Sắc lệnh số 64 do Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành nhằm tổ chức các cơ quan lao động trên toàn cõi Việt Nam. Đây là một trong những văn bản pháp lý đặt nền móng đầu tiên cho hệ thống quản lý nhà nước về lao động, thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa Chính phủ và giai cấp lao động, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trong bối cảnh đất nước mới giành được độc lập.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Sắc lệnh
Sắc lệnh áp dụng đối với toàn bộ hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về lao động từ trung ương đến địa phương, các chủ doanh nghiệp, người sử dụng lao động và toàn thể người lao động trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Mục đích thành lập hệ thống cơ quan lao động
- Thiết lập một hệ thống cơ quan quản lý chuyên trách về lao động thống nhất từ trung ương đến địa phương để thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước.
- Tạo cầu nối thông suốt, giữ sự liên lạc mật thiết giữa Chính phủ cách mạng lâm thời và giới lao động (bao gồm công nhân, thợ thủ công và người làm công ăn lương).
- Bảo vệ quyền lợi, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho giai cấp công nhân và người lao động, thúc đẩy tăng gia sản xuất phục vụ kháng chiến và kiến quốc.
Hệ thống tổ chức các cơ quan lao động (Điều 1 và Điều 2)
- Cơ quan cấp Trung ương: Bộ Lao động giữ vai trò tối cao trong việc quản lý, hoạch định chính sách, soạn thảo các luật lệ về lao động và chỉ đạo toàn bộ hệ thống cơ quan lao động trên cả nước.
- Cơ quan cấp Kỳ: Thành lập các Sở Lao động tại ba kỳ (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) để trực tiếp quản lý và đôn đốc việc thực hiện các chính sách lao động tại từng khu vực địa lý lớn.
- Cơ quan cấp Tỉnh: Thiết lập các cơ quan Thanh tra lao động hoặc Ty Lao động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc để giám sát thực tế tại các cơ sở sản xuất.
Nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan lao động (Điều 3 và Điều 4)
- Xây dựng và thực thi luật lệ lao động: Nghiên cứu, đề xuất và ban hành các quy định cụ thể về điều kiện làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động, chế độ tiền lương tối thiểu, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi và bảo hiểm tai nạn lao động.
- Thanh tra và giám sát: Tiến hành thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc chấp hành các quy định pháp luật về lao động tại các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, đồn điền và các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân cũng như quốc doanh.
- Giải quyết tranh chấp lao động: Đóng vai trò trọng tài, hòa giải các tranh chấp, xung đột về quyền lợi giữa chủ sử dụng lao động và người lao động; giải quyết các cuộc đình công, bãi công trên tinh thần hợp tác, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động và duy trì ổn định sản xuất.
- Hỗ trợ và đào tạo: Tổ chức các hoạt động cứu tế xã hội, hỗ trợ người lao động gặp khó khăn, thất nghiệp; đồng thời mở các lớp đào tạo, nâng cao tay nghề và trình độ văn hóa cho công nhân.
Hiệu lực thi hành
Sắc lệnh số 64 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Lao động và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Sắc lệnh này.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TÍCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 64 NGÀY 8 THÁNG 5 NĂM 1946 VỀ TỔ CHỨC CÁC CƠ QUAN LAO ĐỘNG TRONG TOÀN CÕI VIỆT NAM
Chiểu theo lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xã hội;
Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả thuận.
- Đảm bảo và bênh vực quyền lợi cho dân chúng cần lao;
- Dung hoà quyền lợi của chủ và nhân công để củng cố và khuếch trương nền kinh tế trong nước;
- Kiểm soát việc thi hành các luật lệ ban bố về lao động;
- Giúp cho dân chúng lao động các phương tiện để tự nâng cao trình độ về mọi phương diện: trí thức, vật chất, chuyên môn;
- Kiểm soát và phân phát nhân công các ngành thương mại, kỹ nghệ, nông nghiệp;
- Tổ chức sự liên lạc với lao động quốc tế;
- Giải quyết các vấn đề lao động.
Điều thứ ba: Tại mỗi kỳ sẽ đặt một Nha Thanh tra lao động kỳ do một viên Thanh tra lao động điều khiển.
Những viên Thanh tra này sẽ do Nghị định Bộ trưởng Bộ Xã hội bổ nhậm sau khi đã thoả thuận cùng Uỷ ban Hành chính kỳ.
Các Thanh tra Lao động kỳ làm việc dưới quyền kiểm soát của Bộ Xã hội, Nha Lao động Trung ương và Uỷ ban Hành chính kỳ. Các viên này có thể có một hay hai viên Phó Thanh tra cùng các kiểm soát và uỷ viên lao động giúp việc.
Điều thứ tư: Nha Thanh tra Lao động kỳ có nhiệm vụ:
- Kiểm soát việc thi hành Luật lệ lao động và nhân công trong kỳ.
- Đề nghị những sự cải cách những luật lệ lao động;
- Giải quyết và dàn xếp những sự xích mích giữa chủ và công nhân;
- Lập những tờ trình về tình hình lao động trong kỳ;
- Điều khiển và kiểm soát các cơ quan lao động trong kỳ;
Điều thứ năm: Bộ trưởng Bộ Xã hội, theo lời đề nghị của các Uỷ ban hành chính kỳ, có thể đặt phòng Lao động tại những tỉnh xét ra quan hệ về phương diện lao động.
Những phòng này sẽ do một viên Thanh tra, hay kiểm soát hay uỷ viên lao động điều khiển. Những viên này sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Xã hội bổ nhậm, và làm việc dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Nha Thanh tra Lao động kỳ và của Uỷ ban Hành chính tỉnh.
Một viên Thanh tra Lao động có thể kiêm chức ấy trong nhiều tỉnh hợp thành một khu do Bộ trưởng Bộ Xã hội chỉ định.
Tại các tỉnh chưa đặt phòng Lao động biệt lập hay không thuộc quyền một viên Thanh tra lao động nào thì Chủ tịch hay một nhân viên Uỷ ban Hành chính tỉnh sẽ kiêm chức Thanh tra hay Uỷ viên lao động.
Điều thứ sáu: Phòng lao động tỉnh có nhiệm vụ:
- Kiểm soát việc thi hành các luật lệ lao động;
- Kiểm soát nhân công trong tỉnh;
- Thi hành mệnh lệnh của những cấp trên;
- Đề nghị phương châm giải quyết các vấn đề lao động trong tỉnh;
- Dàn xếp những sự xích mích xẩy ra giữa chủ và công nhân.
Giám đốc sẽ tuyên thệ với ông Bộ trưởng bộ Xã hội còn các Thanh tra, Kiểm soát và uỷ viên lao động thì tuyên thệ với Chủ tịch uỷ ban hành chính kỳ.
Điều thứ tám: Những luật lệ trái với Sắc lệnh này đều bãi bỏ.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|