Sắc lệnh số 69/SL do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành nhằm bổ khuyết cho Sắc lệnh số 154-SL ngày 17 tháng 11 năm 1950, với mục tiêu cốt lõi là thiết lập và tăng cường chế độ giữ gìn bí mật quốc gia, chủ động ngăn ngừa các hoạt động dò xét, đánh cắp thông tin của các thế lực thù địch và tay sai.
Phạm vi áp dụng của Sắc lệnh mang tính toàn diện, đặt ra nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể đối với mọi lực lượng trong xã hội bao gồm bộ đội, các cơ quan nhà nước, cán bộ, các tổ chức đoàn thể, cơ quan báo chí và toàn thể nhân dân trong việc bảo vệ an ninh quốc gia.
Định nghĩa về bí mật quốc gia
Văn bản đưa ra định nghĩa mang tính khái quát nhưng chặt chẽ về bí mật quốc gia. Theo đó, bí mật quốc gia được xác định là tất cả những sự việc, tài liệu, địa điểm và bất kỳ thông tin, điều gì mà nếu để tiết lộ ra ngoài sẽ gây tổn hại cho an ninh, lợi ích của đất nước, đồng thời tạo lợi thế cho phía đối phương.
Phân công thẩm quyền quy định chi tiết
Để triển khai thực thi Sắc lệnh một cách đồng bộ, Thủ tướng Chính phủ được giao quyền ban hành các nghị định hướng dẫn chi tiết về các nội dung sau:
- Xác định cụ thể phạm vi các thông tin, tài liệu thuộc danh mục bí mật quốc gia.
- Quy định nhiệm vụ chi tiết cho từng đối tượng cụ thể bao gồm lực lượng quân đội, cơ quan nhà nước, cán bộ, đoàn thể, báo chí và công dân trong công tác bảo mật.
- Thiết lập hệ thống tổ chức chuyên trách và các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ nhằm bảo đảm an toàn, giữ gìn bí mật quốc gia.
Chế tài xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm
Sắc lệnh phân định rõ ràng các mức độ vi phạm để áp dụng hình phạt tương xứng, đặc biệt nhấn mạnh tính chất nghiêm trọng của các hành vi cố ý:
- Các hành vi bị truy tố như tội phản quốc: Áp dụng đối với các hành vi cố ý tiết lộ hoặc bán bí mật quốc gia cho địch hoặc tay sai của địch; hành vi lợi dụng các thông tin bí mật quốc gia để thực hiện hoạt động đầu cơ trục lợi cá nhân; hoặc các hành vi chủ động dò xét, mua bán, lấy cắp các tài liệu bí mật quốc gia. Những hành vi này sẽ bị đưa ra xét xử trực tiếp trước Tòa án với khung hình phạt nghiêm khắc nhất dành cho tội phản quốc.
- Xử lý hành vi vô ý, thiếu trách nhiệm: Đối với những trường hợp do sơ suất, thiếu cẩn trọng dẫn đến việc làm lộ bí mật quốc gia hoặc làm thất lạc, đánh mất các tài liệu bí mật, người vi phạm sẽ bị xem xét tính chất, mức độ hậu quả cụ thể để áp dụng các hình thức xử phạt kỷ luật hoặc hình sự tương ứng.
Chính sách khen thưởng nhằm khuyến khích bảo vệ bí mật nhà nước
Bên cạnh các biện pháp chế tài nghiêm khắc, Sắc lệnh cũng quy định rõ chế độ khen thưởng kịp thời đối với các cá nhân, tổ chức có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ bí mật quốc gia, bao gồm:
- Cá nhân giữ vững khí tiết, không chịu khuất phục trước sự mua chuộc, đe dọa của kẻ địch trong hoàn cảnh nguy hiểm để bảo vệ an toàn bí mật quốc gia.
- Người vượt qua các hoàn cảnh khó khăn, hiểm nguy để chủ động giữ kín thông tin bí mật.
- Người có công phát hiện, ngăn chặn và hỗ trợ bắt giữ các đối tượng có hành vi tiết lộ, lợi dụng, dò xét, lấy cắp hoặc mua bán bí mật quốc gia.
- Người phát hiện hành vi sơ hở, làm mất hoặc làm lộ bí mật của người khác và đã kịp thời có biện pháp khắc phục, hạn chế tối đa thiệt hại xảy ra.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Sắc lệnh quy định trách nhiệm tổ chức, triển khai và giám sát thi hành thuộc về Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng các Bộ ngành liên quan, bảo đảm các quy định về bảo vệ bí mật quốc gia được thực hiện nghiêm túc và thống nhất trên phạm vi cả nước.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 69/SL NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 1951
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Chiểu sắc lệnh số 154-SL ngày 17-11-1950 trừng trị tội tiết lộ bí mật về cơ quan hay công tác;
Chiểu tờ trình của Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
Theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ sau khi Ban Thường trực Quốc hội thoả thuận;
RA SẮC LỆNH:
Điều 1
Sắc lệnh này bổ khuyết Sắc lệnh số 154-SL ngày 17 tháng 11 năm 1950, mục đích là:
- Giữ bí mật Quốc gia, ngăn ngừa địch và tay sai của chúng dò xét, đánh cắp bí mật quốc gia;
- Đặt nhiệm vụ cho bộ đội, cơ quan, cán bộ, các đoàn thể, các báo chí và nhân dân phải giữ bí mật quốc gia.
Điều 2
Bí mật quốc gia là những việc, những tài liệu, những địa điểm và những điều gì mà để tiết lộ ra thì có hại cho ta, có lợi cho địch.
Thủ tướng Chính phủ sẽ ấn định bằng nghị định:
2- Nhiệm vụ cụ thể của bộ đội, cơ quan, cán bộ, các đoàn thể, các báo chí và nhân dân về việc giữ gìn bí mật quốc gia.
3- Tổ chức việc giữ gìn bí mật quốc gia.
Ai phạm vào một trong các tội dưới đây sẽ bị truy tố trước Toà án như tội phản quốc:
1- Cố ý tiết lộ hoặc bán bí mật quốc gia cho địch hay là cho tay sai của địch.
2- Lợi dụng bí mật quốc gia để đầu cơ lấy lợi.
3- Dò xét bí mật quốc gia; mua, lấy cắp những tài liệu bí mật quốc gia
Ai Có một trong những thành tích dưới đây sẽ được khen thưởng:
1) Trong khi nguy nạn không chịu khuất phục địch, giữ gìn được bí mật quốc gia.
2) Gặp trường hợp khó khăn không sợ nguy hiểm, giữ kín được bí mật quốc gia.
3) Tìm ra và bắt được những vụ tiết lộ, lợi dụng, dò xét, lấy cắp, mua, bán bí mật quốc gia.
4) Thấy người khác để mất hoặc để tiết lộ bí mật quốc gia, mà kịp thời cứu chữa.
Điều 7
Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng chiểu Sắc lệnh thi hành.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
- 1 Sắc lệnh số 154/SL về việc ấn định những hình phạt trừng trị việc để tiết lộ bí mật do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 2 Nghị định 69-CP năm 1962 Quy định những vấn đề thuộc phạm vi bí mật của Nhà nước và trách nhiệm trong việc giữ gìn bí mật của Nhà nước do Hội đồng Chính phủ ban hành