Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Sắc lệnh số 282/SL về chế độ báo chí do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký ban hành nhằm mục đích bảo đảm quyền tự do ngôn luận của nhân dân trên báo chí, đồng thời ngăn chặn các hành vi lợi dụng quyền này để gây hại cho công cuộc đấu tranh vì hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của đất nước.

Phạm vi và đối tượng áp dụng của Sắc lệnh

Sắc lệnh này được áp dụng đối với tất cả các ấn phẩm có tính chất báo chí, tập san viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài (bao gồm cả họa báo) xuất bản định kỳ hoặc không định kỳ trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quy định này bao gồm các ấn phẩm ra từng tờ hoặc đóng thành tập, quyển, được in bằng bất kỳ phương pháp nào như in máy, rô-nê-ô, in đá, in thạch, được bán hoặc phát miễn phí, lưu hành ngoài nhân dân hoặc trong từng ngành, từng tổ chức.

Nhiệm vụ và quyền lợi của báo chí dưới chế độ dân chủ nhân dân

  • Bản chất của báo chí: Báo chí dưới chế độ dân chủ nhân dân, bất kể là của cơ quan chính quyền, đảng phái chính trị, đoàn thể nhân dân hay tư nhân, đều là công cụ đấu tranh của nhân dân. Báo chí phải phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân và ủng hộ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  • Nghĩa vụ của báo chí: Tuyên truyền, giáo dục nhân dân, động viên tinh thần đoàn kết thực hiện đường lối, chính sách của Chính phủ; đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng chế độ; phát triển tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước bạn và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới; đấu tranh chống lại mọi âm mưu, hành động và luận điệu phá hoại công cuộc xây dựng miền Bắc, phá hoại sự nghiệp thống nhất đất nước và hòa bình.
  • Bảo đảm quyền tự do ngôn luận: Quyền tự do ngôn luận của nhân dân trên báo chí được bảo đảm và không phải chịu sự kiểm duyệt trước khi in. Trong trường hợp khẩn cấp, nếu xét thấy cần thiết phải tạm thời đặt chế độ kiểm duyệt, Hội đồng Chính phủ sẽ quyết định.
  • Quyền phản ánh và đóng góp ý kiến: Báo chí có quyền phản ánh ý kiến, nguyện vọng của nhân dân đối với các cơ quan Nhà nước, đoàn thể nhân dân và góp ý kiến vào việc xây dựng, thực hiện đường lối, chính sách của Chính phủ. Quyền lợi của những người viết báo chuyên nghiệp sẽ do nghị định của Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể.

Điều kiện hoạt động và thủ tục cấp phép xuất bản báo chí

  • Điều kiện bắt buộc để xuất bản: Để được phép hoạt động nghiệp vụ, một tờ báo phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện bao gồm: có những người chịu trách nhiệm chính thức (chủ nhiệm, chủ bút hoặc tổng biên tập, thư ký tòa soạn, và quản lý) là những người có đầy đủ quyền công dân và không bị pháp luật truy tố; tôn chỉ và mục đích của tờ báo phải rõ ràng, phù hợp với tính chất và nghĩa vụ quy định; có trụ sở hoạt động chính thức.
  • Thủ tục xin phép và khai báo: Muốn xuất bản một tờ báo phải xin phép trước và hoàn thành đầy đủ các thủ tục khai báo. Tờ báo chỉ được phép hoạt động sau khi được cơ quan phụ trách báo chí của Chính phủ cấp giấy phép. Mọi thay đổi về tôn chỉ, mục đích, tên báo, kỳ hạn phát hành hoặc nhân sự chịu trách nhiệm chính thức đều phải thực hiện thủ tục xin phép và khai báo lại.

Các hành vi nghiêm cấm trong hoạt động báo chí

Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận được sử dụng đúng đắn, báo chí tuyệt đối không được thực hiện các hành vi sau:

  • Tuyên truyền chống lại pháp luật của Nhà nước; cổ động nhân dân không thi hành hoặc chống lại các luật lệ, đường lối, chính sách của Nhà nước; viết bài chống lại chế độ dân chủ nhân dân và chính quyền nhân dân; chia rẽ nhân dân với chính quyền hoặc quân đội; gây dư luận hoặc hành động có hại cho an ninh trật tự xã hội.
  • Tuyên truyền phá hoại sự nghiệp củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ của nước Việt Nam; làm giảm sút tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu của nhân dân và bộ đội.
  • Tuyên truyền chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa nhân dân các nước, làm tổn hại tình hữu nghị quốc tế; tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa đế quốc hoặc tuyên truyền chiến tranh.
  • Tiết lộ bí mật quốc gia như: bí mật quốc phòng, các hội nghị cơ mật chưa công bố chính thức, các vụ án đang điều tra chưa xét xử, các bản án mà Tòa án không cho phép công bố, các tài liệu, số liệu và cơ sở kiến thiết kinh tế - tài chính mà Ủy ban Kế hoạch Nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền chưa công bố.
  • Tuyên truyền các nội dung dâm ô, trụy lạc, đồi bại.

Quy định về cải chính, lưu chiểu và chế tài xử lý vi phạm

  • Quyền cải chính và khởi kiện: Báo chí đăng bài vu khống, xúc phạm danh dự của tổ chức hoặc cá nhân thì phải thực hiện cải chính hoặc đăng bài cải chính của đương sự; ngoài ra, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xét xử.
  • Nghĩa vụ nộp lưu chiểu: Trước khi phát hành, các báo chí phải thực hiện nghiêm túc thể lệ nộp lưu chiểu. Nghiêm cấm việc phát hành và in lại những báo chí đã có quyết định thu hồi của cơ quan chính quyền.
  • Xử phạt vi phạm về thủ tục cấp phép (Điều 8): Báo chí vi phạm sẽ bị tịch thu ấn phẩm, đình bản vĩnh viễn và truy tố trước tòa án; phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng, hoặc người có trách nhiệm bị phạt tù từ 01 tháng đến 01 năm, hoặc áp dụng cả hai hình phạt này.
  • Xử phạt vi phạm các điều cấm và phát hành báo bị thu hồi (Điều 9 và Điều 12): Tùy theo mức độ nặng nhẹ, báo chí vi phạm sẽ bị cảnh cáo, tịch thu ấn phẩm, đình bản tạm thời, đình bản vĩnh viễn hoặc bị truy tố trước tòa án; phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, hoặc người chịu trách nhiệm bị phạt tù từ 01 tháng đến 02 năm, hoặc áp dụng cả hai hình phạt. Nếu phạm vào các luật lệ khác, Tòa án sẽ chiếu theo luật lệ đó để trừng phạt thêm.
  • Xử phạt vi phạm về vu khống (Điều 10): Tùy mức độ vi phạm sẽ bị cảnh cáo, đình bản tạm thời hoặc truy tố trước tòa án; phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng.
  • Xử phạt vi phạm về lưu chiểu (Điều 11): Báo chí vi phạm sẽ bị cảnh cáo hoặc tịch thu ấn phẩm.
  • Phân định trách nhiệm pháp lý: Trong mọi trường hợp vi phạm, chủ nhiệm và chủ bút của tờ báo phải chịu trách nhiệm chính; quản lý và người viết bài liên đới chịu trách nhiệm về phần của mình. Đối với hành vi in báo đã có lệnh tịch thu, đình bản hoặc chưa có giấy phép, chủ nhà in cũng phải liên đới chịu trách nhiệm.

Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp

Tất cả các báo chí đã xuất bản trước ngày ban hành Sắc lệnh này không phải xin phép lại, nhưng những báo chưa thực hiện đúng thủ tục khai báo thì phải khai báo lại cho đúng quy định. Sắc lệnh này chính thức bãi bỏ toàn bộ các luật lệ về báo chí đã ban hành trước đây trái với các điều khoản ghi trong Sắc lệnh. Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành; Thủ tướng Chính phủ cùng các Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành Sắc lệnh này kể từ ngày ký ban hành.

SẮC LỆNH

SỐ 282/SL NGÀY 14 THÁNG 12 NĂM 1956 KÈM THEO LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BÁO CHÍ

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Chiếu sắc lệnh số 41 ngày 29 tháng 3 năm 1946 quy định chế độ báo chí;
Theo đề nghị của Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp;
Theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, sau khi Ban Thường trực Quốc hội thoả thuận.

RA SẮC LỆNH

Chương 1:

TÍNH CHẤT VÀ NGHĨA VỤ CỦA BÁO CHÍ

Điều 1.

Sắc lệnh này nhằm đảm bảo quyền tự do ngôn luận của nhân dân trên báo chí và ngăn cấm những kẻ lợi dụng quyền ấy để làm phương hại đến công cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của nước nhà.

Điều 2.

Báo chí dưới chế độ ta, bất kỳ là của một cơ quan chính quyền, đảng phái chính trị, đoàn thể nhân dân, hoặc của tư nhân cũng đều là công cụ đấu tranh của nhân dân, phải phục vụ quyền lợi của Tổ quốc, của nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, ủng hộ chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Điều 3.

Báo chí dưới chế độ ta có nghĩa vụ:

a) Tuyên truyền giáo dục nhân dân, động viên tinh thần đoàn kết phấn đấu thực hiện mọi đường lối chính sách của Chính phủ, đấu tranh bảo vệ những thành quả của cách mạng, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, phát triển tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước bạn và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, phục vụ cuộc đấu tranh thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

b) Đấu tranh chống mọi âm mưu, hành động và luận điệu phá hoại công cuộc xây dựng miền Bắc vững mạnh, phá hoại công cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc, phá hoại hoà bình.

Chương 2:

QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN LỢI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BÁO CHÍ

Mục I: QUYỀN LỢI CỦA BÁO CHÍ

Điều 4.

Quyền tự do ngôn luận của nhân dân trên báo chí được bảo đảm.

Tất cả các báo chí đều được hưởng quyền tự do ngôn luận. Không phải kiểm duyệt trước khi in; trong trường hợp khẩn cấp, xét cần phải tạm thời đặt kiểm duyệt, hội đồng Chính phủ sẽ quyết định.

Điều 5.

Báo chí có thể phản ánh ý kiến, nguyện vọng của nhân dân đối với các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, góp ý kiến vào việc xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Chính phủ.

Điều 6.

Quyền lợi của những người viết báo chuyên nghiệp sẽ do nghị định của Thủ tướng Chính phủ quy định.

Mục II: ĐIỀU KIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA BÁO CHÍ.

Điều 7.

Để có một cơ sở cần thiết đảm bảo làm tròn trách nhiệm của báo chí, và đảm bảo cho việc hoạt động nghiệp vụ, muốn xuất bản một tờ báo, cần phải có những điều kiện sau đây:

a) Tờ báo phải có những người chịu trách nhiệm chính thức: chủ nhiệm, chủ bút (hoặc là tổng biên tập viên, hoặc là thư ký toà soạn), quản lý. Những người này phải là những người có quyền công dân và không bị pháp luật đương truy tố.

b) Tôn chỉ, mục đích tờ báo phải rõ ràng, phù hợp với tính chất và nghĩa vụ đã quy định ở chương I.

c) Có trụ sở chính thức.

Điều 8.

Muốn xuất bản một tờ báo phải xin phép trước, phải làm đầy đủ những thủ tục về khai báo. Sau khi được cơ quan phụ trách về báo chí của Chính phủ cấp giấy phép, tờ báo mới được bắt đầu hoạt động.

Báo chí nào đã được phép xuất bản mà sau đó có một sự thay đổi nào về tôn chỉ, mục đích, tên báo, kỳ hạn phát hành hoặc về những người chịu trách nhiệm chính thức của tờ báo, đều phải xin phép và khai báo lại.

Điều 9.

Để quyền tự do ngôn luận trên báo chí được sử dụng một cách đúng đắn, báo chí phải tuân theo những điều sau đây:

a) Không được tuyên truyền chống pháp luật của Nhà nước. Không được cổ động nhân dân không thi hành hoặc chống lại những luật lệ và những đường lối chính sách của Nhà nước. Không được viết bài có tính chất chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại chính quyền nhân dân, chia rẽ nhân dân và chính quyền, nhân dân và bộ đội. Không được gây ra những dư luận hoặc những hành động có hại cho an ninh trật tự của xã hội.

b) Không được tuyên truyền phá hoại sự nghiệp củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ của nước Việt Nam, làm giảm sút tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu của nhân dân và bộ đội.

c) Không được tuyên truyền chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa nhân dân các nước, làm tổn hại tình hữu nghị giữa nhân dân nước ta với nhân dân các nước bạn, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa đế quốc, không được tuyên truyền chiến tranh.

d) Không được tiết lộ bí mật quốc gia như: những bí mật quốc phòng, những hội nghị cơ mật chưa có công bố chính thức của cơ quan có trách nhiệm, những vụ án đang điều tra chưa xét xử, những bản án mà Toà án không cho phép công bố, những tài liệu số liệu và những cơ sở kiến thiết về kinh tế tài chính mà Uỷ ban kế hoạch Nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền chưa công bố.

e) Không được tuyên truyền dâm ô, trụy lạc, đồi bại.

Điều 10.

Báo nào đăng bài vu khống, xúc phạm đến danh dự của một tổ chức hay một cá nhân, thì đương sự có quyền yêu cầu báo ấy cải chính hoặc đăng bài cải chính của đương sự, ngoài ra đương sự có quyền yêu cầu toà án xét xử.

Điều 11.

Trước khi phát hành, các báo chí phải thi hành thể lệ nộp lưu chiểu.

Điều 12.

Không được phát hành và in lại những báo chí mà cơ quan chính quyền đã có quyết định thu hồi.

Chương 3:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Mục I: QUY ĐỊNH VỀ KỶ LUẬT

Điều 13.

Báo chí nào vi phạm điều 8, sẽ bị trừng phạt: tịch thu ấn phẩm, đình bản vĩnh viễn và truy tố trước toà án, sẽ bị phạt tiền từ mười vạn đồng (100.000 đ) đến năm mươi vạn đồng (500.000 đ), hoặc người có trách nhiệm bị phạt tù từ một tháng đến một năm, hoặc cả hai hình phạt đó.

Báo chí nào vi phạm điều 9 hoặc điều 12 sẽ bị trừng phạt: tuỳ theo lỗi nặng nhẹ mà bị cảnh cáo, tịch thu ấn phẩm, đình bản tạm thời, đình bản vĩnh viễn, hoặc bị truy tố trước toà án, có thể bị phạt tiền từ mười vạn đồng (100.000 đ) đến một triệu đồng (1.000.000 đ), hoặc người chịu trách nhiệm bị phạt tù từ một tháng đến hai năm, hoặc cả hai hình phạt đó. Nếu xét đương sự phạm vào những luật lệ khác, toà án sẽ chiếu theo những luật lệ ấy mà trừng phạt thêm.

Báo chí nào vi phạm điều 10, sẽ bị trừng phạt: tuỳ theo lỗi nặng nhẹ mà bị cảnh cáo, đình bản tạm thời, hoặc bị truy tố trước toà án, có thể bị phạt tiền từ năm vạn đồng (50.000 đ) đến hai chục vạn đồng (200.000 đ).

Báo chí nào vi phạm điều 11, sẽ bị cảnh cáo hoặc tịch thu ấn phẩm.

Điều 14.

Trong mọi trường hợp vi phạm chủ nhiệm và chủ bút của tờ báo chịu trách nhiệm chính; quản lý và người viết bài cũng phải liên đới chịu trách nhiệm về phần của mình.

Nếu in những báo chí đã có lệnh tịch thu, đình bản và những báo chí chưa có giấy phép thì chủ nhà in cũng phải liên đới chịu trách nhiệm.

Mục II: ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều 15.

Các điều khoản trong sắc lệnh này áp dụng cho tất cả các ấn phẩm có tính chất báo chí, tập san viết bằng tiếng Việt, hoặc bằng tiếng nước ngoài, kể cả các hoạ báo, xuất bản đều kỳ và không đều kỳ, trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ra từng tờ hoặc đóng thành từng tập, từng quyển, in bằng máy, bằng rô-nê-ô, in đá, in thạch, bán hoặc phát không, lưu hành ngoài nhân dân, hoặc trong từng ngành, từng tổ chức.

Điều 16.

Tất cả các báo chí đã xuất bản trước ngày ban hành sắc lệnh này thì không phải xin phép nữa. Những báo nào chưa làm đúng thủ tục khai báo thì nay phải khai báo lại cho đúng.

Điều 17.

Những luật lệ về báo chí đã ban hành từ trước đến nay trái với các điều khoản ghi trong sắc lệnh này đều bãi bỏ.

Điều 18.

Thủ tướng Chính phủ sẽ quy định những chi tiết thi hành sắc lệnh này.

Điều 19.

Thủ tướng Chính phủ, các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành sắc lệnh này.

 

 

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Sắc lệnh số 282/SL về chế độ báo chí do Quốc hội ban hành

Số hiệu: 282/SL
Loại văn bản: Sắc lệnh
Ngày ban hành: 14/12/1956
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Hồ Chí Minh
Ngày công báo: 17/07/1957
Số công báo: Số 29
Ngày hiệu lực: 20/05/1957
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Văn hóa - Xã hội
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Sắc lệnh số 282/SL về chế độ báo chí do Quốc...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký