Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

TÓM TẮT CHI TIẾT THỂ LỆ SỐ 2154-TL/VB VỀ QUẢN LÝ KIM KHÍ QUÝ, ĐÁ QUÝ VÀ NGỌC TRAI

Thể lệ số 2154-TL/VB do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ban hành là văn bản pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa Nghị định số 355-TTg ngày 16 tháng 07 năm 1958 của Thủ tướng Chính phủ. Văn bản thiết lập cơ chế quản lý chặt chẽ đối với các hoạt động mua bán, chế biến, cất giữ và vận chuyển kim khí quý, đá quý, ngọc trai trên phạm vi cả nước nhằm bảo vệ tài sản quốc dân, ổn định thị trường, tiền tệ và phục vụ công cuộc phát triển kinh tế.

1. Mục đích và Phạm vi Điều chỉnh (Điều 1 - Điều 2)

  • Mục đích ban hành: Ngăn ngừa và bài trừ triệt để nạn đầu cơ, buôn lậu, xuất lậu kim khí quý, đá quý, ngọc trai; bảo vệ tài sản quốc dân, góp phần quản lý thị trường, ổn định vật giá, ổn định tiền tệ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải tạo, phát triển nền kinh tế quốc dân.
  • Phạm vi điều chỉnh: Quy định toàn diện các hoạt động mua bán, sửa chữa, chế biến, cất giữ và mang theo người đối với các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai cũng như các đồ trang sức được làm từ các loại nguyên liệu này.

2. Thống nhất Kinh doanh và Quản lý Mua bán (Điều 3 - Điều 5)

  • Xóa bỏ kinh doanh tư nhân: Kể từ ngày công bố lệnh thi hành Nghị định số 355-TTg, cấm hẳn việc tư nhân buôn bán kim khí quý, đá quý, ngọc trai. Các hiệu vàng, bạc tư doanh không được phép mua vào, chỉ được phép bán hết hàng tồn kho trong thời hạn tối đa không quá 03 tháng (riêng đồ mỹ nghệ nạm hoặc bịt bạc có thể được gia hạn lâu hơn) theo thể thức cũ dưới sự quy định của Chi nhánh Ngân hàng tỉnh.
  • Vai trò chủ đạo của Ngân hàng Nhà nước: Các Chi nhánh Ngân hàng khu Tự trị, thành phố, tỉnh tổ chức mua kim khí quý từ nhân dân. Các cửa hàng mỹ nghệ vàng bạc quốc doanh tại Hà Nội và Hải Phòng thực hiện mua cả đá quý và ngọc trai. Ngân hàng các tỉnh cũng tổ chức bán đồ trang sức, mỹ nghệ cho nhân dân dựa trên nhu cầu và năng lực cung ứng.
  • Quản lý giá cả: Giá mua và giá bán các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai và đồ trang sức, mỹ nghệ liên quan do Ngân hàng trung ương quy định thống nhất và niêm yết công khai tại trụ sở Ngân hàng các cấp.
  • Cung cấp cho cơ quan, xí nghiệp Nhà nước: Các cơ quan, xí nghiệp có nhu cầu sử dụng kim khí quý cho nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, y học hoặc làm huân chương, huy hiệu phải lập kế hoạch dự trù được cấp Trung ương duyệt để Ngân hàng xem xét cung cấp trong phạm vi kế hoạch.

3. Quy định về Chế biến và Sửa chữa Đồ trang sức (Điều 6 - Điều 10)

  • Trách nhiệm của thợ chuyên nghiệp và tổ chế biến: Các tổ chức, cá nhân đăng ký hoạt động sửa chữa, chế biến đồ trang sức, mỹ nghệ phải chịu trách nhiệm trước khách hàng về trọng lượng và chất lượng sản phẩm. Trên hóa đơn hoặc hợp đồng phải ghi rõ các thông số này, đồng thời sản phẩm hoàn thiện phải được đóng dấu hiệu riêng về tuổi vàng, bạc của cơ sở chế biến.
  • Giới hạn hoạt động: Các cơ sở này không được phép thực hiện việc lọc vàng (trở vàng) và không được trưng bày các mẫu hàng bằng vàng. Đối với mẫu hàng bằng bạc, chỉ được trưng bày sau khi đã thực hiện kê khai đầy đủ với Ngân hàng.
  • Quản lý giá công và sổ sách: Giá công chế biến các đồ trang sức thông thường do Ủy ban Hành chính khu Tự trị, thành phố, tỉnh quy định và phải được niêm yết công khai tại cửa hàng. Các cơ sở phải mở sổ sách theo dõi, kê khai theo hướng dẫn của Ngân hàng và chịu sự kiểm soát trực tiếp từ Ngân hàng. Khi ngừng hoạt động, phải nộp lại giấy đăng ký và tuyệt đối không được chuyển nhượng dưới mọi hình thức.
  • Xử lý vi phạm: Mọi hành vi vi phạm quy định về chế biến, sửa chữa sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định tại Điều 8 của Nghị định số 355-TTg.

4. Quy định về Vận chuyển và Mang theo người (Điều 11 - Điều 15)

  • Vận chuyển nguyên liệu chưa chế biến: Việc mang kim khí quý, đá quý, ngọc trai chưa chế biến thành đồ trang sức (bao gồm cả vàng, bạc thoi, khối, nén, vàng lá, vàng cốm, vàng vụn, tiền vàng, tiền bạc hoặc đồ trang sức chế biến dở dang) từ nơi này sang nơi khác trong phạm vi thành phố, thị xã hoặc giữa các huyện đều bắt buộc phải có giấy phép của Ngân hàng hoặc cơ quan được ủy quyền.
  • Hạn mức mang đồ trang sức không cần giấy phép: Người dân được mang đồ trang sức, mỹ nghệ đã chế biến hoàn chỉnh dưới các hạn mức sau mà không cần xin giấy phép (nhưng phải có hóa đơn, giấy tờ hợp pháp để xuất trình khi cần thiết):
    • Dưới 1 lạng ta (37,5 gam) vàng;
    • Dưới 10 lạng ta (375 gam) bạc;
    • Dưới 2 đồng cân (7,5 gam) bạch kim;
    • Dưới 3 cara (0,6 gam) mặt đá kim cương đã gắn vào đồ trang sức.
  • Quy định đối với đá quý và ngọc trai khác: Các loại đá quý khác mang theo người bắt buộc phải được lắp, gắn vào đồ trang sức (như nhẫn, hoa tai). Đối với ngọc trai hoặc các loại ngọc khác mang theo người ở dạng rời hoặc xâu chuỗi vượt quá 100 hạt thì bắt buộc phải xin giấy phép.
  • Cơ chế Giấy chứng nhận đặc biệt (Điều 13): Đối với lượng vàng chưa chế biến số lượng ít hoặc đồ trang sức vượt quá hạn mức quy định muốn mang theo người, chủ sở hữu phải xin giấy phép mang vàng đến Ngân hàng để đóng dấu, ghi nhận đặc điểm và cấp "Giấy chứng nhận đặc biệt" (do Chi nhánh Ngân hàng cấp tỉnh cấp) để thay thế cho giấy phép thông thường.
  • Thẩm quyền cấp giấy phép vận chuyển (Điều 14):
    • Trong phạm vi thành phố, thị xã: Ủy ban Hành chính quận hoặc thị xã cấp.
    • Ra ngoài phạm vi thành phố, thị xã: Ngân hàng thành phố hoặc tỉnh cấp.
    • Từ huyện này sang huyện khác trong cùng một tỉnh: Ủy ban Hành chính xã cấp.
    • Từ tỉnh này qua tỉnh khác: Ngân hàng các cấp hoặc Ủy ban Hành chính huyện (nơi chưa có tổ chức Ngân hàng) cấp.
    • Lưu ý đặc biệt: Ủy ban Hành chính quận, thị xã và Ủy ban Hành chính xã chỉ được quyền cấp giấy phép mang vàng với số lượng tối đa không quá 3 lạng ta (112,5 gam). Giấy phép mang kim khí quý, đá quý không được cho mượn.
  • Vận chuyển vàng cốm (vàng sa, vàng đãi): Tại các địa phương có hoạt động đãi vàng, Chi nhánh Ngân hàng tỉnh sẽ căn cứ tình hình thực tế để ban hành quy định riêng về việc cấp giấy phép vận chuyển.

5. Chính sách Đặc thù đối với Vùng Đồng bào Dân tộc Ít người (Điều 16)

Mặc dù Thể lệ áp dụng chung trên toàn quốc, Nhà nước vẫn ban hành các chính sách chiếu cố đến phong tục, tập quán sử dụng bạc nén, bạc hoa xòe (bạc trắng, bạc đồng, bạc hào) của đồng bào dân tộc ít người:

  • Cho phép lưu hành nội bộ tạm thời: Đồng bào dân tộc ít người tại một số vùng nhất định (do Ngân hàng phối hợp với Ủy ban Hành chính khu Tự trị, tỉnh nghiên cứu xác định) được tạm thời sử dụng bạc nén, bạc hoa xòe để trao đổi nội bộ phục vụ các nghi lễ truyền thống như ma chay, cưới xin.
  • Miễn giấy phép vận chuyển đồ trang sức: Đồng bào đeo đồ trang sức bằng bạc theo phong tục truyền thống khi di chuyển giữa các địa phương không phải xin giấy phép.
  • Kiểm soát khi ra khỏi vùng đặc thù: Việc mang bạc nén, bạc hoa xòe từ vùng được phép sử dụng tạm thời sang các vùng cấm lưu hành khác bắt buộc phải xin giấy phép của Ủy ban Hành chính xã nơi cư trú.

6. Các Quy định Chung và Điều khoản Thi hành (Điều 17 - Điều 23)

  • Cấm lưu hành tiền bạc cổ: Nghiêm cấm hoàn toàn việc lưu hành và tàng trữ các loại tiền bạc như bạc hoa xòe, bạc trắng, bạc đồng, bạc hào trên toàn lãnh thổ, ngoại trừ các trường hợp đặc thù được quy định tại Điều 16.
  • Quyền cất giữ và cấp Giấy chứng nhận giữ vàng: Mọi công dân đều có quyền cất giữ kim khí quý, đá quý, ngọc trai. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và ngăn ngừa gian lận, các Chi nhánh Ngân hàng cấp tỉnh/thành phố sẽ ban hành thể lệ và tổ chức cấp giấy chứng nhận giữ vàng cho nhân dân khi có yêu cầu.
  • Xuất nhập khẩu: Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu kim khí quý, đá quý, ngọc trai phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định về quản lý ngoại hối của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.
  • Hiệu lực thi hành: Thể lệ có hiệu lực kể từ ngày công bố. Tất cả các quy định trước đây của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trái với Thể lệ này đều bị bãi bỏ. Mọi hành vi vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo các chế tài quy định tại Nghị định số 355-TTg ngày 16 tháng 07 năm 1958. Việc sửa đổi, bổ sung Thể lệ này thuộc thẩm quyền duy nhất của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.

NGÂN HÀNG QUỐC GIA
******

 VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA 
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 2154-TL/VB

Hà Nội, ngày 01 tháng 08 năm 1958 

 

THỂ LỆ

VỀ VIỆC QUẢN LÝ CÁC LOẠI KIM KHÍ QUÝ, ĐÁ QUÝ, NGỌC TRAI

Chương 1:

ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều 1. – Căn cứ Nghị định Thủ tướng Chính phủ số 355-TTg ngày 16 tháng 07 năm 1958, nay ban hành thể lệ này nhằm cụ thể hóa việc quản lý các loại kim khí, đá quý, ngọc trai để ngăn ngừa và bài trừ triệt để nạn đầu cơ, buôn lậu, xuất lậu các loại nói trên để bảo vệ tài sản quốc dân, góp phần vào việc quản lý thị trường, ổn định vật giá, ổn định tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân.

Điều 2. – Nội dung thể lệ này quy định việc mua bán, sửa chữa, chế biến, cất giữ và mang các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai và những đồ trang sức bằng các loại nói trên.

Chương 2:

MUA BÁN KIM KHÍ QUÝ, ĐÁ QUÝ NGỌC TRAI

Điều 3. – Kể từ ngày công bố lệnh thi hành Nghị định của Thủ tướng Chính phủ số 355-TTg ngày 16 tháng 07 năm 1958 về việc thống nhất kinh doanh các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai vào Ngân hàng quốc gia Việt Nam (dưới đây gọi tắc là Ngân hàng), các hiệu vàng, bạc tư doanh không được mua các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai, nhưng còn được phép bán hết hàng tồn kho.

Thời hạn các hiệu vàng, bạc được phép bán hết hàng tồn kho sẽ do các Chi nhánh Ngân hàng tỉnh căn cứ tình hình cụ thể mà quy định, nhưng nói chung thời hạn đó không quá 03 tháng. Riêng đối với các đồ mỹ nghệ nạm bạc hoặc bịt bạc thì thời hạn bán có thể dài hơn.

Việc bán hàng tồn kho của các hiệu vàng, bạc tư doanh vẫn theo thể thức cũ.

Đối với tư nhân, cấm hẳn việc buôn bán các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai.

Điều 4. – Các Chi nhánh Ngân hàng khu Tự trị, thành phố, tỉnh tổ chức mua kim khí quý cho nhân dân. Các cửa hàng mỹ nghệ vàng bạc quốc doanh ở Hà Nội, Hải Phòng ngoài việc tổ chức mua kim khí quý, mua cả đá quý, ngọc trai cho nhân dân.

Căn cứ vào nhu cầu trang sức của nhân dân và khả năng của mình, Ngân hàng các tỉnh tổ chức bán đồ trang sức, đồ mỹ nghệ bằng kim khí quý, đá quý, ngọc trai, cho nhân dân.

Giá mua và giá bán các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai và đồ trang sức, mỹ nghệ bằng các loại nói trên do Ngân hàng trung ương quy định và niêm yết tại các trụ sở Ngân hàng các cấp.

Điều 5. – Các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước cần mua kim khí quý dùng vào những công tác khoa học, kỹ thuật, y học hay làm huân chương, huy hiệu, v.v… phải có kế hoạch dự trù trước được cấp Trung ương cơ quan ấy duyệt. Ngân hàng xét để cung cấp theo khả năng và trong phạm vi kế hoạch đã duyệt.

Chương 3:

SỬA CHỮA, CHẾ BIẾN ĐỒ TRANG SỨC

Điều 6. – Những tổ chế biến hoặc thợ chuyên nghiệp được đăng ký sửa chữa, chế biến đồ trang sức, đồ mỹ nghệ bằng kim khí quý, đá quý, ngọc trai phải chịu trách nhiệm với khách hàng của mình về trọng lượng, chất lượng của món hàng đã sửa chữa hoặc chế biến. Trong hóa đơn hoặc hợp đồng về những món hàng chế biến đều phải ghi rõ trọng lượng, chất lượng và trên sản phẩm phải đóng dấu hiệu riêng của mình về tuổi vàng bạc.

Điều 7. – Ngoài việc sửa chữa, chế biến đồ trang sức cho nhân dân, các tổ chế biến hoặc thợ chuyên nghiệp đã đăng ký không được làm công việc lọc vàng, (trở vàng), không được trưng bày những mẫu hàng bằng vàng. Riêng mẫu hàng bằng bạc được trưng bày sau khi đã kê khai tại Ngân hàng.

Điều 8. – Giá công chế biến những đồ trang sức thường dùng phải theo sự quy định của Ủy ban Hành chính khu Tự trị, thành phố, tỉnh. Giá quy định nói trên các cửa hàng phải niêm yết tại nơi khách hàng dễ xem nhất.

Điều 9. – Những tổ chế biến hoặc thợ chuyên nghiệp được đăng ký phải kê khai và mở sổ sách theo đúng những thể lệ do Ngân hàng quy định và phải chịu sự kiểm soát của Ngân hàng. Khi không hoạt động nữa phải nộp lại giấy đăng ký cho Ngân hàng, không được chuyển nhượng cho người khác bất cứ dưới hình thức nào.

Điều 10. – Nếu những tổ chức chế biến hoặc thợ chuyên nghiệp được đăng ký không thi hành đúng những thể lệ đã quy định thì tùy trường hợp nặng nhẹ sẽ bị xử lý theo điều 8 trong Nghị định Thủ tướng Chính phủ số 355-TTg ngày 16 tháng 07 năm 1958.

Chương 4:

MANG CÁC LOẠI KIM KHÍ QUÝ, ĐÁ QUÝ, NGỌC TRAI VÀ NHỮNG ĐỒ TRANG SỨC BẰNG CÁC LOẠI NÓI TRÊN

Điều 11. – Mang các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai chưa chế biến thành đồ trang sức từ nơi này qua nơi khác trong phạm vi một thành phố, một thị xã hoặc từ huyện này qua huyện khác đều phải xin giấy phép của Ngân hàng hoặc cơ quan được ủy nhiệm cấp, trừ trường hợp mang vàng nói ở điều 13 trong thể lệ này.

Những loại vàng, bạc thoi, khối, nén, vàng lá, vàng cốm, (vàng sa, vàng đãi) vàng vụn, tiền vàng, tiền bạc hoặc đồ trang sức chế biến dở dang đều không coi là đồ trang sức. Người nào mang những thứ nói trên không có giấy phép thì coi như mang kim khí quý trái phép.

Điều 12. – Mang đồ trang sức bằng kim khí quý, đá quý, ngọc trai trên số lượng sau đây thì phải xin giấy phép:

- 1 lạng ta (37 gam 5) vàng đã đánh thành đồ trang sức;

- 10 lạng ta (375 gam) bạc đã đánh thành đồ trang sức hoặc đồ mỹ nghệ;

- 2 đồng cân bạch kim (7 gam 5) đã đánh thánh đồ trang sức;

- 3 cara (0 gam 6) mặt đá kim cương đã lắp hoặc gắn vào đồ trang sức.

Mang đồ trang sức từ số lượng nói trên đây trở xuống không phải xin giấy phép nhưng phải có đủ giấy tờ hợp pháp như hóa đơn hoặc giấy chứng nhận v.v… Những giấy tờ đó không nhất thiết phải mang theo người nhưng khi cần thiết thì phải xuất trình.

Ngoài kim cương đã quy định theo mức nói trên, những đồ trang sức bằng đá quý khác mang theo người đều phải lắp, gắn vào đồ trang sức như nhẫn mặt, hoa tai, v.v…

Đối với ngọc trai và các loại ngọc khác mang theo người nếu để rời hoặc xâu thành chuỗi quá 100 hạt đều phải xin giấy phép.

Điều 13. – Những người có số ít vàng chưa đánh thành đồ trang sức muốn mang theo người và những người muốn mang theo đồ trang sức quá số lượng đã quy định nói ở điều 12 trong thể lệ này đều phải xin giấy chứng nhận đặc biệt.

Muốn xin giấy chứng nhận đặc biệt phải đến Ngân hàng xin giấy phép để mang vàng đến Ngân hàng đóng dấu, ghi đặc điểm. Sau đó sẽ được cấp một giấy chứng nhận đặc biệt thay cho giấy mang vàng.

Khi cần thiết, Ngân hàng có thể kiểm soát những loại vàng đã được cấp giấy chứng nhận đặc biệt

Điều 14. – Mang các loại kim khí quý, đã quý, ngọc trai chưa chế biến thành đồ trang sức hoặc mang những đồ trang sức, đồ mỹ nghệ bằng các loại nói trên quá số lượng quy định ở điều 12 thì phải xin giấy phép tại:

- trong phạm vi thành phố hay thị xã thì xin giấy phép Ủy ban Hành chính quận hay thị xã. Ra ngoài thành phố hay thị xã thì phải xin giấy phép Ngân hàng thành phố hay tỉnh.

- tự huyện này qua huyện khác trong phạm vi một tỉnh phải xin giấy phép Ủy ban Hành chính xã.

- từ tỉnh này qua tỉnh khác phải xin giấy phép Ngân hàng các cấp hoặc Ủy ban Hành chính huyện ở những nơi chưa có Ngân hàng.

- giấy chứng nhận đặc biệt nói ở điều 13 trong thể lệ này do Chi nhánh Ngân hàng cấp tỉnh cấp.

Riêng đối với việc cấp giấy phép mang vàng thì Ủy ban Hành chính quận, thị xã và Ủy ban Hành chính xã chỉ được cấp giấy phép mang một số lượng không quá 3 lạng ta (112 gam 5).

Giấy phép mang kim khí quý, đá quý, ngọc trai không được cho người khác mượn.

Điều 15. – Mang vàng cốm (vàng sa, vàng đãi) ở những nơi có đãi vàng sẽ do Chi nhánh Ngân hàng tỉnh căn cứ vào tình hình cụ thể để quy định việc cấp giấy phép.

Chương 5:

ĐỐI VỚI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÍT NGƯỜI

Điều 16. – Thể lệ quản lý kim khí quý, đá quý, ngọc trai này áp dụng chung cho cả những vùng đồng bào dân tộc ít người.

Nhưng để chiếu cố đến phong tục tập quán của một số vùng dân tộc ít người mà đồng bào nơi đó còn quen dùng các loại bạc nén, bạc hoa xòe (bạc trắng, bạc đồng, bạc hào) để làm đồ trang sức và trao đổi trong nội bộ về các việc ma chay, cưới xin v.v… nên quy định như sau:

a) Cho phép một số vùng dân tộc ít người được tạm thời dùng bạc nén và bạc hoa xòe trong nội bộ dân tộc ít người với nhau theo phong tục tập quán. Ngân hàng sẽ cùng với các Ủy ban Hành chính khu Tự trị và tỉnh có dân tộc ít người nghiên cứu quy định vùng tạm thời được dùng bạc nén và bạc hoa xòe.

b) Đồng bào thuộc các dân tộc ít người đeo đồ trang sức bằng bạc theo phong tục tập quán của dân tộc mình đi từ nơi này qua nơi khác không phải xin cấp giấy phép.

c) Việc mang bạc nén, bạc hoa xòe từ các vùng được tạm thời cho dùng tới các vùng cấm lưu hành thì phải xin giấy phép Ủy ban Hành chính xã nơi mình ở.

Chương 6:

CÁC ĐIỀU KHOẢN KHÁC

Điều 17. – Cấm lưu hành và tàng trữ các loại tiền bạc như bạc hoa xòe, (bạc trắng, bạc đồng, bạc hào) trừ một số vùng dân tộc ít người có quy định riêng ở điều 16 trong thể lệ này.

Điều 18. – Mọi người đều có quyền cất giữ kim khí quý, đá quý, ngọc trai. Để bảo vệ quyền lợi cho người cất giữ và tránh sự gian lậu, các Chi nhánh Ngân hàng khu Tự trị, thành phố, tỉnh sẽ căn cứ tình hình và hoàn cảnh cụ thể của địa phương để công bố các thể lệ về việc cấp giấy chứng nhận và tiến hành tổ chức việc cấp giấy chứng nhận cho nhân dân.

Trong thời gian các chi nhánh Ngân hàng chưa công bố và tổ chức việc cấp giấy chứng nhận rộng khắp trong nhân dân, nếu có người muốn kê khai để được cấp giấy chứng nhận giữ vàng thì các Chi nhánh Ngân hàng cũng có thể tiến hành cấp giấy chứng nhận giữ vàng cho những người đó.

Điều 19. – Việc xuất nhập khẩu kim khí quý, đá quý, ngọc trai thi hành theo thể lệ quản lý ngoại hối của Ngân hàng quốc gia Việt Nam.

Điều 20. – Những người làm trái thể lệ này thì xử lý theo các điều quy định trong Nghị định số 355-TTg ngày 16 tháng 07 năm 1958.

Điều 21. – Tất cả những điều quy định trước đây của Ngân hàng quốc gia Việt Nam trái với thể lệ này đều bãi bỏ.

Điều 22. – Bản thể lệ này có hiệu lực kể từ ngày công bố.

Điều 23. – Bản thể lệ này do Ngân hàng quốc gia Việt Nam ban hành, khi thay đổi cũng vậy.

 

KT. TỔNG GIÁM ĐỐC
NGÂN HÀNG QUỐC GIA VIỆT NAM
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

 


Tạ Hoàng Cơ

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thể lệ số 2154-TL/VB về việc quản lý các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai do Ngân hàng Quốc gia ban hành

Số hiệu: 2154-TL/VB
Loại văn bản: Văn bản khác
Ngày ban hành: 01/08/1958
Nơi ban hành: Ngân hàng quốc gia
Người ký: Tạ Hoàng Cơ
Ngày công báo: 13/08/1958
Số công báo: Số 30
Ngày hiệu lực: 13/08/1958
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Tiền tệ - Ngân hàng, Tài nguyên - Môi trường
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thể lệ số 2154-TL/VB về việc quản lý các loại...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký