Tóm tắt Quyết định 53/2002/UB-QĐ về sửa đổi chính sách phát triển cây chè tỉnh Lạng Sơn
Quyết định số 53/2002/UB-QĐ được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số nội dung quan trọng của Quyết định số 60/1999/QĐ-UB, tập trung vào việc điều chỉnh chính sách hỗ trợ tài chính, kỹ thuật và phát triển các vùng sản xuất, chế biến chè tập trung trên địa bàn tỉnh. Dưới đây là nội dung chi tiết của quyết định:
- Sửa đổi chính sách hỗ trợ vốn và phát triển sản xuất, chế biến chè
Quyết định thực hiện sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 3 của Quyết định số 60/1999/QĐ-UB với các quy định cụ thể sau:
- Hỗ trợ lãi suất vay vốn: Các hộ sản xuất thực hiện vay vốn từ nguồn tín dụng đầu tư hoặc từ các Ngân hàng thương mại để phục vụ việc trồng mới và chế biến chè trong vùng chè tập trung theo đúng quy hoạch của tỉnh sẽ được ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% (năm mươi phần trăm) lãi suất vay thông thường tại mọi thời điểm.
- Tuân thủ quy trình kỹ thuật: Việc sản xuất và chế biến chè của các hộ vay vốn phải dựa trên quy trình kỹ thuật sản xuất chè do Xí nghiệp Nông Công nghiệp (XNNCN) chè Thái Bình công bố bằng văn bản.
- Mở rộng giống chè mới: Đối với các giống chè mới đang được khảo nghiệm tại XNNCN chè Thái Bình, khi đã có kết luận đủ tiêu chuẩn và phù hợp với vùng sinh thái thì được phép đưa vào mở rộng sản xuất đại trà.
- Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
- Hiệu lực thi hành: Quyết định này chính thức có hiệu lực áp dụng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2002.
- Trách nhiệm thi hành: Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các sở, ban, ngành hữu quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện và Giám đốc Xí nghiệp Nông Công nghiệp chè Thái Bình chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
| ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 53/2002/UB-QĐ | Lạng Sơn, ngày 13 tháng 11 năm 2002 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ TỈNH LẠNG SƠN (BAN HÀNH THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 60/1999/QĐ-UB NGÀY 13/10/1999 CỦA UBND TỈNH LẠNG SƠN).
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21 /6/1994.
Căn cứ Quyết định số 60/1999/ QĐ-UB ngày 13/10/1999 của UBND tỉnh về việc ban hành Chính sách phát triển cây Chè tỉnh Lạng Sơn.
Xét Tờ trình số 566 NN/KT ngày 12 /7/2002 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 điều 3 đầu tư phát triển sản xuất, chế biến chè như sau:
“- Dựa vào quy trình kỹ thuật sản xuất chè do Xí nghiệp Nông Công nghiệp (XNNCN) chè Thái Bình công bố bằng văn bản, hộ sản xuất vay vốn từ nguồn tín dụng đầu tư, vay vốn từ các Ngân hàng thương mại để trồng mới và chế biến trong vùng chè tập trung theo quy hoạch của tỉnh, được ngân sách tỉnh chi hỗ trợ 50% (năm mươi phần trăm) lãi suất vay thông thường tại mọi thời điểm.
- Các giống chè mới đang được khảo nghiệm tại XNNCN chè Thái Bình đã có kết luận đủ tiêu chuẩn, phù hợp vùng sinh thái được mở rộng sản xuất đại trà.”
Điều 2: Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 01-01-2002.
Điều 3: Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các sở, ban, ngành hữu quan, Chủ tịch UBND các huyện, Giám đốc XNNCN chè Thái Bình chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận: | TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN |
- 1 Quyết định 6098/QĐ-UBND năm 2013 phê duyệt “Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ Chè an toàn thành phố Hà Nội đến năm 2016, định hướng đến năm 2020”
- 2 Quyết định 674/QĐ-UBND năm 2014 duyệt cấp kinh phí hỗ trợ chương trình phát triển chè năm 2013 do tỉnh Phú Thọ ban hành
- 3 Quyết định 1010/QĐ-UBND năm 2007 bãi bỏ văn bản quy định về cơ chế chính sách do tỉnh Lạng Sơn ban hành
- 4 Chỉ thị 04/CT-UBND năm 2014 tăng cường chỉ đạo phát triển sản xuất, tiêu thụ chè an toàn, bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
- 1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1994
- 2 Quyết định 6098/QĐ-UBND năm 2013 phê duyệt “Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ Chè an toàn thành phố Hà Nội đến năm 2016, định hướng đến năm 2020”
- 3 Quyết định 674/QĐ-UBND năm 2014 duyệt cấp kinh phí hỗ trợ chương trình phát triển chè năm 2013 do tỉnh Phú Thọ ban hành
- 4 Chỉ thị 04/CT-UBND năm 2014 tăng cường chỉ đạo phát triển sản xuất, tiêu thụ chè an toàn, bền vững trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh