Quyết định số 63/2002/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về công tác phòng, chống lụt, bão và giảm nhẹ thiên tai hàng năm nhằm chủ động ứng phó, hạn chế tối đa thiệt hại về người và tài sản của Nhà nước và nhân dân. Văn bản áp dụng đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên phạm vi cả nước.
Trách nhiệm chung của các Bộ, ngành và địa phương trong công tác phòng, chống thiên tai
- Tổng kết và xây dựng kế hoạch: Tổ chức tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm từ công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả lụt, bão của năm trước để làm cơ sở xây dựng kế hoạch, phương án cho các năm tiếp theo, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ từ cấp tỉnh xuống cấp huyện, xã, đặc biệt chú trọng các vùng trọng điểm, xung yếu.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy: Kiện toàn Ban Chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp, các ngành; tổ chức tập huấn, diễn tập các phương án ứng phó. Tại các địa phương thường xuyên xảy ra lũ, bão, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải trực tiếp làm Trưởng ban Chỉ huy.
- Quán triệt phương châm "4 tại chỗ": Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả phương châm bao gồm: chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; vật tư, phương tiện và kinh phí tại chỗ; hậu cần tại chỗ. Các đơn vị phải phối hợp chặt chẽ, chỉ đạo kịp thời để chủ động ứng phó với các tình huống bất lợi nhất.
- Thông tin liên lạc và trực ban: Bảo đảm mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống cảnh báo, dự báo hoạt động thông suốt trong mọi tình huống; thực hiện nghiêm túc chế độ trực ban 24/24 trong mùa lũ, bão.
- Chế độ báo cáo: Thực hiện báo cáo định kỳ về Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương; chủ động xử lý tình huống theo thẩm quyền và báo cáo ngay Thủ tướng Chính phủ nếu vượt quá thẩm quyền giải quyết.
Trách nhiệm cụ thể của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Các tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ: Hoàn thành kế hoạch tu bổ đê điều trước mùa mưa lũ; kiểm tra, đánh giá chất lượng các tuyến đê, kè, cống để xử lý kịp thời hư hỏng; chuẩn bị đủ lực lượng, vật tư dự phòng và xây dựng phương án di dời, bảo vệ dân cư vùng bãi sông, phương án phân lũ.
- Các tỉnh ven biển Trung Bộ: Xây dựng phương án đối phó với tình huống cực đoan khi lũ, bão và triều cường xảy ra đồng thời; chủ động di dời dân cư vùng trũng, cửa sông, ven biển và vùng sạt lở nguy hiểm đến nơi an toàn.
- Các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long: Xây dựng phương án ứng phó với lũ lớn kéo dài nhiều ngày; bảo vệ sản xuất, cơ sở hạ tầng; điều chỉnh lịch học tập, thi cử phù hợp với mùa lũ. Đối với vùng ngập sâu, phải có phương án sơ tán dân, bảo đảm mỗi hộ gia đình có ít nhất một xuồng để di chuyển và đánh bắt thủy sản; tập trung xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ ổn định lâu dài.
- Các địa phương có hồ chứa nước: Thường xuyên kiểm tra, phát hiện và sửa chữa kịp thời các hư hỏng của hồ đập trước mùa mưa bão; xây dựng phương án bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình và vùng hạ lưu.
- Các tỉnh miền núi, trung du: Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thực hiện tốt công tác dự báo, cảnh báo các vùng có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất, động đất để chủ động di dời người và tài sản.
- Các vùng thường xuyên bị bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt: Theo dõi sát diễn biến thời tiết; tổ chức chằng chống nhà cửa, kho tàng, trường học, bệnh viện; kiên quyết không cho tàu thuyền ra khơi khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới; vận động nhân dân dự trữ lương thực, chất đốt, thuốc men tại hộ gia đình, thôn, xã đủ dùng tối thiểu trong 2 tuần.
Trách nhiệm của các Bộ, ngành Trung ương
- Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương: Tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ điều hành, xử lý kịp thời các tình huống thiên tai; kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương thực hiện công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả.
- Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn: Chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện; phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức công tác tìm kiếm, cứu nạn kịp thời, hiệu quả.
- Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn: Đầu tư, nâng cấp công nghệ dự báo, cảnh báo sớm; cung cấp kịp thời các số liệu phân tích về dòng chảy, mưa, lũ, bão, nước biển dâng cho các cơ quan chức năng và địa phương.
- Bộ Quốc phòng: Bố trí lực lượng, phương tiện sẵn sàng tham gia hộ đê, hộ đập, phân lũ, chậm lũ và ứng cứu khẩn cấp; xác định quân đội là lực lượng chủ lực trong công tác này.
- Bộ Công an: Bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội tại các khu vực xảy ra thiên tai; phối hợp với lực lượng quân đội và địa phương thực hiện cứu hộ, cứu nạn.
- Tổng cục Bưu điện: Ưu tiên bảo đảm mạng thông tin phục vụ công tác chỉ đạo phòng, chống lụt, bão thông suốt trong mọi tình huống.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Đôn đốc các địa phương tu bổ đê điều; xây dựng công trình thủy lợi vượt lũ; bảo đảm an toàn hồ đập do Bộ quản lý; hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ phù hợp để hạn chế thiệt hại.
- Bộ Thuỷ sản: Đảm bảo an toàn cho người và phương tiện nghề cá hoạt động trên biển, trên sông và tại nơi tránh trú bão; quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản ven biển an toàn.
- Bộ Giao thông vận tải: Chuẩn bị lực lượng, vật tư, phương tiện để ứng cứu, khắc phục nhanh các sự cố cầu đường, bảo đảm giao thông thông suốt trên các tuyến huyết mạch.
- Bộ Công nghiệp và Tổng Công ty Điện lực Việt Nam: Điều tiết hợp lý các hồ chứa thủy điện lớn (Hòa Bình, Thác Bà...) để cắt lũ cho hạ du và bảo đảm phát điện; bảo đảm an toàn các khu vực hầm lò khai thác khoáng sản.
- Bộ Thương mại: Phối hợp với các địa phương chuẩn bị nguồn hàng nhu yếu phẩm thiết yếu cung ứng cho nhân dân vùng lũ, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng bị chia cắt.
- Bộ Văn hoá - Thông tin, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam: Tăng cường truyền tin, thông báo chính xác, kịp thời các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai; phổ biến kiến thức, kinh nghiệm phòng, tránh lũ, bão cho nhân dân.
- Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Theo dõi sát tình hình thiên tai để kịp thời đề xuất Thủ tướng Chính phủ các biện pháp hỗ trợ tài chính, vật chất cho các địa phương khắc phục hậu quả.
Ban hành Chỉ thị hàng năm và hiệu lực thi hành
- Ban hành Chỉ thị: Hàng năm, căn cứ vào Quyết định này và diễn biến thực tế của thời tiết, Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, các Bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm ban hành Chỉ thị về công tác phòng, chống lụt, bão, giảm nhẹ thiên tai để tổ chức thực hiện hiệu quả.
- Hiệu lực thi hành: Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 63/2002/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2002 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Tài nguyên nước ngày 20 tháng 5 năm 1998;
Căn cứ Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão đã được sửa đổi, bổ sung ngày 24 tháng 8 năm 2000 và Pháp lệnh đê điều ngày 24 tháng 8 năm 2000;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương,
QUYẾT ĐỊNH :
2. Kiện toàn tổ chức Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão các cấp, các ngành; tổ chức tập huấn, diễn tập các phương án phòng, chống lụt, bão, thiên tai; đối với những địa phương thường xuyên xẩy ra lũ, bão thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp trực tiếp làm Trưởng ban Chỉ huy phòng, chống lụt, bão.
4. Bảo đảm mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống cảnh báo, dự báo hoạt động thông suốt trong mọi tình huống; thực hiện nghiêm túc chế độ trực ban trong mùa lũ, bão.
5. Báo cáo định kỳ về công tác phòng, chống lụt, bão của cơ quan, đơn vị mình gửi Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương; chủ động xử lý, giải quyết theo thẩm quyền khi xảy ra bão, lũ, thiên tai, nếu vượt thẩm quyền phải báo cáo ngay Thủ tướng Chính phủ.
Điều 2. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
1. Các tỉnh thuộc đồng bằng, trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ :
- Phải hoàn thành kế hoạch tu bổ đê điều hàng năm trước mùa mưa lũ, kiểm tra, đánh giá chất lượng từng tuyến đê, xử lý kịp thời mọi hư hỏng của đê, kè, cống; xây dựng phương án hộ đê và cứu hộ đê cho từng tuyến, từng trọng điểm.
- Chuẩn bị đủ lực lượng, phương tiện, vật tư dự phòng để sẵn sàng đối phó với lũ lớn.
- Có kế hoạch, phương án di dời, bảo vệ nhân dân trong vùng bãi sông, chủ động xây dựng phương án phân lũ, đảm bảo hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất về người và tài sản của nhân dân và Nhà nước.
2. Các tỉnh ven biển Trung Bộ xây dựng kế hoạch, phương án đối phó với tình huống bất lợi nhất khi có lũ, bão và triều cường cùng xẩy ra; phải có phương án di dời dân vùng trũng, vùng cửa sông, ven biển và các vùng sạt lở nguy hiểm đến nơi an toàn, có biện pháp chủ động phòng, tránh để giảm nhẹ thiệt hại, từng bước thích nghi, ổn định và phát triển bền vững trong điều kiện thiên tai thường xuyên xẩy ra.
3. Các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long phải xây dựng kế hoạch, phương án và biện pháp đối phó có hiệu quả với lũ lớn và kéo dài trong nhiều ngày; kế hoạch bảo vệ sản xuất, các công trình cơ sở hạ tầng, đảm bảo các hoạt động bình thường cho nhân dân, nhất là vùng ngập sâu; xây dựng kế hoạch học tập, giảng dạy, thi cử ở các trường học phù hợp với điều kiện ngập lũ.
Đối với vùng ngập sâu, chính quyền địa phương phải có phương án cụ thể sơ tán dân; kiểm tra việc chuẩn bị xuồng, đảm bảo mỗi hộ có 01 xuồng làm phương tiện tránh lũ và ngư lưới cụ để đánh bắt thuỷ sản phục vụ đời sống khi bị ngập sâu và kéo dài trong nhiều ngày. Xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ, đảm bảo phát triển bền vững, ổn định lâu dài.
4. Các tỉnh có hồ chứa nước phải thường xuyên kiểm tra, phát hiện các hư hỏng để sửa chữa kịp thời trước mùa lũ, bão; có phương án đảm bảo an toàn cho công trình và dân cư ở vùng hạ lưu.
5. Đối với các tỉnh miền núi, trung du, vùng thường xẩy ra lũ quét, động đất... Uỷ ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo các ngành chuyên môn thực hiện tốt công tác dự báo, cảnh báo các vùng nguy hiểm để có phương án chủ động di dời người và tài sản đến nơi an toàn.
6. Các địa phương vùng thường xuyên bị bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt:
- Theo dõi chặt chẽ tình hình diễn biến của lũ, bão, thiên tai, chủ động tổ chức việc phòng tránh, xây dựng phương án cứu hộ, cứu nạn trước khi thiên tai xảy ra như chằng chống nhà cửa, trường học, bệnh viện, kho tàng v.v..
- Có kế hoạch di dời dân những khu vực ven cửa sông, ven biển, vùng ngập sâu và vùng sạt lở nguy hiểm đến nơi an toàn; kiên quyết không cho tàu thuyền ra khơi khi có bão và áp thấp nhiệt đới đang hoạt động. Có kế hoạch xây dựng nhà ở có kết cấu phù hợp cho việc tránh lũ, bão; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ để hạn chế thiệt hại.
- Các địa phương cần động viên, tổ chức dự trữ các mặt hàng thiết yếu, như lương thực, chất đốt, thuốc men ở từng gia đình, từng thôn, xã, huyện.
- Tổ chức tập huấn, diễn tập cho các lực lượng trực tiếp làm công tác phòng, chống lụt, bão, cứu nạn; chủ động xây dựng phương án đối phó, huy động mọi nguồn lực trên địa bàn theo phương châm "4 tại chỗ" để đối phó và khắc phục hậu quả.
Điều 3. Các Bộ, ngành Trung ương có trách nhiệm :
1. Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương tham mưu giúp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ việc điều hành, xử lý kịp thời, có hiệu quả trong việc đối phó với lũ, bão, thiên tai; kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương thực hiện công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả; chỉ đạo phòng ngừa đối phó với các tình huống khẩn cấp về lũ, bão, thiên tai cho từng vùng.
2. Uỷ ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn có kế hoạch, phương án chuẩn bị lực lượng, phương tiện; phối hợp với Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, các Bộ, ngành có liên quan và các địa phương xây dựng phương án và tổ chức thực hiện công tác tìm kiếm, cứu nạn kịp thời, có hiệu quả.
3. Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn có chương trình, kế hoạch đầu tư, nâng cấp trang bị công nghệ tiên tiến cho hệ thống thông tin, xử lý thông tin chuyên ngành, đảm bảo từng bước nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo để phục vụ tốt cho công tác điều hành, chỉ đạo, chỉ huy phòng ngừa và đối phó có hiệu quả; nhất là việc dự báo sớm khả năng xuất hiện và diễn biến các tình huống phức tạp của lũ, bão, thiên tai; cung cấp kịp thời về các số liệu, các phân tích về dòng chảy, mưa, lũ, bão và nước biển dâng cho Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương và các Bộ, ngành, các địa phương liên quan.
4. Bộ Quốc phòng có kế hoạch, phương án bố trí lực lượng, phương tiện sẵn sàng tham gia hộ đê, hộ đập, phân lũ, chậm lũ; ứng cứu và xử lý các tình huống khẩn cấp và khắc phục hậu quả lũ, bão, thiên tai, đảm bảo quân đội là lực lượng chủ lực trong công tác này.
5. Bộ Công an đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội khi có thiên tai xẩy ra, phối hợp với lực lượng quân đội, các ngành, địa phương tham gia cứu hộ, cứu nạn.
6. Tổng cục Bưu điện có trách nhiệm ưu tiên cho mạng thông tin phòng, chống lụt, bão, đảm bảo thông tin thông suốt trong mọi tình huống, kể cả khi lũ bão đang xẩy ra.
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các địa phương hoàn thành kế hoạch tu bổ đê điều hàng năm; xây dựng các công trình thuỷ lợi theo tiến độ vượt lũ; có phương án bảo vệ an toàn cho các hồ đập và các công trình do Bộ quản lý; phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mùa vụ, bảo vệ sản xuất ở các vùng thường xuyên bị lũ, bão.
8. Bộ Thuỷ sản hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc công tác đảm bảo an toàn cho người và phương tiện nghề cá hoạt động trên biển, trên sông và tại nơi trú ẩn; bảo vệ sản xuất và các công trình nuôi trồng thuỷ sản; chỉ đạo việc quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng ven biển phù hợp với tình hình lũ, bão để hạn chế thiệt hại.
9. Bộ Giao thông vận tải xây dựng kế hoạch cụ thể hàng năm của ngành về bố trí lực lượng, vật tư, phương tiện ứng cứu và thay thế khi cầu, đường có sự cố hư hỏng để đảm bảo thông suốt cho các tuyến giao thông chính, quan trọng; chuẩn bị lực lượng, vật tư, phương tiện để tham gia xử lý khi xẩy ra động đất, các sự cố lớn của đê điều, hồ đập.
10. Bộ Công nghiệp, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam có kế hoạch, phương án điều tiết nước hồ Hoà Bình, hồ Thác Bà và các hồ thuỷ điện khác để bảo đảm kế hoạch phát điện và sẵn sàng tham gia cắt lũ, kế hoạch phát điện và cấp nước cho hạ du trong mùa khô; thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng và sữa chữa kịp thời các hư hỏng của các công trình đầu mối, có biện pháp đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các công trình hồ chứa do ngành quản lý; chỉ đạo công tác đảm bảo an toàn các khu vực hầm lò khai thác khoáng sản.
11. Bộ Thương mại phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trước mùa lũ, bão hàng năm có kế hoạch chuẩn bị các mặt hàng thiết yếu cung ứng cho nhân dân, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng thường xuyên bị ngập sâu và kéo dài; phối hợp với chính quyền địa phương các cấp thực hiện tốt việc dự phòng tại chỗ, từ tháng 7 đến tháng 11 ở mỗi hộ gia đình, mỗi thôn, xã và mỗi huyện phải có lượng dự trữ lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm cần thiết để đủ sử dụng cho thời gian tối thiểu là 2 tuần lễ.
12. Bộ Văn hoá - Thông tin, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam; các cơ quan thông tin, báo chí ở Trung ương và địa phương phải thường xuyên tăng cường công tác truyền tin, thông báo chính xác, kịp thời các thông tin dự báo, cảnh báo về thời tiết, lũ, bão, thiên tai; các chủ trương, mệnh lệnh, chỉ thị về việc phòng, chống và khắc phục hậu quả lũ, bão và các kinh nghiệm, các điển hình trong công tác phòng chống và khắc phục hậu quả. Phối hợp với các cơ quan chuyên môn tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân những kiến thức cơ bản về phòng, tránh lũ, bão, thiên tai.
13. Các Bộ, ngành khác theo chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm tăng cường công tác chỉ đạo, xây dựng kế hoạch hàng năm và tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống lụt, bão của Bộ, ngành mình. Đồng thời phải chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, vật tư và kinh phí để chủ động tham gia phòng, chống và khắc phục hậu quả lụt, bão thiên tai theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương.
|
| Nguyễn Tấn Dũng (Đã ký) |
- 1 Chỉ thị 154/CT-BNN-PCLB thực hiện sự chỉ đạo tại Công điện 1169/CP-NN về việc hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại và chuẩn bị khắc phục những hậu quả do mưa lũ gây ra do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 2 Quyết định 415/2006/QĐ-TTg về việc hỗ trợ kinh phí khắc phục thiệt hại do mưa lũ và sụt lún đất tại Tỉnh Quảng Trị do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3 Chỉ thị 13/2006/CT-TTg về công tác phòng, chống lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai năm 2006 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4 Quyết định 1651/2003/QĐ-BGTVT ban hành Quy chế làm việc của Ban Phòng chống bão lụt Bộ Giao thông vận tải do Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ban hành
- 5 Chỉ thị 04 /2007/CT-BXD về thực hiện công tác phòng chống, giảm nhẹ thiên tai năm 2007 đối với các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
- 6 Chỉ thị 237-CT đẩy mạnh công tác phòng chống lụt, bão năm 1987 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 7 Chỉ thị 06/2000/CT-TTg về công tác phòng chống, lụt bão, giảm nhẹ thiên tai do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 8 Chỉ thị 12/2005/CT-TTg về công tác phòng, chống lụt, bão và tìm kiếm, cứu nạn năm 2005 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1 Chỉ thị 154/CT-BNN-PCLB thực hiện sự chỉ đạo tại Công điện 1169/CP-NN về việc hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại và chuẩn bị khắc phục những hậu quả do mưa lũ gây ra do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 2 Quyết định 415/2006/QĐ-TTg về việc hỗ trợ kinh phí khắc phục thiệt hại do mưa lũ và sụt lún đất tại Tỉnh Quảng Trị do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3 Chỉ thị 13/2006/CT-TTg về công tác phòng, chống lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai năm 2006 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4 Quyết định 1651/2003/QĐ-BGTVT ban hành Quy chế làm việc của Ban Phòng chống bão lụt Bộ Giao thông vận tải do Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ban hành
- 5 Chỉ thị 04 /2007/CT-BXD về thực hiện công tác phòng chống, giảm nhẹ thiên tai năm 2007 đối với các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
- 6 Công văn số 2131/LĐTBXH-BTXH ngày 04/07/2002 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc triển khai thực hiện Quyết định 63/2002/QĐ-TTg
- 7 Chỉ thị 237-CT đẩy mạnh công tác phòng chống lụt, bão năm 1987 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 8 Pháp lệnh Phòng chống lụt bão năm 1993
- 9 Luật Tài nguyên nước 1998
- 10 Chỉ thị 06/2000/CT-TTg về công tác phòng chống, lụt bão, giảm nhẹ thiên tai do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 11 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão năm 2000
- 12 Chỉ thị 12/2005/CT-TTg về công tác phòng, chống lụt, bão và tìm kiếm, cứu nạn năm 2005 do Thủ tướng Chính phủ ban hành