Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Thông tư số 05/2003/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn chi tiết về việc xử lý hàng hóa tồn đọng tại các cảng biển Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm giải quyết triệt để tình trạng ùn tắc hàng hóa, giải phóng năng lực thông qua của các cảng biển, đồng thời bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Thông tư này hướng dẫn trình tự, thủ tục phân loại, thông báo, xác lập quyền sở hữu nhà nước và xử lý đối với các loại hàng hóa nhập khẩu bị tồn đọng tại khu vực cảng biển Việt Nam. Đối tượng áp dụng bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh cảng biển, cơ quan Hải quan, cơ quan Tài chính địa phương, các hãng tàu vận chuyển, đại lý hàng hải cùng các tổ chức, cá nhân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến lô hàng tồn đọng.

Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)

- Quy định chung về xác định hàng hóa tồn đọng (Điều 1)

  • Hàng hóa tồn đọng tại cảng biển được xác định là hàng hóa nhập khẩu đã lưu kho, lưu bãi tại cảng quá 90 ngày kể từ ngày hàng đến cảng nhưng không có người đến nhận hoặc không thể giao được cho người nhận hàng.
  • Đối với các loại hàng hóa dễ bị hư hỏng, hàng hóa là chất độc hại, chất dễ cháy nổ hoặc hàng hóa có hạn sử dụng ngắn, thời hạn xác định tồn đọng có thể ngắn hơn 90 ngày nhằm bảo đảm an toàn phòng chống cháy nổ và vệ sinh môi trường tại khu vực cảng.
  • Quy định rõ việc phân loại sơ bộ hàng hóa ngay từ khi phát hiện tồn đọng để có phương án bảo quản, lưu giữ phù hợp, tránh làm giảm giá trị thương mại của hàng hóa.

- Trách nhiệm thông báo và tìm chủ sở hữu hàng hóa (Điều 2)

  • Doanh nghiệp cảng biển có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với hãng tàu hoặc đại lý hãng tàu để tiến hành rà soát, lập danh mục các lô hàng đã quá thời hạn lưu cảng.
  • Thực hiện nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho người nhận hàng ghi trên vận đơn (nếu có địa chỉ rõ ràng) và thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
  • Thời hạn để người nhận hàng hoặc người có quyền lợi liên quan đến nhận hàng sau khi có thông báo công khai là quy định bắt buộc trước khi tiến hành các bước xử lý tiếp theo.

- Thành lập và vận hành Hội đồng xử lý hàng hóa tồn đọng (Điều 3)

  • Quy định về việc thành lập Hội đồng xử lý hàng hóa tồn đọng tại từng địa phương có cảng biển, do đại diện cơ quan Tài chính làm Chủ tịch Hội đồng.
  • Thành phần Hội đồng bắt buộc phải có sự tham gia của đại diện cơ quan Hải quan cửa khẩu, đại diện doanh nghiệp cảng biển nơi có hàng tồn đọng và các cơ quan quản lý chuyên ngành liên quan (như y tế, kiểm dịch, môi trường nếu hàng hóa thuộc diện đặc thù).
  • Hội đồng có nhiệm vụ kiểm tra thực tế hàng hóa, áp giá, quyết định phương án xử lý cụ thể đối với từng lô hàng (bán đấu giá, tiêu hủy hoặc chuyển giao cho các cơ quan nhà nước sử dụng).

- Thủ tục xác lập quyền sở hữu nhà nước đối với hàng hóa tồn đọng (Điều 4)

  • Sau khi hết thời hạn thông báo theo quy định mà không có người đến nhận hoặc chủ hàng tuyên bố từ bỏ hàng hóa bằng văn bản, Hội đồng xử lý sẽ tiến hành thủ tục trình cơ quan có thẩm quyền quyết định xác lập quyền sở hữu nhà nước đối với lô hàng.
  • Quy trình lập biên bản tịch thu, quyết định xác lập quyền sở hữu phải được thực hiện chặt chẽ, minh bạch, làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức bán đấu giá phát mại hàng hóa hoặc tiêu hủy đối với hàng hóa không còn giá trị sử dụng, hàng cấm, hàng gây ô nhiễm môi trường.

Hiệu lực thi hành

Thông tư 05/2003/TT-BTC có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Việc thực hiện nghiêm túc các điều khoản từ Điều 1 đến Điều 4 của Thông tư giúp các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cảng chủ động, nhanh chóng giải quyết triệt để vấn đề hàng hóa ùn ứ tại các cửa khẩu cảng biển quốc tế.

BỘ TÀI CHÍNH
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 05/2003/TT-BTC

Hà Nội, ngày 13 tháng 1 năm 2003

 

THÔNG TƯ

CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 05/2003/TT-BTC NGÀY 13 THÁNG 01 NĂM 2003 HƯỚNG DẪN XỬ LÝ HÀNG HOÁ TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG BIỂN VIỆT NAM

Căn cứ Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ;
Căn cứ Nghị định số 178/CP ngày 28/10/1994 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Tài chính;
Để giải quyết hàng hoá tồn đọng không có người nhận ở các cảng biển, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các cảng biển; Theo đề nghị của các địa phương và các cảng biển; sau khi trao đổi với Bộ Giao thông vận tải và Bộ Thương Mại, Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về xử lý hàng hoá tồn đọng phát sinh tại các cảng biển Việt Nam như sau:

I- PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG:

1. Thông tư này hướng dẫn việc xử lý đối với hàng hoá tồn đọng tại cảng biển Việt Nam bao gồm:

Hàng quá thời hạn lưu kho bãi không có người nhận.

Hàng thừa so với vận đơn.

Hàng hoá ngoài lược khai.

Hàng tạm gửi nhưng không có người nhận.

Hàng xuất khẩu bị trả về, không có người nhận.

Hàng hoá do các Đại lý giải phóng container, gửi kho bãi cảng nhưng không có người nhận.

Hàng hoá do người vận chuyển đường biển lưu giữ tại Việt Nam bỏ lại cảng biển và người vận chuyển có văn bản từ bỏ quyền lưu giữ.

Các loại hàng hoá trên được coi là tồn đọng tại cảng biển sau khi đã được Cảng biển thông báo cho Chủ hàng hoặc Đại lý đến nhận ít nhất 3 lần trong thời hạn 60 ngày nhưng không có người đến nhận hoặc là 1 lần trong thời hạn 5 ngày nhưng không có người đến nhận đối với hàng hoá đông lạnh, thực phẩm mau hỏng, hoá chất nguy hiểm, độc hại.

2. Thông tư này không áp dụng đối với các loại hàng hoá sau:

a. Hàng hoá do người vận chuyển đường biển lưu giữ tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định số 55/1998/NĐ-CP ngày 22/7/1998 của Chính phủ về xử lý hàng hoá do người vận chuyển đường biển lưu giữ tại Việt Nam.

b. Hàng hoá bị từ bỏ, thất lạc, nhầm lẫn, quá thời hạn khai hải quan mà không có người đến nhận theo quy định tại Điều 45 Luật Hải quan.

II- TỔ CHỨC XỬ LÝ HÀNG HOÁ TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG BIỂN:

1. Thành lập Hội đồng xử lý hàng hoá tồn đọng tại cảng biển:

Tại các tỉnh, thành phố có cảng biển, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố thành lập Hội đồng về xử lý hàng tồn đọng tại cảng biển, có thể thành lập Hội đồng thường trực hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm.

Thành phần Hội đồng xử lý hàng tồn đọng tại cảng biển (sau đây gọi tắt là Hội đồng) bao gồm:

Lãnh đạo Sở Tài chính Vật gía: Chủ tịch Hội đồng.

Giám đốc Cảng biển: thường trực Hội đồng (thay đổi theo từng cảng biển).

Đại diện Cục Hải quan: thành viên Hội đồng.

Đại diện Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố có cảng biển (nếu cần): thành viên Hội đồng.

2. Tổ chức xử lý hàng hoá tồn đọng tại cảng biển:

Giám đốc cảng biển căn cứ vào tình hình thực tế phát sinh khối lượng hàng hoá tồn đọng tại cảng biển đến mức cần thiết phải xử lý, có văn bản kê khai từng loại hàng hoá tồn đọng, báo cáo Hội đồng để xử lý:

a. Hội đồng tổ chức thẩm định và định giá giá trị lô hàng:

Hội đồng tiến hành thủ tục mở niêm phong hàng hoá, niêm phong container, thực hiện kiểm đếm số lượng hàng hoá tồn đọng thực tế tại cảng biển, phân loại hàng hoá để xử lý.

Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng thành lập tổ chuyên viên giúp việc cho Hội đồng và mời các cơ quan có liên quan để tiến hành kiểm kê, phân loại hàng hoá; xác định chất lượng và giá trị hàng hoá.

b. Đối với hàng hoá không còn giá trị sử dụng: Giám đốc Cảng biển tổ chức tiêu huỷ dưới sự giám sát của Hội đồng.

c. Đối với hàng hoá còn có thể sử dụng được:

- Hội đồng tổ chức bán chỉ định đối với lô hàng có gía trị dưới 10 triệu đồng và tổ chức bán đấu giá đối với lô hàng có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên.

- Riêng đối với hàng hoá là lương thực, thực phẩm, hàng công nghệ phẩm dễ hư hỏng: Hội đồng được phép bán chỉ định cho các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh đúng ngành hàng.

d. Việc bán đấu giá hàng hoá tồn đọng được thực hiện theo "Quy chế bán đấu gía tài sản" ban hành kèm theo Nghị định số 86/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ.

đ. Hàng hoá tồn đọng tại cảng biển được đưa ra xử lý không phải làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá và không phải chịu thuế nhập khẩu.

e. Thủ tục về giao nhận hàng hoá được tiến hành theo những quy định hiện hành của cảng biển.

III- XỬ LÝ TIỀN THU HỒI VỀ BÁN HÀNG HOÁ TỒN ĐỌNG TẠI CẢNG BIỂN:

1. Người mua hàng hoá tồn đọng có trách nhiệm thanh toán tiền mua hàng hoá cho doanh nghiệp Cảng biển.

2. Doanh nghiệp Cảng biển sử dụng hoá đơn bán hàng GTGT của Bộ Tài chính để phát hành cho người mua hàng. Giá bán hàng hoá tồn đọng (giá bán chỉ định hoặc giá đấu giá) mà người mua chấp nhận là giá có thuế GTGT.

3. Kê khai và nộp thuế GTGT bán hàng hoá tồn đọng: được thực hiện vào tháng gần nhất thời điểm bán hàng cùng với việc kê khai thuế hàng tháng của doanh nghiệp và ghi một dòng riêng.

4. Tiền thu về bán hàng hoá tồn đọng được xử lý như sau:

+ Nộp thuế GTGT về bán hàng hoá.

+ Trích tối đa không quá 5% giá trị hàng hoá bán được để chi cho hoạt động của Hội đồng xử lý hàng tồn đọng tại cảng biển, bao gồm: chi phí kiểm kê, phân loại hàng hoá; chi phí cho việc xác định chất lượng và giá trị hàng hoá; chi phí liên quan đến việc thông tin về bán đấu giá hàng hoá, tổ chức cuộc bán đấu giá... theo đúng chế độ Nhà nước quy định.

+ Chi phí giám định chất lượng hàng hoá của cơ quan chức năng (nếu có).

+ Chi phí cho việc tiêu huỷ hàng hoá.

+ Thanh toán các khoản cước bốc xếp, lưu kho bãi, giao nhận và bảo quản hàng hoá phát sinh do hàng hoá tồn đọng tại cảng.

+ Số còn lại nộp vào NSNN địa phương.

5. Các cảng biển có trách nhiệm thanh quyết toán việc xử lý hàng hoá tồn đọng cùng với quyết toán tài chính hàng năm của doanh nghiệp.

6. Tiền thu về bán hàng hoá tồn đọng trong năm nếu không đủ bù đắp các chi phí phát sinh liên quan đến việc xử lý hàng hoá tồn đọng, các cảng biển được hạch toán số thiếu vào chi phí sản xuất kinh doanh trong năm của doanh nghiệp.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Đối với các lô hàng phát sinh tồn đọng tại cảng biển sau ngày Bộ Tài chính bãi bỏ Thông tư số 45/TC/GTBĐ ngày 21/9/1992 mà chưa xử lý, được áp dụng để xử lý theo quy định tại Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính xem xét, sửa đổi bổ sung cho phù hợp.

 

Trần Văn Tá

(Đã ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 05/2003/TT-BTC hướng dẫn xử lý hàng hoá tồn đọng tại cảng biển Việt Nam do Bộ Tài Chính ban hành

Số hiệu: 05/2003/TT-BTC
Loại văn bản: Thông tư
Ngày ban hành: 13/01/2003
Nơi ban hành: Bộ Tài chính
Người ký: Trần Văn Tá
Ngày công báo: 05/03/2003
Số công báo: Số 13
Ngày hiệu lực: 13/01/2003
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Xuất nhập khẩu
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thông tư 05/2003/TT-BTC hướng dẫn xử lý hàng...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký