Sắc lệnh số 46 về việc quy định tổ chức các đoàn thể luật sư do Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành ngày 10 tháng 10 năm 1945 nhằm đặt nền móng pháp lý đầu tiên cho việc tổ chức và hoạt động của ngành luật sư dưới chế độ mới, bảo đảm quyền bào chữa của công dân và duy trì trật tự tư pháp trong giai đoạn chuyển giao lịch sử.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Sắc lệnh này quy định về tổ chức, hoạt động, tiêu chuẩn hành nghề và kỷ luật của các đoàn thể luật sư trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng áp dụng trực tiếp bao gồm các luật sư đang hành nghề, các cá nhân có đủ điều kiện gia nhập đoàn luật sư, các tổ chức đoàn thể luật sư tại các tòa án phúc thẩm và các cơ quan tư pháp, tòa án nhân dân các cấp.
Các nội dung cốt lõi của Sắc lệnh số 46
- Duy trì tạm thời tổ chức các đoàn thể luật sư hiện có: Sắc lệnh quy định tạm thời giữ nguyên tổ chức các đoàn thể luật sư bên cạnh các Tòa án phúc thẩm tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn như trước ngày 19 tháng 8 năm 1945. Việc duy trì này nhằm bảo đảm tính liên tục của hoạt động tư pháp, tránh sự đứt gãy trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân tại tòa án trong những ngày đầu thành lập nước.
- Điều kiện và tiêu chuẩn hành nghề luật sư: Để được công nhận là luật sư và gia nhập đoàn thể luật sư dưới chế độ mới, cá nhân phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về trình độ chuyên môn và tư cách đạo đức. Cụ thể, người hành nghề phải có bằng Cử nhân Luật (hoặc tương đương) và không phạm vào các tội danh làm tổn hại đến danh dự nghề nghiệp hoặc an ninh quốc gia.
- Nghĩa vụ tuyên thệ trung thành với chế độ mới: Một trong những điểm cải cách quan trọng của Sắc lệnh là quy định tất cả các luật sư muốn tiếp tục hành nghề hoặc gia nhập đoàn luật sư mới đều phải thực hiện nghi thức tuyên thệ. Nội dung lời thề nhấn mạnh sự trung thành với Tổ quốc, tôn trọng pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và bảo vệ công lý một cách vô tư, khách quan.
- Quyền hạn và nghĩa vụ của luật sư trong tố tụng: Sắc lệnh khẳng định vai trò không thể thiếu của luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo tại các phiên tòa xét xử. Luật sư có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án, gặp gỡ thân chủ và thực hiện quyền bào chữa độc lập trước tòa án, góp phần bảo đảm nguyên tắc dân chủ và công bằng trong hoạt động tư pháp cách mạng.
- Chế độ kỷ luật và quản lý nhà nước đối với đoàn luật sư: Các đoàn thể luật sư hoạt động dưới sự giám sát của Bộ Tư pháp. Sắc lệnh quy định rõ các hình thức kỷ luật đối với luật sư vi phạm đạo đức nghề nghiệp hoặc vi phạm pháp luật, từ cảnh cáo, đình chỉ hành nghề tạm thời cho đến xóa tên khỏi danh sách luật sư.
Hiệu lực thi hành
Sắc lệnh số 46 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (ngày 10 tháng 10 năm 1945). Các quy định trước đây trái với Sắc lệnh này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm thi hành Sắc lệnh này.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 46 NGÀY 10 THÁNG 10 NĂM 1945
Sau khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã hỏi ý kiến của ông Chánh nhất, ông Chưởng lý Toà Thượng thẩm và các luật sư Hà Nội;
Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả luận ngày mồng 4 tháng 10 dương lịch năm 1945;
RA SẮC LỆNH:
Sắc lệnh ngày 25 tháng 5 năm 1930 quy định sự tổ chức ấy vẫn tạm thi hành với các điều sửa đổi sau này.
"Muốn được liệt danh vào bảng luật sư tại Toà Thượng thẩm Hà Nội hay Sài Gòn phải có đủ những điều kiện sau này:
1- Có quốc tịch Việt Nam, bất luận nam nữ;
2- Có bằng cử nhân luật;
3- Đã làm luật sự tập sự trong ba năm (kể từ ngày tuyên thệ) ở một Văn phòng luật sư thực thụ trong nước Việt Nam.
Những người đã làm luật sự tập sự ở Pháp có thể xin tính thời hạn tập sự ở Pháp nhưng chỉ được trừ nhiều nhất là 12 tháng.
4- Có hạnh kiểm tốt;
5- Được bằng chứng rằng đã hết hạn tập sự và đủ tư cách làm luật sự thực thụ.
Bằng chứng ấy sẽ do Hội đồng kỷ luật luật sư cấp cho sau khi đã xét tài năng và đức hạnh của vị luật sư tập sự ấy.
Nếu xét ra rằng luật sự tập sự chưa đủ tư cách, Hội đồng kỷ luật sau khi hỏi vị luật sự tập sự có thể gia hạn tập sự thêm một năm. Hội đồng kỷ luật chỉ có quyền gia hạn thêm tập sự ấy hai lần là cùng (mỗi lần một năm).
Hết hạn hai năm ấy, Hội đồng kỷ luật phải cấp bằng chứng hay từ chối hẳn.
Nếu từ chối thì bản quyết nghị của Hội đồng phải nói rõ nguyên cớ.
Hội đồng phải gửi bản sao bản quyết nghị của mình cho ông Chưởng lý Toà Thượng thẩm và cho vị luật sư tập sự.
Trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao ấy, ông Chưởng lý và vị luật sư tập sự có quyền kháng cáo lên Toà Thượng thẩm theo Điều thứ 13 Sắc lệnh ngày 25 tháng 5 năm 1930 sửa đổi do Sắc lệnh ngày 24 tháng 7 năm 1931"
Nếu không đủ số mười Văn phòng thì các luật sư thực thụ sẽ họp lại thành "Ban luật sư thực thụ" để tạm giữ nhiệm vụ của một Hội đồng luật sư. Ban ấy sẽ tự bầu lấy Chủ tịch và tổ chức lấy công việc.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.