Nghị định 55/1998/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về trình tự, thủ tục xử lý đối với hàng hóa do người vận chuyển đường biển lưu giữ tại Việt Nam nhằm bảo đảm việc thanh toán tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường do lưu tàu và các khoản chi phí liên quan khác theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với việc xử lý hàng hóa do người vận chuyển đường biển lưu giữ tại Việt Nam để bảo đảm các khoản nợ liên quan đến vận chuyển hàng hóa. Quy định này cũng được áp dụng đối với người vận chuyển đường biển là tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện lưu giữ hàng hóa tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Quyền lưu giữ và các trường hợp xử lý hàng hóa lưu giữ
Người vận chuyển đường biển (sau đây gọi là Người lưu giữ) có quyền lưu giữ và xử lý hàng hóa trong các trường hợp cụ thể sau:
- Người thuê vận chuyển hoặc Người nhận hàng chưa thanh toán đầy đủ hoặc không đưa ra biện pháp bảo đảm thanh toán cần thiết cho các khoản nợ (bao gồm tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường lưu tàu và các chi phí hợp lý khác). Người lưu giữ chỉ được giữ lượng hàng hóa có giá trị tương đương để bảo đảm thanh toán, trừ trường hợp lô hàng có tính chất đặc thù không thể chia tách.
- Không có người đến nhận hàng hóa.
- Người nhận hàng từ chối nhận hàng hoặc cố tình trì hoãn việc dỡ hàng.
- Xuất hiện tình trạng có nhiều người cùng xuất trình vận đơn gốc hoặc các chứng từ vận chuyển tương đương để giành quyền nhận hàng.
- Thời hạn phát sinh quyền xử lý: Quyền xử lý hàng hóa phát sinh sau sáu mươi (60) ngày kể từ ngày gửi thông báo đầu tiên về việc lưu giữ. Đối với hàng hóa mau hỏng, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng an ninh quốc phòng hoặc chi phí lưu kho bãi quá lớn so với giá trị thực tế, Người lưu giữ được quyền xử lý sớm hơn nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo.
- Trách nhiệm pháp lý: Người lưu giữ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính hợp pháp của toàn bộ quá trình lưu giữ và xử lý hàng hóa.
Trình tự, thủ tục thông báo và ủy quyền bán đấu giá
Để tiến hành xử lý hàng hóa lưu giữ, Người lưu giữ phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình thông báo và ủy quyền bán đấu giá như sau:
- Thông báo ban đầu: Ngay khi bắt đầu lưu giữ hàng hóa, Người lưu giữ phải gửi thông báo bằng văn bản cho Người thuê vận chuyển hoặc Người nhận hàng về việc lưu giữ và dự kiến bán đấu giá hàng hóa để thu hồi nợ.
- Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Sau ba mươi (30) ngày kể từ ngày gửi thông báo đầu tiên, nếu không nhận được phản hồi hoặc không được thanh toán nợ, Người lưu giữ phải đăng thông báo ba (3) lần liên tiếp trên báo hàng ngày của Trung ương hoặc cấp tỉnh.
- Ủy quyền bán đấu giá: Sau sáu mươi (60) ngày kể từ ngày thông báo đầu tiên, nếu các khoản nợ vẫn chưa được thanh toán, Người lưu giữ có quyền ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá hàng hóa cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá thuộc Sở Tư pháp hoặc tổ chức đấu giá chuyên nghiệp được Sở Tư pháp quản lý.
- Quy chế áp dụng: Việc bán đấu giá được thực hiện theo Quy chế bán đấu giá tài sản hiện hành và các quy định cụ thể tại Nghị định này.
Quy định đối với hàng hóa thuộc diện đặc biệt
Đối với các loại hàng hóa có tính chất đặc thù, quy trình xử lý được kiểm soát chặt chẽ:
- Hàng hóa cấm nhập khẩu hoặc cấm lưu thông: Phải được xử lý theo quy định pháp luật hiện hành. Việc bán đấu giá các mặt hàng này chỉ được thực hiện sau khi có sự cho phép bằng văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Hàng hóa nhập khẩu có điều kiện hoặc theo hạn ngạch: Trước khi ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá, Người lưu giữ bắt buộc phải hoàn thành thủ tục xin giấy phép nhập khẩu từ Bộ Thương mại.
Giám định chất lượng và xác định giá khởi điểm
Công tác chuẩn bị trước khi bán đấu giá hàng hóa lưu giữ bao gồm các bước:
- Giám định chất lượng: Người lưu giữ có nghĩa vụ thuê đơn vị giám định chất lượng hàng hóa trước khi ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá. Chi phí giám định này được tính gộp vào chi phí liên quan đến việc bán đấu giá.
- Xác định giá khởi điểm: Giá khởi điểm do tổ chức bán đấu giá quyết định dựa trên việc tham khảo ý kiến của Người lưu giữ. Biên bản xác định giá khởi điểm phải được lập và lưu trữ đầy đủ trong hồ sơ đấu giá.
Quản lý, phân phối và xử lý tiền thu được từ bán đấu giá
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán đấu giá hàng hóa lưu giữ phải được quản lý và phân phối theo nguyên tắc:
- Tài khoản quản lý: Tiền bán đấu giá được gửi vào "Tài khoản tiền quản lý, giữ hộ" của Người lưu giữ mở tại Ngân hàng Việt Nam.
- Thứ tự ưu tiên thanh toán:
- Các khoản thuế, lệ phí và chi phí liên quan trực tiếp đến việc ký gửi, tổ chức bán đấu giá hàng hóa.
- Các khoản nợ hợp pháp đối với Người lưu giữ (tiền cước, tiền phạt lưu tàu...).
- Các chi phí hợp lý phát sinh từ quá trình lưu giữ hàng hóa.
- Yêu cầu về chứng từ: Việc chi trả các khoản nêu trên phải bảo đảm có đầy đủ chứng từ hợp lệ theo chế độ tài chính, kế toán của Nhà nước.
- Xử lý khi thiếu hoặc thừa tiền:
- Trường hợp thiếu tiền: Nếu số tiền bán đấu giá không đủ chi trả, Người lưu giữ có quyền tiếp tục yêu cầu các bên liên quan thanh toán phần còn thiếu.
- Trường hợp thừa tiền: Số tiền còn lại được giữ tại tài khoản tạm giữ để hoàn trả cho người có quyền nhận hợp pháp.
Thủ tục hoàn trả và xử lý tiền thừa không có người nhận
Quy trình giải quyết số tiền thừa sau khi bán đấu giá được thực hiện như sau:
- Thông báo tiền thừa: Trong vòng ba (3) ngày kể từ ngày hoàn tất chi trả, Người lưu giữ phải thông báo cho Người thuê vận chuyển hoặc Người nhận hàng, đồng thời đăng tin ba (3) lần liên tiếp trên báo hàng ngày của Trung ương hoặc cấp tỉnh về số tiền thừa và tài khoản tạm gửi tại Ngân hàng.
- Thời hạn nhận lại tiền: Người có quyền nhận hợp pháp có quyền yêu cầu và được nhận lại số tiền thừa này từ Người lưu giữ.
- Nộp ngân sách Nhà nước: Sau một trăm tám mươi (180) ngày kể từ ngày thông báo mà không có người nhận hoặc người yêu cầu không chứng minh được quyền nhận hợp pháp, Người lưu giữ phải nộp toàn bộ số tiền thừa vào Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh nơi phát sinh việc lưu giữ.
- Giải quyết tranh chấp: Nếu Người lưu giữ từ chối trả tiền thừa, người yêu cầu có quyền khởi kiện ra Tòa án. Khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án công nhận quyền lợi hợp pháp của người yêu cầu, Người lưu giữ sẽ làm văn bản đề nghị cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện thủ tục thoái thu để hoàn trả tiền.
- Trường hợp nhiều người có quyền nhận: Số tiền thừa sẽ được phân chia theo tỷ lệ tương ứng với quyền lợi hợp pháp của từng người.
Khiếu nại, tố cáo và điều khoản thi hành
Các quy định về hiệu lực và trách nhiệm thi hành văn bản:
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo: Mọi hành vi vi phạm, khiếu nại hoặc tố cáo liên quan đến việc thực hiện Nghị định này được giải quyết theo quy định của pháp luật hiện hành về khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm.
- Hiệu lực thi hành: Nghị định 55/1998/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau mười lăm (15) ngày kể từ ngày ký.
- Trách nhiệm thực hiện: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 55/1998/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 22 tháng 7 năm 1998 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Bộ luật Hàng hải Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,
NGHỊ ĐỊNH:
1. Người vận chuyển có quyền lưu giữ và xử lý hàng hóa lưu giữ trong các trường hợp sau đây:
a) Người thuê vận chuyển hoặc Người nhận hàng chưa thanh toán hết hoặc không đưa ra một bảo đảm cần thiết về thanh toán hết tiền cước vận chuyển, tiền bồi thường do lưu tầu và các chi phí hợp lý khác liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa đó (sau đây gọi là ''các khoản nợ''). Người vận chuyển chỉ được lưu giữ số lượng hàng hóa có giá trị bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các chi phí quy định tại
b) Không có Người nhận hàng.
c) Người nhận hàng từ chối nhận hàng hoặc trì hoãn việc dỡ hàng.
d) Có nhiều người cùng xuất trình vận đơn gốc, giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hóa tương đương có giá trị để nhận hàng.
2. Quyền xử lý hàng hóa lưu giữ phát sinh sau sáu mươi (60) ngày, kể từ ngày Người vận chuyển gửi thông báo đầu tiên về việc lưu giữ. Trong trường hợp hàng hóa lưu giữ thuộc loại mau hỏng , có khả năng gây ô nhiễm môi trường, có ảnh hưởng tới an ninh quốc phòng hoặc việc ký gửi hàng hóa lưu giữ quá tốn kém so với giá trị thực tế của hàng hóa thì Người vận chuyển có quyền xử lý hàng hóa lưu giữ sớm hơn thời hạn quy định, nhưng vẫn phải thực hiện việc thông báo theo quy định tại
3. Người vận chuyển thực hiện việc lưu giữ hàng hóa và xử lý hàng hóa lưu giữ quy định tại Nghị định này (sau đây gọi là ''Người lưu giữ'') phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính hợp pháp của việc lưu giữ và việc xử lý hàng hóa lưu giữ đó.
2. Sau ba mươi (30) ngày, kể từ ngày gửi thông báo đầu tiên, mà Người lưu giữ không nhận được trả lời của Người thuê vận chuyển hoặc của Người nhận hàng, hoặc không được thanh toán hết các khoản nợ, thì Người lưu giữ phải thông báo ba (3) lần liên tiếp trên báo hàng ngày của Trung ương hoặc của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là ''cấp tỉnh'').
3. Sau sáu mươi (60) ngày, kể từ ngày gửi thông báo đầu tiên, mà Người lưu giữ vẫn không được thanh toán hết các khoản nợ, thì Người lưu giữ có quyền ký hợp đồng ủy quyền việc bán đấu giá hàng hóa lưu giữ cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá thuộc Sở Tư pháp hoặc tổ chức kinh doanh dịch vụ bán đấu giá chuyên nghiệp do Sở Tư pháp quản lý về nghiệp vụ (sau đây gọi là ''Người bán đấu giá'').
2. Trong trường hợp hàng hóa lưu giữ thuộc loại nhập khẩu có điều kiện (hoặc phải có hạn ngạch) thì trước khi ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá Người lưu giữ phải làm thủ tục xin giấy phép nhập khẩu hàng hóa của Bộ Thương mại.
Việc chi trả số tiền này được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Thuế, lệ phí, các chi phí liên quan đến việc ký gửi và bán đấu giá;
b) Các khoản nợ đối với Người lưu giữ;
c) Các khoản chi phí hợp lý phát sinh do việc lưu giữ hàng hóa.
2. Việc chi trả số tiền nói tại khoản 1 Điều này phải có đầy đủ chứng từ hợp lệ theo đúng chế độ tài chính kế toán của Nhà nước.
3. Số tiền còn thừa sau khi chi trả các khoản tiền nói tại khoản 1 Điều này được giữ lại tại ''Tài khoản tiền quản lý, giữ hộ'' để trả lại cho người có quyền nhận.
4. Trong trường hợp số tiền thu được do bán đấu giá hàng hóa lưu giữ không đủ để chi trả các khoản tiền quy định tại khoản 1 Điều này thì Người lưu giữ có quyền tiếp tục yêu cầu những người liên quan trả đủ.
2. Trong trường hợp người có quyền nhận số tiền còn thừa yêu cầu nhận lại số tiền đó, thì Người lưu giữ phải trả cho người yêu cầu.
3. Sau một trăm tám mươi (180) ngày, kể từ ngày Người lưu giữ thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này, mà không có ai yêu cầu nhận lại số tiền còn thừa hoặc có người yêu cầu, nhưng không phải là người có quyền nhận, thì Người lưu giữ có nghĩa vụ nộp số tiền đó vào ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi phát sinh việc lưu giữ hàng hóa.
Trong trường hợp Người yêu cầu nhận tiền còn thừa không được Người lưu giữ chấp nhận thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Khi Tòa án có quyết định công nhận số tiền còn thừa là quyền lợi hợp pháp của người yêu cầu nhận tiền thì Người lưu giữ cần có văn bản đề nghị cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thoái thu số tiền đã nộp để trả lại cho người yêu cầu nhận tiền hợp pháp.
Điều 13. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị định này.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |