Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Quyết định 531-TTg được ban hành vào năm 1996 bởi Thủ tướng Chính phủ nhằm quy định thống nhất về công tác quản lý, điều hành và thực hiện các Chương trình Quốc gia. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc quản lý ngân sách, phân bổ nguồn lực và phối hợp liên ngành trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của đất nước.

Phạm vi và đối tượng áp dụng của Quyết định

Quyết định này áp dụng đối với các Bộ, Ủy ban Quốc gia, Tổng cục, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Ban chủ nhiệm chương trình, Ban chỉ đạo địa phương và các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình đề xuất, xây dựng, thẩm định, thực hiện và quản lý các Chương trình Quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước hoặc các nguồn vốn huy động hợp pháp khác.

Khái niệm và tiêu chuẩn lựa chọn Chương trình Quốc gia

  • Khái niệm Chương trình Quốc gia: Là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, môi trường, cơ chế chính sách và tổ chức nhằm thực hiện một hoặc một số mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong một khoảng thời gian nhất định. Chương trình gồm nhiều dự án thành phần; trong đó, đối tượng quản lý và kế hoạch hóa được xác định theo chương trình, còn đầu tư được thực hiện cụ thể theo từng dự án.
  • Khái niệm Dự án thuộc chương trình: Là tập hợp các hoạt động cụ thể nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu xác định của chương trình, hoạt động này được giới hạn bởi một khoản ngân sách và thời hạn thực hiện rõ ràng.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn chương trình: Phải giải quyết các vấn đề cấp bách, có tính chất liên ngành, liên vùng và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của quốc gia; mục tiêu của chương trình phải rõ ràng, có khả năng lượng hóa và nằm trong chiến lược chung; thời gian thực hiện phải có giới hạn xác định, thông thường là 5 năm hoặc được phân kỳ theo từng giai đoạn 5 năm.

Quy trình xây dựng, thẩm định và phê duyệt Chương trình Quốc gia

  • Đề xuất danh mục: Căn cứ vào kế hoạch trung hạn hoặc dài hạn, các Bộ, Ủy ban Quốc gia, Tổng cục đề xuất các vấn đề bức xúc cần giải quyết gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính lựa chọn, lập danh mục chương trình và dự kiến cơ quan quản lý để trình Chính phủ xem xét, trình Quốc hội quyết định theo từng kỳ kế hoạch.
  • Tổ chức xây dựng chương trình: Cơ quan được giao quản lý chương trình chịu trách nhiệm phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cùng các Bộ, ngành, địa phương liên quan tiến hành xây dựng chương trình vào giai đoạn lập kế hoạch ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn.
  • Nội dung cốt lõi của chương trình: Phải bao gồm đánh giá thực trạng lĩnh vực; luận chứng tính cấp bách; xác định phạm vi, quy mô, mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể theo thời gian; xác định tổng mức vốn và phương án huy động vốn theo từng năm; đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội; đề xuất phương án lồng ghép; lập kế hoạch tiến độ thực hiện và nội dung hợp tác quốc tế (nếu có).
  • Thẩm định và phê duyệt: Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tổ chức thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chương trình chỉ được đưa vào kế hoạch chính thức sau khi đã được phê duyệt.

Cơ chế lồng ghép, điều chỉnh và chế độ báo cáo

  • Nguyên tắc lồng ghép: Việc lồng ghép mục tiêu, hoạt động và tổ chức giữa các chương trình nhằm tránh trùng lặp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Cơ quan quản lý chương trình đề xuất nội dung lồng ghép; Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Bộ Tài chính kiến nghị phương án lồng ghép và phân bổ vốn trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức lồng ghép trên địa bàn địa phương.
  • Điều chỉnh chương trình: Khi có sự thay đổi về điều kiện cân đối hoặc mục tiêu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và cơ quan quản lý chương trình phải trình Chính phủ phương án điều chỉnh, trong đó nêu rõ đánh giá phần đã thực hiện, lý do điều chỉnh, nội dung điều chỉnh và ảnh hưởng của việc điều chỉnh đến mục tiêu cuối cùng.
  • Chế độ báo cáo và nghiệm thu: Cơ quan quản lý chương trình và UBND cấp tỉnh phải báo cáo định kỳ hàng quý, hàng năm về tình hình thực hiện và kinh phí gửi Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Phải tổ chức đánh giá giữa kỳ đối với chương trình 5 năm. Khi kết thúc, cơ quan quản lý chủ trì đánh giá, nghiệm thu và lập báo cáo tổng kết trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Cơ chế tài chính đối với Chương trình Quốc gia

  • Cân đối ngân sách: Hàng năm, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất mức cân đối ngân sách cho từng chương trình trong dự toán ngân sách Nhà nước trình Chính phủ để trình Quốc hội quyết định.
  • Phân bổ và cấp phát vốn: Trên cơ sở ngân sách được duyệt, cơ quan quản lý chương trình dự kiến mức phân bổ gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Kinh phí từ ngân sách Trung ương được Bộ Tài chính cấp trực tiếp cho các Bộ, ngành (đối với dự án do Trung ương quản lý) hoặc cấp ủy quyền qua Sở Tài chính - Vật giá (đối với dự án do địa phương quản lý).
  • Huy động nguồn lực xã hội: Ngoài ngân sách nhà nước, khuyến khích huy động vốn tín dụng trong và ngoài nước, đóng góp của tổ chức, cá nhân. Nguồn vốn huy động từ nhân dân phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích và thực hiện thanh quyết toán theo quy định tài chính hiện hành.

Phân công trách nhiệm quản lý và điều hành

  • Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính giúp Thủ tướng Chính phủ thẩm định, lồng ghép, quản lý, điều hành, kiểm tra và đánh giá chương trình; lập danh mục chương trình trình Chính phủ; phối hợp đề xuất mức phân bổ kinh phí.
  • Bộ Tài chính: Chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân bổ kinh phí ngân sách; thực hiện cấp phát vốn theo kế hoạch; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định tài chính - kế toán; tổng hợp tình hình cấp phát và duyệt quyết toán kinh phí khi chương trình kết thúc.
  • Cơ quan quản lý Chương trình Quốc gia: Chủ trì xây dựng chương trình, dự án; thành lập Ban chủ nhiệm chương trình (do một lãnh đạo Bộ làm Chủ nhiệm, thành viên gồm đại diện kế hoạch, tài vụ) để tổ chức thực hiện và giải thể khi kết thúc; quản lý, phân bổ kinh phí, tổ chức công tác kế toán và thực hiện quyết toán với Bộ Tài chính, chịu sự kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Đối với chương trình đặc biệt quan trọng, thành phần Ban chủ nhiệm do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Tham gia xây dựng và quản lý chương trình trên địa bàn; kiến nghị thay đổi mục tiêu dự án nếu không phù hợp thực tế địa phương; tạo điều kiện lồng ghép và triển khai thực hiện; thành lập Ban chỉ đạo địa phương do lãnh đạo UBND tỉnh làm Trưởng ban, Sở Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối thường trực để điều hành chương trình.

Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp

Quyết định 531-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 9 năm 1996. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ liên quan ban hành hướng dẫn thực hiện quyết định này. Đối với các Chương trình Quốc gia đang triển khai thực hiện nhưng chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn hoặc chưa hoàn thiện các thủ tục theo quy định tại Quyết định này, cơ quan quản lý phải tiến hành hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt lại. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 531-TTg

Hà Nội, ngày 08 tháng 8 năm 1996

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ QUẢN LÝ CÁC CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Nhằm tăng cường quản lý các Chương trình Quốc gia;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

QUYẾT ĐỊNH:

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.- Chương trình Quốc gia là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, môi trường, cơ chế chính sách, tổ chức để thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước trong một thời gian nhất định.

Một Chương trình Quốc gia gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiện các mục tiêu của chương trình. Đối tượng quản lý và kế hoạch hoá được xác định theo chương trình, đầu tư được thực hiện theo dự án.

Điều 2.- Dự án của Chương trình Quốc gia là một tập hợp các hoạt động để tiến hành một công việc nhất định nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã định rõ trong chương trình với một khoản ngân sách và một thời hạn thực hiện được xác định.

Điều 3.- Tiêu chuẩn lựa chọn Chương trình Quốc gia:

- Các vấn đề được chọn để giải quyết bằng Chương trình Quốc gia phải là những vấn đề có tính cấp bách, liên ngành, liên vùng và có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần phải được tập trung chỉ đạo giải quyết;

- Mục tiêu của Chương trình Quốc gia phải rõ ràng, lượng hoá được và nằm trong chiến lược chung của quốc gia;

- Thời gian thực hiện chương trình phải quy định giới hạn, thường là 5 năm, hoặc phân kỳ thực hiện cho từng giai đoạn 5 năm.

II. XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA

Điều 4.- Căn cứ vào nội dung, nhiệm vụ kế hoạch trung hạn hay dài hạn, các Bộ, Uỷ ban Quốc gia, Tổng cục (sau đây gọi chung là Bộ) đề xuất các vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc cần đưa vào danh mục các Chương trình Quốc gia với Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính lựa chọn, lập danh mục các Chương trình Quốc gia và dự kiến cơ quan quản lý chương trình để Chính phủ xem xét và trình Quốc hội quyết định trong từng kỳ kế hoạch.

Điều 5.- Cơ quan được giao quản lý Chương trình Quốc gia chịu trách nhiệm phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương có liên quan tổ chức xây dựng chương trình. Việc xây chương trình, dự án được tiến hành vào giai đoạn xây dựng kế hoạch ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn. Khi xây dựng kế hoạch hàng năm có thể đề xuất thêm chương trình mới hoặc giảm bớt chương trình đã có.

Điều 6.- Nội dung Chương trình Quốc gia gồm:

- Đánh giá thực trạng tình hình của lĩnh vực mà chương trình sẽ xử lý, luận chứng những vấn đề cấp bách phải giải quyết bằng Chương trình Quốc gia;

- Xác định phạm vi, quy mô và mục tiêu chung của chương trình, các chỉ tiêu cơ bản phải đạt được trong từng khoảng thời gian cụ thể;

- Xác định tổng mức vốn của chương trình, trong đó chia ra mức vốn theo từng năm, phương thức huy động các nguồn vốn;

- Xác định hiệu quả kinh tế - xã hội chung của chương trình và của các dự án đầu tư;

- Đề xuất khả năng lồng ghép với các chương trình khác;

- Kế hoạch, tiến độ tổ chức thực hiện chương trình, dự án;

- Sự hợp tác quốc tế (nếu có).

Điều 7.- Các Chương trình Quốc gia do Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương có liên quan tổ chức thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Chỉ sau khi chương trình đã được phê duyệt mới được thể hiện trong kế hoạch.

Điều 8.- Nguyên tắc lồng ghép hoạt động của các Chương trình Quốc gia được thực hiện như sau:

- Việc lồng ghép các phần liên quan về mục tiêu, các hoạt động và tổ chức giữa các Chương trình Quốc gia nhằm tránh trùng lặp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, được xem xét ngay từ khi đề xuất, xây dựng, bố trí kế hoạch, theo dõi cho đến các giai đoạn thực hiện, đánh giá chương trình;

- Cơ quan quản lý chương trình có trách nhiệm đề xuất nội dung, hình thức, cơ chế lồng ghép với các Chương trình Quốc gia khác;

- Trong quá trình xem xét thẩm định, bố trí vốn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính có trách nhiệm kiến nghị phương án lồng ghép, đồng thời phân bổ vốn cho các hoạt động lồng ghép đó để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định giao nhiệm vụ trong kế hoạch hàng năm cho các Bộ quản lý chương trình;

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tham gia quản lý, tổ chức việc thực hiện và lồng ghép các hoạt động liên quan của các Chương trình Quốc gia trên địa bàn.

Điều 9.- Khi xây dựng kế hoạch hàng năm hoặc kế hoạch 5 năm, nếu các điều kiện cân đối hoặc mục tiêu chương trình có thay đổi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và cơ quan quản lý chương trình phải trình Chính phủ để điều chỉnh chương trình với nội dung sau:

- Đánh giá phần chương trình đã thực hiện;

- Luận chứng về sự cần thiết và lý do điều chỉnh;

- Nội dung điều chỉnh;

- Ảnh hưởng của những điều chỉnh đó đối với mục tiêu cuối cùng của chương trình và hiệu quả của việc điều chỉnh.

Điều 10.- Cơ quan quản lý Chương trình Quốc gia và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện Chương trình Quốc gia phải báo cáo định kỳ (hàng quý và hàng năm) về tình hình thực hiện các mục tiêu, kinh phí v.v... theo mẫu biểu quy định. Cơ quan quản lý chương trình phải phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương liên quan tổ chức đánh giá giữa kỳ đối với các chương trình có thời hạn 5 năm hoặc phân kỳ thực hiện 5 năm. Các báo cáo trên gửi Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.

Bộ quản lý chương trình chịu trách nhiệm chủ trì cùng các Bộ, ngành và địa phương có liên quan đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện Chương trình Quốc gia, làm báo cáo tổng kết hoàn thành chương trình do Bộ quản lý trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

III. CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA:

Điều 11.- Hàng năm trên cơ sở bố trí nhiệm vụ kế hoạch, mục tiêu của các Chương trình Quốc gia, Bộ Tài chính chủ trì cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất mức cân đối ngân sách cho từng Chương trình Quốc gia trong kế hoạch chung về dự toán ngân sách Nhà nước để Chính phủ xem xét và trình Quốc hội quyết định.

Điều 12.- Căn cứ vào mức ngân sách được được duyệt cho từng chương trình, cơ quan quản lý chương trình dự kiến mức phân bổ cho từng Bộ, địa phương để Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp chung vào kế hoạch của Bộ, ngành, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.

Điều 13.- Kính phí để thực hiện Chương trình Quốc gia được bố trí từ ngân sách Trung ương do Bộ Tài chính cấp trực tiếp cho các Bộ, ngành để thực hiện các dự án do Trung ương quản lý, cấp uỷ quyền qua Sở Tài chính vật giá để thực hiện các dự án của chương trình do địa phương quản lý. Việc quản lý chi tiêu và thanh quyết toán kinh phí của các Chương trình Quốc gia được thực hiện theo các quy định hiện hành.

Điều 14.- Để thực hiện các mục tiêu của chương trình, ngoài nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, cần huy động thêm vốn tín dụng trong và ngoài nước, huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân. Đối với nguồn vốn huỵ động được từ nhân dân thì cơ quan quản lý chương trình và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thực hiện chương trình được sử dụng vào các công việc thuộc nội dung chương trình; nhưng phải quản lý và thanh quyết toán theo các quy định hiện hành.

IV. QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA.

Điều 15.- Nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc thẩm định, lồng ghép, quản lý, điều hành, kiểm tra và đánh giá các Chương trình Quốc gia;

- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, căn cứ vào phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, dài hạn của Nhà nước và đề xuất của các Bộ, ngành, địa phương, lựa chọn lập danh mục các Chương trình Quốc gia và cơ quan quản lý chương trình để Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định;

- Cùng với Bộ Tài chính đề xuất mức phân bổ kinh phí ngân sách cho từng Chương trình Quốc gia để tổng hợp vào kế hoạch ngân sách chung của Nhà nước trình Chính phủ.

Điều 16.- Nhiệm vụ của Bộ Tài chính:

- Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân bổ kinh phí ngân sách cho từng Chương trình Quốc gia, tổng hợp, đưa vào kế hoạch ngân sách chung của Nhà nước để Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định.

- Cấp phát kinh phí cho từng chương trình, dự án đã được xét duyệt theo kế hoạch; hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan quản lý Chương trình Quốc gia thực hiện đúng các quy định tài chính - kế toán hiện hành. Tổng hợp tình hình cấp phát kinh phí hàng năm cho từng chương trình và duyệt quyết toán kinh phí Chương trình Quốc gia và các dự án đã kết thúc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Điều 17.- Nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Chương trình Quốc gia: - Các cơ quan quản lý Chương trình Quốc gia có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các Bộ, địa phương có liên quan tổ chức, xây dựng chương trình, dự án theo sự phân công của Chính phủ, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

- Thành lập Ban chủ nhiệm Chương trình Quốc gia để giúp thủ trưởng cơ quan quản lý, tổ chức thực hiện chương trình và giải thể Ban này khi kết thúc chương trình. Chủ nhiệm chương trình là một đồng chí lãnh đạo Bộ, các thành viên gồm đại diện có thẩm quyền của các bộ phận: kế hoạch, tài vụ và các bộ phận có liên quan. Quy chế hoạt động của Ban Chủ nhiệm Chương trình Quốc gia do cơ quan quản lý chương trình quyết định trên cơ sở tuân thủ các quy định tại các Quyết định này;

- Đối với những Chương trình Quốc gia có tầm quan trọng đặc biệt cần có thành viên của các Bộ và địa phương tham gia Ban chủ nhiệm, thành phần Ban chủ nhiệm chương trình và quy chế hoạt động của Ban chủ nhiệm do Thủ tướng Chính phủ quyết định;

- Chịu trách nhiệm quản lý, phân bổ kinh phí và tổ chức công tác kế toán để quản lý nguồn kính phí của chương trình theo đúng chế độ quản lý tài chính của Nhà nước;

- Chịu trách nhiệm quyết toán kinh phí của chương trình với Bộ Tài chính và chịu sự kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà nước theo các quy định hiện hành.

Điều 18.- Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ:

- Tham gia vào việc xây dựng và quản lý các Chương trình Quốc gia trên địa bàn;

- Đề nghị thay đổi mục tiêu dự án của chương trình trên địa bàn khi thấy mục tiêu dự án đó không phù hợp và không sát với tình hình thực tế của địa phương.

- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để chương trình có thể tiến hành tốt, tổ chức lồng ghép và triển khai thực hiện các hoạt động của chương trình trên địa bàn;

- Thành lập Ban chỉ đạo các Chương trình Quốc gia của địa phương để giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc lập kế hoạch, thực hiện và điều hành các Chương trình Quốc gia trên địa bàn. Trưởng ban chỉ đạo là một đồng chí lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các thành viên là đại diện có thẩm quyền của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính - Vật giá và các Sở chuyên ngành. Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối thường trực.

V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 19.- Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 9 năm 1996. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ liên quan hướng dẫn thi hành Quyết định này.

- Các Chương trình Quốc gia đang thực hiện chưa đủ tiêu chuẩn và các thủ tục theo quy định tại Quyết định này, phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Điều 20.- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thực hiện Quyết định này.

 

 

Nguyễn Khánh

(Đã ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 531-TTg năm 1996 về quản lý các chương trình Quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 531-TTg
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 08/08/1996
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Nguyễn Khánh
Ngày công báo: 30/11/1996
Số công báo: Số 22
Ngày hiệu lực: 01/09/1996
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 531-TTg năm 1996 về quản lý các ch...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký