Quyết định 88-HĐBT được ban hành năm 1981 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm quyết định việc thành lập Quỹ nuôi rừng trên phạm vi cả nước. Đây là một chính sách quan trọng thiết lập cơ chế tài chính chuyên biệt để phục vụ trực tiếp cho công tác trồng rừng, tu bổ, cải tạo và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng quốc gia.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Quyết định này áp dụng đối với các cơ quan quản lý lâm nghiệp từ trung ương đến địa phương, các tổ chức, đơn vị khai thác lâm sản, các hợp tác xã, hộ gia đình tham gia hoạt động lâm nghiệp, cùng các cơ quan tài chính, ngân hàng nhà nước có trách nhiệm điều hành, giám sát nguồn tài chính của quỹ.
Mục đích thành lập và nguồn thu của Quỹ nuôi rừng
- Mục đích thành lập: Quỹ nuôi rừng được hình thành như một nguồn tài chính chuyên dùng, tập trung hoàn toàn cho các hoạt động lâm nghiệp cốt lõi bao gồm trồng rừng mới, tu bổ rừng và quản lý bảo vệ rừng.
- Nguồn thu của quỹ: Quỹ được hình thành từ hai nguồn thu chính. Thứ nhất là tiền thu vào các loại sản phẩm khai thác từ rừng (bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng) được gọi là tiền nuôi rừng, khoản thu này thay thế hoàn toàn cho hình thức thu tiền bán khoán lâm sản trước đây. Thứ hai là các khoản tiền phạt và tiền thu được từ việc xử lý các vụ vi phạm quy chế về khai thác, quản lý và bảo vệ rừng.
Quy định về mức thu và cơ chế điều chỉnh tiền nuôi rừng
- Mức thu cơ sở: Quyết định áp dụng mức thu tiền nuôi rừng bình quân là 300 đồng cho mỗi mét khối (m3) gỗ tròn các loại.
- Thời gian áp dụng và điều chỉnh: Mức thu này được áp dụng ổn định trong thời gian kế hoạch 5 năm (từ năm 1981 đến năm 1985). Trong trường hợp có sự thay đổi về giá bán buôn gỗ tròn hoặc xuất hiện các yếu tố biến động kinh tế khác ảnh hưởng đến mức thu, Bộ Lâm nghiệp phối hợp với các Bộ liên quan nghiên cứu, trình Hội đồng Bộ trưởng xem xét quyết định điều chỉnh.
- Phân cấp quy định chi tiết: Liên Bộ Lâm nghiệp - Tài chính có trách nhiệm căn cứ vào mức thu bình quân nêu trên để ban hành quy định mức thu cụ thể cho từng chủng loại gỗ, cũng như mức thu đối với các loại lâm sản và đặc sản khác khai thác từ rừng.
Cơ chế phân bổ nguồn thu giữa Trung ương và địa phương
- Tỷ lệ phân chia: Toàn bộ số tiền thu được từ Quỹ nuôi rừng sẽ được phân chia theo tỷ lệ: nộp 90% về ngân sách Trung ương và giữ lại 10% cho ngân sách cấp tỉnh và cấp huyện.
- Mục tiêu phân bổ địa phương: Phần 10% giữ lại tại địa phương nhằm mục đích khuyến khích, hỗ trợ các tỉnh, huyện tích cực thực hiện công tác trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng tại địa bàn. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định việc phân bổ cụ thể một phần số tiền này cho ngân sách các huyện có rừng.
Quy định về quản lý và các nội dung chi từ Quỹ nuôi rừng
Bộ Lâm nghiệp được giao quyền thống nhất quản lý Quỹ nuôi rừng để chi tiêu cho các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Đầu tư trực tiếp cho công tác trồng rừng mới trên các diện tích đất trống, đồi núi trọc.
- Thực hiện các biện pháp tu bổ, khoanh nuôi tái sinh và cải tạo các khu rừng tự nhiên nghèo kiệt.
- Chi cho công tác quản lý, tuần tra, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng và chống chặt phá rừng trái phép.
- Cấp phát trợ cấp cho các hợp tác xã thực hiện việc trồng rừng tập trung và hỗ trợ phong trào nhân dân trồng cây phân tán.
- Đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản khác phục vụ trực tiếp cho công tác trồng, tu bổ và cải tạo rừng.
Chế độ quản lý tài chính, quyết toán và xử lý tồn dư quỹ
- Tài khoản chuyên dùng: Toàn bộ tiền của Quỹ nuôi rừng phải được gửi vào một tài khoản riêng mở tại Ngân hàng Nhà nước để theo dõi độc lập.
- Lập kế hoạch và quyết toán: Hàng năm, căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước, Bộ Lâm nghiệp có trách nhiệm lập kế hoạch thu, chi quỹ theo đúng quy định pháp luật về quản lý tài chính và quản lý xây dựng cơ bản hiện hành, đồng thời thực hiện quyết toán thu, chi định kỳ với Bộ Tài chính.
- Xử lý số dư cuối năm: Số tiền tồn quỹ cuối năm được phép chuyển một phần làm quỹ dự trữ cho kế hoạch năm sau, với mức dự trữ tối đa không quá 25% kế hoạch chi của năm tiếp theo. Toàn bộ phần tồn quỹ còn lại vượt quá mức dự trữ này phải được Bộ Lâm nghiệp nộp triệt để vào ngân sách Nhà nước.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Quyết định 88-HĐBT chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1981. Tất cả các quy định trước đây trái với quyết định này đều bị bãi bỏ. Các Bộ: Lâm nghiệp, Tài chính và Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành. Các Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp, Bộ Tài chính, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 88-HĐBT | Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 1981 |
QUYẾT ĐỊNH
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 88-HĐBT NGÀY 24-9-1981 VỀ VIỆC LẬP QUỸ NUÔI RỪNG
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Để tạo điều kiện đẩy mạnh tốc độ phát triển trồng rừng, tu bổ rừng và tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng;
Để thực hiện phương châm lấy rừng nuôi rừng;
Căn cứ đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp và Bộ trưởng Bộ Tài chính;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 2: Nguồn thu của quỹ nuôi rừng gồm:
- Tiền thu vào các loại sản phẩn lấy từ rừng (kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng) gọi là tiền nuôi rừng, thay cho khoản thu tiền bán khoán lâm sản hiện nay,
- Tiền phạt và tiền thu được khi xử lý những vụ vi phạm quy chế về khai thác và quản lý rừng.
Điều 3: Mức thu tiền nuôi rừng bình quân cho 1 m3 gỗ tròn các loại là 300 đồng.
Mức thu này được áp dụng trong thời gian kế hoạch 5 năm 1981 - 1985, khi nào có sự thay đổi giá bán buôn gỗ tròn hoặc nảy sinh các yếu tố khác có liên quan đến mức thu tiền nuôi rừng thì Bộ Lâm Nghiệp cùng với các Bộ có liên quan xem xét và trình Hội đồng Bộ trưởng Quyết định thay đổi mức thu tiền nuôi rừng.
Điều 5: Quỹ nuôi rừng do Bộ Lâm nghiệp thống nhất quản lý để chi vào những việc sau đây:
- Đầu tư trồng rừng mới.
- Tu bổ và cải tạo rừng tự nhiên.
- Quản lý và bảo vệ rừng.
- Trợ cấp cho các hợp tác xã trồng rừng tập trung và phong trào nhân dân trồng cây.
- Công tác xây dựng cơ bản khác có liên quan đề công tác trồng rừng, tu bổ và cải tạo rừng.
Điều 6: Quỹ nuôi rừng được gửi vào một tài khoản riêng tại Ngân hàng Nhà nước.
- Căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước hàng năm, Bộ Lâm nghiệp lập kế hoạch thu, chi quỹ nuôi rừng theo đúng Quyết định này và theo đúng các chế độ quản lý tài chính và quản lý xây dựng cơ bản hiện hành; làm quyết toán thu, chi với Bộ Tài chính.
- Tồn quỹ nuôi rừng cuối năm được chuyển một phần làm quỹ dự trữ cho kế hoạch năm sau. Mức dự trữ này không quá 25% kế hoạch chi của năm kế hoạch. Phần tồn quỹ còn lại, Bộ Lâm nghiệp phải nộp hết vào ngân sách Nhà nước.
Các Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp, Bộ Tài chính, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước và các đồng chí Chủ tịch Uỷ Ban Nhân dân các tỉnh chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Tố Hữu (Đã ký) |
- 1 Quyết định 116-HĐBT năm 1988 về việc sửa đổi mức thu tiền nuôi rừng và phương thức quản lý, sử dụng tiền nuôi rừng do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Quyết định 207-HĐBT năm 1991 huỷ bỏ các văn bản pháp luật do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Quyết định 55-HĐBT năm 1982 về việc giảm mức thu tiền nuôi rừng do Hội đồng Bộ trưởng ban hành