
a) Yêu cầu chủ đầu tư phải tuân thủ Điều lệ quản lý chất lượng công trình do Bộ Xây dựng ban hành.
b) Được quyền từ chối sửa chữa các hư hỏng công trình không phải do mình gây nên và khiếu nại lên Tổ chức giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng để giải quyết.
c) Có nghĩa vụ sửa chữa các hư hỏng công trình do mình gây nên trong thời hạn bảo hành.
d) Phối hợp với chủ đầu tư thực hiện các biện pháp hạn chế các hư hỏng công trình khi sử dụng khai thác trong thời hạn bảo hành.
Điều 9. Thủ tục, trình tự thực hiện bảo hành xây lắp công trình:
1. Khi công trình hoàn thành đã được chủ đầu tư nghiệm thu đưa vào sử dụng thì doanh nghiệp xây dựng phải nộp cho chủ đầu tư giấy cam đoan bảo hành có xác nhận của Ngân hàng đã gửi số tiền bảo hành theo quy định hoặc giấy chứng nhận bảo lãnh số tiền bảo hành xây lắp của Ngân hàng. Trong thời hạn bảo hành nếu có xảy ra hư hỏng công trình do doanh nghiệp xây dựng gây nên thì doanh nghiệp xây dựng phải tu bổ, sửa chữa theo thời hạn do chủ đầu tư chỉ định. Mọi phí tổn do doanh nghiệp xây dựng phải chịu. Nhưng nếu sự việc được xác định do chủ đầu tư gây ra thì chủ đầu tư chịu chi phí sửa chữa đó.
2. Chủ đầu tư thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp xây dựng và Ngân hàng nơi gửi số tiền bảo hành hoặc Ngân hàng bảo lãnh khi phát hiện có hư hỏng công trình trong thời hạn bảo hành;
3. Doanh nghiệp xây dựng sau khi nhận được văn bản của chủ đầu tư, phải cử nhân viên kỹ thuật đến ngay công trình để cùng chủ đầu tư thoả thuận thực hiện việc khảo sát hiện trạng, xác định nguyên nhân, trách nhiệm của doanh nghiệp xây dựng hoặc thoả thuận thuê cơ quan tư vấn xác định nguyên nhân hư hỏng công trình.
4. Dự toán và tiến độ sửa chữa hư hỏng của công trình được thống nhất giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây dựng. Chủ đầu tư làm thủ tục với Ngân hàng để sử dụng số tiền bảo hành chi trả việc sửa chữa hư hỏng công trình cho doanh nghiệp xây dựng theo dự toán sửa chữa đã thống nhất.
5. Sau khi sửa chữa xong các hư hỏng công trình, chủ đầu tư và doanh nghiệp xây dựng phải nghiệm thu phần đã sửa chữa.
6. Quá trình thực hiện bảo hành xây lắp công trình phải được lập thành hồ sơ, bao gồm:
- Bản hợp đồng giao nhận thầu xây lắp giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây dựng nhận thầu xây lắp công trình (bản sao).
- Bản xác nhận của Ngân hàng về số tiền bảo hành xây lắp công trình của doanh nghiệp xây dựng đã nộp đủ, gửi vào Ngân hàng, hoặc giấy bảo lãnh của Ngân hàng.
- Bản kết luận giám định chất lượng về các hư hỏng công trình trong thời hạn bảo hành của tổ chức Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (nếu có).
- Bản nghiệm thu phần đã sửa chữa các hư hỏng công trình của chủ đầu tư với doanh nghiệp xây dựng.
Hồ sơ được lập thành 3 bộ và được lưu trữ tại doanh nghiệp xây dựng, Chủ đầu tư, Ngân hàng nơi quản lý số tiền bảo hành hoặc bảo lãnh.
Trường hợp tranh chấp về việc xác định nguyên nhân hư hỏng công trình, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý là:
- Đối với công trình thuộc dự án nhóm A do Bộ Xây dựng giải quyết;
- Đối với công trình thuộc dự án nhóm B, C do Sở Xây dựng giải quyết.
Điều 11. Trách nhiệm của doanh nghiệp xây dựng khi hết thời hạn bảo hành công trình.
Trường hợp hết hạn bảo hành công trình mới phát sinh sự cố do việc xây lắp có sai phạm lớn về kỹ thuật, làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng công trình hoặc gây hư hỏng nặng, sập đổ bộ phận công trình thì doanh nghiệp xây dựng vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật theo quy định tại điểm 2 điều 33 và điểm 2 Điều 57 của Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ.
1. Quy chế này thay thế Quy chế bảo hành công trình ban hành kèm theo Quyết định số 535/BXD-GD ngày 14/12/1994 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
2. Quy chế này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
- 1 Quyết định 13-UBXD về Quy chế bảo hành xây lắp công trình do Chủ nhiệm Ủy ban xây dựng cơ bản Nhà nước ban hành
- 2 Quyết định 21/2000/QĐ-BXD công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
- 3 Công văn 987/BXD-KTXD năm 2015 về hướng dẫn thời hạn bảo hành công trình xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành
- 1 Nghị định 15-CP năm 1994 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng
- 2 Nghị định 42-CP năm 1996 ban hành điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng
- 3 Quyết định 13-UBXD về Quy chế bảo hành xây lắp công trình do Chủ nhiệm Ủy ban xây dựng cơ bản Nhà nước ban hành
- 4 Quyết định 21/2000/QĐ-BXD công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
- 5 Công văn 987/BXD-KTXD năm 2015 về hướng dẫn thời hạn bảo hành công trình xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành