Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Sắc lệnh số 230/SL do Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký ban hành quy định về việc thành lập Khu tự trị Thái - Mèo. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc xây dựng chính quyền tự trị của đồng bào các dân tộc thiểu số tại vùng Tây Bắc, bảo đảm quyền bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ Trung ương.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Sắc lệnh áp dụng đối với toàn bộ địa bàn thuộc Khu tự trị Thái - Mèo, bao gồm các cơ quan chính quyền địa phương, lực lượng vũ trang địa phương, các bộ, ngành ở Trung ương và toàn thể nhân dân các dân tộc (bao gồm người Thái, người Mèo, người Kinh và các dân tộc thiểu số khác) sinh sống, làm việc trong phạm vi Khu tự trị.

Tổ chức bộ máy chính quyền Khu tự trị

  • Chế độ tổ chức: Chính quyền Khu tự trị được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ tập trung, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân dưới sự chỉ đạo thống nhất.
  • Cơ cấu bộ máy: Bộ máy chính quyền bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. Thành phần của Hội đồng nhân dân phải bảo đảm có đầy đủ đại biểu đại diện cho các dân tộc sinh sống tại địa phương. Khi bầu cử Ủy ban hành chính, cần có sự chiếu cố hợp lý đến các dân tộc ít người để bảo đảm quyền lợi chính trị của họ.
  • Thành lập vùng tự trị nhỏ hơn: Tại những khu vực trong Khu tự trị có một dân tộc thiểu số khác sinh sống tập trung, sẽ tiến hành thành lập vùng tự trị riêng của dân tộc đó. Chính quyền vùng tự trị này sẽ trực thuộc cấp khu hoặc cấp châu tùy thuộc vào quy mô diện tích và dân số.
  • Quy chế đối với người Kinh: Tại những nơi có người Kinh sinh sống tập trung trong Khu tự trị, sẽ không thành lập vùng tự trị riêng mà tổ chức chính quyền theo chế độ hành chính chung của toàn quốc. Cấp thị trấn và xã do cấp châu trực tiếp chỉ đạo, cấp bản sẽ thuộc quyền quản lý của chính quyền xã.

Quyền lợi tự trị về chính trị và quân sự

  • Quyền bình đẳng chính trị: Nhân dân các dân tộc trong Khu tự trị được hưởng đầy đủ các quyền tự do dân chủ, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ như mọi công dân khác trên toàn quốc. Công dân có quyền bầu cử, ứng cử vào Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tham gia vào các cơ quan của Khu tự trị cũng như các cơ quan của Chính phủ Trung ương dựa trên tài đức và sự tín nhiệm.
  • Đào tạo cán bộ: Chính quyền Khu tự trị được quyền chủ động mở các trường huấn luyện, cử người đi học để đào tạo đội ngũ cán bộ chính trị, quân sự và chuyên môn kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương.
  • Quyền ban hành luật lệ riêng: Trên cơ sở luật pháp chung của cả nước và đặc thù địa phương, chính quyền Khu tự trị có quyền xây dựng và ban hành các luật lệ riêng. Tuy nhiên, các luật lệ này chỉ có hiệu lực thi hành sau khi được Chính phủ Trung ương phê duyệt.
  • Tổ chức lực lượng vũ trang và an ninh: Khu tự trị được phép tổ chức bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng công an riêng để bảo vệ an ninh, trật tự trị an. Các lực lượng này chủ yếu tuyển chọn từ người dân tộc bản địa. Bộ đội địa phương và dân quân du kích là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự chỉ huy của Bộ Quốc phòng; lực lượng công an thuộc hệ thống công an toàn quốc dưới sự chỉ đạo của Bộ Công an.

Quyền lợi tự trị về văn hóa và xã hội

  • Tự do tín ngưỡng và phong tục tập quán: Mỗi dân tộc có quyền tự do tín ngưỡng, giữ gìn hoặc cải tiến phong tục, tập quán của mình. Việc cải tiến phong tục phải dựa trên sự tự nguyện của đại đa số nhân dân và ý kiến của những người có uy tín, tuyệt đối nghiêm cấm việc dùng mệnh lệnh hành chính cưỡng ép.
  • Ngôn ngữ và chữ viết: Chữ Thái và chữ quốc ngữ đều được sử dụng song song trong các hoạt động hành chính, giáo dục và tuyên truyền tùy thuộc vào tính tiện lợi thực tế. Các dân tộc chưa có chữ viết riêng sẽ được nghiên cứu phương án phiên âm tiếng nói. Tất cả các dân tộc đều có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết riêng của mình.
  • Phát triển hạ tầng xã hội: Chính quyền Khu tự trị có thẩm quyền thành lập trường học, bệnh viện, nhà thương và các cơ sở văn hóa, xã hội để nâng cao đời sống tinh thần và sức khỏe cho nhân dân.

Quyền tự trị về kinh tế và tài chính

  • Quản lý tài chính: Trong khuôn khổ hệ thống tài chính thống nhất toàn quốc, Khu tự trị được quyền tự quản lý thu, chi ngân sách địa phương. Khu tự trị có nghĩa vụ trích một phần nguồn thu đóng góp vào ngân sách trung ương; ngược lại, Chính phủ Trung ương sẽ cấp ngân sách hỗ trợ khi cần thiết. Dự toán ngân sách hàng năm của Khu tự trị phải được Chính phủ Trung ương duyệt y.
  • Phát triển kinh tế: Khu tự trị được phép xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế riêng phù hợp với đặc thù địa phương, nhưng phải nằm trong định hướng và kế hoạch xây dựng kinh tế chung của cả nước.

Nguyên tắc chỉ đạo của Chính phủ Trung ương đối với Khu tự trị

  • Tôn trọng quyền tự trị: Các bộ, ngành ở Trung ương có trách nhiệm tôn trọng và hỗ trợ tối đa việc thực hiện các quyền tự trị của Khu tự trị Thái - Mèo.
  • Áp dụng chính sách linh hoạt: Khi đề ra các chủ trương công tác, các cơ quan trung ương phải nghiên cứu kỹ đặc điểm, tình hình cụ thể của địa phương để bảo đảm chính sách vừa đúng đường lối chung vừa phù hợp với thực tiễn Khu tự trị.
  • Hỗ trợ toàn diện: Trung ương có trách nhiệm giúp đỡ chính quyền địa phương phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nguồn tại chỗ.
  • Giáo dục tinh thần đoàn kết: Chính phủ Trung ương thực hiện giáo dục nhân dân xây dựng tinh thần bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, kiên quyết bài trừ tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi.

Hiệu lực thi hành

Sắc lệnh số 230/SL có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng các bộ ngành liên quan chịu trách nhiệm thi hành Sắc lệnh này và bản quy định kèm theo.

SẮC LỆNH

CỦA CHỦ TỊCH PHỦ SỐ 230-SL NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 1955

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Chiểu theo nghị quyết của Quốc hội trong khoá họp thứ 4 về chính sách lập khu vực tự trị của các dân tộc ở những vùng có điều kiện,

Chiểu sắc lệnh số 229-SL ngày 29 tháng 4 năm 1955 về chính sách dân tộc,

Theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ,

RA SẮC LỆNH

Điều 1: Nay ban hành bản quy định việc thành lập khu Tự trị Thái - Mèo.

Điều 2: Thủ tướng Chính phủ, các Bộ chiểu theo sắc lệnh này mà thi hành bản quy định nói trên.

 

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

QUY ĐỊNH

VIỆC THÀNH LẬP KHU TỰ TRỊ THÁI - MÈO
(Do sắc lệnh số 230-SL ngày 29-4-1955 của Chủ tịchnước Việt Nam dân chủ cộng hoà ban hành)

Chương 1 :

TÊN KHU TỰ TRỊ, ĐỊA GIỚI, ĐỊA VỊ HÀNH CHÍNH.

Điều 1: Để tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc và tạo điều kiện cho các dân tộc ở Tây bắc tiến bộ mau chóng về mọi mặt, nay lập trong phạm vi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khu vực tự trị của các dân tộc ở Tây bắc, gọi là Khu tự trị Thái - Mèo.

Điều 2: Khu tự trị Thái - Mèo phía Bắc giáp với Trung Quốc, phía Tây và phía Nam giáp Lào, phía Đông-Nam giáp vùng Mường Hoà Bình, phía Đông có dãy núi Phan-si-pan ngăn cách với các dân tộc tập trung ở lưu vực sông Hồng; Khu tự trị bao gồm 16 châu: Mường-tè, Mường-lay, Sình-hồ, Điện-biên, Quỳnh-nhai, Sông Mã, Tuần-giáo, Thuận-châu, Mường-la, Mai-sơn, Yên-châu, Mộc-châu, Phù-yên (tức là toàn bộ hai tỉnh Sơn La, Lai Châu), Phong-thổ (Lao-cai), Than-Uyên, Văn-chấn (Yên Bái). Địa giới định trên đây sau này có thể điều chỉnh lại ít nhiều tuỳ theo nguyện vọng và lợi ích của các dân tộc.

Điều 3: Khu tự trị Thái - Mèo là một bộ phận Của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chính quyền khu tự trị là một cấp chính quyền địa phương, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ trung ương. Chính quyền và nhân dân khu tự trị phải tuân theo đường lối, chính sách chung của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, mà quản lý những việc trong khu tự trị.

Chương 2:

TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN KHU TỰ TRỊ

Điều 4: Hệ thống tổ chức chính quyền Khu tự trị Thái Mèo có 3 cấp: Khu, Châu và Xã (bỏ cấp tỉnh). Xã là đơn vị hành chính thấp nhất.

Điều 5: Chính quyền Khu tự trị tổ chức theo chế độ dân chủ tập trung.

Điều 6: Bộ máy chính quyền Khu tự trị gồm: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính. Tuỳ theo sự cần thiết sẽ tổ chức các ngành chuyên môn giúp việc. Thành phần Hội đồng nhân dân phải có đủ đại biểu các dân tộc; cần chiếu cố đến các dân tộc ít người khi bầu cử Uỷ ban hành chính.

Điều 7: Trong khu tự trị Thái Mèo, nơi nào có một dân tộc thiểu số khác ở tập trung sẽ thành lập vùng tự trị của dân tộc đó. Chính quyền vùng tự trị này sẽ trực tiếp với cấp khu hay là cấp châu, tuỳ theo vùng đó to hay nhỏ.

Điều 8: Trong Khu tự trị, những nơi có người Kinh ở tập trung, thì không lập vùng tự trị, mà tổ chức chính quyền theo chế độ chung trong toàn quốc. Nếu là thị trấn và xã thì chính quyền ấy do cấp châu chỉ đạo. Nếu là bản thì thuộc chính quyền xã.

Chương 3:

THỰC HIỆN QUYỀN LỢI TỰ TRỊ VỀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ

Điều 9: Các dân tộc trong khu tự trị Thái Mèo được hưởng mọi quyền tự do dân chủ, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ như các dân tộc khác trong toàn quốc.

Khi có Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhân dân các dân tộc trong Khu tự trị có quyền bầu cử và ứng cử.

Người các dân tộc trong Khu tự trị tuỳ theo tài đức của mình và sự tín nhiệm của nhân dân, có thể tham gia các cơ quan của khu tự trị, và các cơ quan của Chính phủ Trung ương.

Điều 10: Chính quyền Khu tự trị có quyền mở trường huấn luyện, cử người đi học, v.v... để đào tạo cán bộ chính trị, quân sự và chuyên môn cần thiết cho mọi mặt công tác trong khu tự trị.

Điều 11: Dựa trên luật pháp chung của nước nhà, và căn cứ vào tình hình đặc biệt ở địa phương, chính quyền khu tự trị được quyền quy định những luật lệ riêng. Những luật lệ riêng nay sau khi được Chính phủ Trung ương thông qua mới thi hành.

Điều 12: Dưới chế độ quân sự thống nhất của nước nhà, chính quyền Khu tự trị được tổ chức bộ đội địa phương, dân quân du kích và công an Khu tự trị, để bảo vệ an toàn của Khu tự trị và giữ gìn trật tự trong Khu. Bộ đội địa phương, dân quân du kích và công an Khu tự trị chủ yếu phải lấy người các dân tộc của Khu tự trị mà tổ chức nên. Bộ đội địa phương và dân quân du kích Khu tự trị là những bộ phận trong Quân đội nhân dân Việt Nam, thuộc quyền chỉ đạo tối cao của Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh. Công an Khu tự trị là một bộ phận trong tổ chức công an toàn quốc thuộc quyền chỉ đạo của Bộ Công an.

VỀ VĂN HOÁ XÃ HỘI

Điều 13: Mỗi dân tộc trong khu tự trị có quyền tự do tín ngưỡng và có quyền giữ gìn hoặc cải thiện phong tục, tập quán của mình. Những cải thiện về phong tục, tập quán ở một dân tộc nào, đều phải căn cứ vào ý nguyện của đại đa số nhân dân dân tộc đó và ý kiến của những người có uy tín trong nhân dân. Tuyệt đối không được mệnh lệnh cưỡng ép.

Điều 14: Chữ Thái và chữ quốc ngữ đều dùng trong công việc hành chính, tuyên truyền, giáo dục (trường hợp nào chữ Thái tiện thì dùng chữ Thái; trường hợp nào dùng chữ quốc ngữ tiện thì dùng chữ quốc ngữ). Đối với các dân tộc không có chữ riêng, sẽ nghiên cứu cách phiên âm tiếng nói của các dân tộc đó.

Các dân tộc đều có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong mọi việc.

Điều 15: Chính quyền Khu tự trị có quyền lập trường học, mở nhà thương, và tổ chức những cơ quan văn hoá, xã hội, v.v... của các dân tộc trong khu tự trị.

VỀ KINH TẾ TÀI CHÍNH:

Điều 16: Dưới chế độ tài chính thống nhất của nước nhà, chính quyền khu tự trị được quyền quản lý nền tài chính trong khu tự trị, tức là tự quản lý thu, chi trong khu tự trị. Khu tự trị sẽ trích một phần trong số thu của mình để đóng góp vào ngân sách toàn quốc; lúc cần thiết Chính phủ Trung ương sẽ trích một phần trong ngân sách toàn quốc để trợ cấp cho Khu tự trị. Ngân sách hàng năm của Khu tự trị do Chính phủ Trung ương duyệt y.

Điều 17: Dưới chế độ kinh tế và theo kế hoạch xây dựng kinh tế chung của nước nhà, khu tự trị sẽ có kế hoạch kinh tế riêng để phát triển nền kinh tế của khu, hợp với hoàn cảnh và điều kiện riêng của Khu tự trị.

Chương 4:

NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO CỦA CHÍNH PHỦ TRUNG ƯƠNGĐỐI VỚI KHU TỰ TRỊ

Điều 18: Các ngành ở Trung ương phải tôn trọng quyền lợi tự trị của Khu tự trị Thái Mèo và giúp đỡ thực hiện những quyền lợi tự trị đó.

Điều 19: Các ngành ở Trung ương phải chú ý đến những đặc điểm và tình hình cụ thể của Khu tự trị để đề ra chủ trương công tác vừa phù hợp với đường lối chính sách chung của Chính phủ, vừa thích hợp với đặc điểm và tình hình riêng của Khu tự trị.

Điều 20: Các ngành ở Trung ương phải giúp đỡ chính quyền Khu tự trị phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; giúp đỡ trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ địa phương.

Điều 21: Chính phủ Trung ương phải giáo dục và giúp đỡ nhân dân các dân tộc xây dựng quan điểm bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ lẵn nhau giữa các dân tộc, tẩy trừ tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi.

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Sắc lệnh số 230/SL về việc ban hành quy định thành lập Khu tự trị Thái Mèo do Chủ tịch nước ban hành

Số hiệu: 230/SL
Loại văn bản: Sắc lệnh
Ngày ban hành: 29/04/1955
Nơi ban hành: Chủ tịch nước
Người ký: Hồ Chí Minh
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 14/05/1955
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Sắc lệnh số 230/SL về việc ban hành quy định...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký