Thông tư 06-TC/TVHC được Bộ Tài chính ban hành năm 1962 nhằm hướng dẫn chi tiết về công tác quản lý thu, chi tài chính đối với các nhà trẻ thuộc cơ quan hành chính, sự nghiệp và các doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản này áp dụng đối với tất cả các nhà trẻ được thành lập tại các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, công trường, lâm trường, trường học và các tổ chức sự nghiệp công lập. Đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp bao gồm ban quản lý nhà trẻ, cán bộ phụ trách tài vụ, các bậc phụ huynh có con em gửi tại nhà trẻ và các cơ quan quản lý cấp trên có liên quan.
Nguyên tắc quản lý tài chính đối với nhà trẻ
- Hoạt động thu, chi của nhà trẻ phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, phục vụ thiết thực cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên chức yên tâm công tác.
- Các khoản thu phải được tính toán hợp lý dựa trên nhu cầu thực tế và khả năng đóng góp của phụ huynh, kết hợp với nguồn hỗ trợ từ quỹ phúc lợi hoặc ngân sách nhà nước.
Quy định chi tiết về các khoản thu của nhà trẻ
- Tiền đóng góp của phụ huynh: Đây là nguồn thu chủ yếu để trang trải chi phí ăn uống trực tiếp cho trẻ. Mức đóng góp được xác định cụ thể theo độ tuổi, chế độ dinh dưỡng và số ngày thực tế trẻ gửi tại nhà trẻ.
- Nguồn hỗ trợ từ ngân sách và quỹ phúc lợi: Các cơ quan, xí nghiệp có trách nhiệm trích một phần từ quỹ phúc lợi tập thể hoặc đề xuất ngân sách nhà nước hỗ trợ để mua sắm trang thiết bị ban đầu, sửa chữa cơ sở vật chất và hỗ trợ một phần chi phí hoạt động thường xuyên.
Quy định chi tiết về các khoản chi của nhà trẻ
- Chi tiền ăn cho trẻ: Toàn bộ số tiền đóng góp của phụ huynh cho mục đích ăn uống phải được sử dụng trọn vẹn vào việc mua lương thực, thực phẩm, sữa và các nhu yếu phẩm dinh dưỡng cho trẻ, tuyệt đối không được sử dụng vào mục đích khác.
- Chi lương và phụ cấp cho nhân viên: Tiền lương, phụ cấp của cô nuôi dạy trẻ, bảo mẫu và nhân viên hành chính của nhà trẻ được chi trả từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc quỹ lương của cơ quan, xí nghiệp chủ quan theo chế độ hiện hành.
- Chi mua sắm và sửa chữa cơ sở vật chất: Chi phí mua sắm đồ chơi, giường, chiếu, chăn, màn, dụng cụ nhà bếp và các chi phí sửa chữa nhỏ nhà cửa, lớp học được đài thọ từ nguồn kinh phí hành chính hoặc quỹ phúc lợi của đơn vị.
Công tác lập kế hoạch, quyết toán và giám sát tài chính
- Ban quản lý nhà trẻ có trách nhiệm lập dự toán thu, chi hàng quý, hàng năm trình lãnh đạo cơ quan, xí nghiệp phê duyệt.
- Mọi khoản thu, chi phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ và được ghi chép rõ ràng vào sổ sách kế toán theo hướng dẫn của bộ phận tài vụ cơ quan chủ quản.
- Định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý, nhà trẻ phải thực hiện công khai tài chính, báo cáo quyết toán trước hội nghị công nhân viên chức hoặc ban thanh tra nhân dân của đơn vị để bảo đảm tính giám sát chặt chẽ.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 06-TC/TVHC năm 1962 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với thông tư này đều bãi bỏ. Bộ Tài chính phối hợp với các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện thông tư này tại các địa phương và đơn vị trung ương.
| BỘ TÀI CHÍNH | VIỆT |
| Số: 06-TC/TVHC | Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 1962 |
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
| Kính gửi: | -Các Bộ, các cơ quan ngang Bộ |
Thông tư liên bộ số 18-TT/LB ngày 18/10/1961 hướng dẫn thi hành Chỉ thị số 126-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc cải tiến chế độ giữ trẻ đã có quy định rõ về chi phí của các nhà trẻ. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể thêm về công tác quản lý thu, chi của các nhà trẻ như sau:
I. NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ THU CHI CỦA NHÀ TRẺ
a) Quản lý thu, chi của nhà trẻ theo lối bù trừ chênh lệch.
b) Phải giữ sổ sách kế toán riêng và phải có dự toán và quyết toán thu chi riêng.
c) Phần trợ cấp cho nhà trẻ được trích ở quỹ phúc lợi tập thể (thuộc dự toán của cơ quan, xí nghiệp…) theo một tỷ lệ quy định so với thực chi quỹ tiền lương.
d) Việc quản lý thu, chi của nhà trẻ do cơ quan, xí nghiệp tổ chức nhà trẻ chịu trách nhiệm; cơ quan tài chính có trách nhiệm giám đốc chi tiêu của nhà trẻ theo đúng chế độ tiêu chuẩn. Trong khi chờ đợi Chính phủ giao nhiệm vụ cho một cơ quan quản lý thống nhất toàn bộ thu, chi của nhà trẻ, tạm thời các cơ quan tài chính xét duyệt và điều hòa kế hoạch, thu chi của nhà trẻ để có thể đảm bảo được tỷ lệ chung đã quy định.
II. NỘI DUNG THU, CHI CỦA NHÀ TRẺ
1. Thu - gồm các khoản thu sau đây:
a) Tiền góp hàng tháng của nữ cán bộ, công nhân, viên chức có con gửi ở nhà trẻ của cơ quan, xí nghiệp theo quy định trong Thông tư số 18-TT/LB ngày 18/10/1961. Nữ cán bộ, công nhân viên chức có con gửi ở nhà trẻ của cơ quan, xí nghiệp nào thì do cơ quan, xí nghiệp đó trực tiếp trừ vào lương hàng tháng và chuyển sang số thu của nhà trẻ.
b) Tiền trợ cấp chênh lệch giữa thu và chi cho nhà trẻ của cơ quan, xí nghiệp – (phần trợ cấp của cơ quan, xí nghiệp, nói chung, không được vượt quá tỷ lệ % đã quy định so với số thực chi quỹ lương của cơ quan, xí nghiệp).
Ngoài ra, các xí nghiệp có quỹ phúc lợi của xí nghiệp có thể trích một phần để chi thêm cho việc phát triển nhà trẻ theo quy định trong Chỉ thị số 126-TTg ngày 01/4/1961 của Thủ tướng Chính phủ.
2. Chi - gồm các chi phí thường xuyên cho nhà trẻ:
a) Tiền lương cấp bậc và phụ cấp lương của nhân viên giữ trẻ (phụ trách nhà trẻ, bảo mẫu, y tá…)
b) Tiền bảo hiểm xã hội, y tế, vệ sinh, trợ cấp con, trợ cấp khó khăn, phúc lợi tập thể (ăn, ở, giữ trẻ) của nhân viên nhà trẻ.
c) Tiền thuê nhà và sửa chữa nhỏ của nhà trẻ.
d) Tiền chi về hành chính của nhà trẻ (công vụ phí thường xuyên, bất thường…)
e) Tiền mua sắm và sửa chữa đồ đạc cho nhà trẻ.
Riêng khoản chi về trang bị cho nhà trẻ hiện nay liên Bộ Nội vụ - Lao động – Y tế - Tài chính - Tổng công đoàn đang nghiên cứu quy định lại. Trong khi chờ đợi, các cơ quan, xí nghiệp vẫn thi hành theo Thông tư số 568-TC/HCP ngày 16/9/1955 của Bộ Tài chính.
Các khoản chi sau đây không tính vào chi phí thường xuyên của nhà trẻ:
- Tiền chi về xây dựng cơ bản mới và trang bị lúc đầu cho nhà trẻ do kinh phí kiến thiết cơ bản của cơ quan, xí nghiệp chi.
- Tiền chi về sửa chữa lớn cho nhà trẻ do kinh phí sửa chữa lớn của cơ quan, xí nghiệp trả.
Ngoài ra theo Chỉ thị số 126-TTg ngày 01/4/1961 của Thủ tướng Chính phủ các xí nghiệp có thể trích thêm phần nào quỹ phúc lợi của xí nghiệp để xây dựng thêm nhà trẻ.
III. LẬP VÀ XÉT DUYỆT DỰ TOÁN, QUYẾT TOÁN
1. Hàng năm, hàng quý, cơ quan có nhà trẻ phải lập dự toán, quyết toán thu chi có phân tích từng khoản thu chi theo chế độ dự quyết toán hiện hành để xin trợ cấp chênh lệch. Số tiền trợ cấp chênh lệch cho nhà trẻ sẽ ghi vào mục III: quỹ xã hội (mục lục dự toán 1962), tiết “trợ cấp nhà trẻ”.
Ở các xí nghiệp quốc doanh tiền trợ cấp chênh lệch cho nhà trẻ, theo Nghị định số 43-CP ngày 16/9/1960 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 186-UB/TC ngày 20/1/1961 của Ủy ban kế hoạch Nhà nước quy định, được thanh toán vào lỗ lãi ngoài kinh doanh.
Đối với các nhà trẻ liên cơ số tiền chênh lệch giữa thu và chi của nhà trẻ liên cơ phải phân bổ cho các cơ quan xí nghiệp theo số lượng các cháu được gửi ở nhà trẻ liên cơ.
Theo quyết định của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp ngày 10 và 11/01/1962 Bộ Y tế có nhiệm vụ phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ quản lý chung toàn bộ thu, chi của nhà trẻ.
Trong khi chờ đợi xúc tiến thực hiện quyết định ấy, cơ quan tài chính ở cấp nào, tạm thời chịu trách nhiệm xét duyệt và điều hòa kế hoạch thu chi của nhà trẻ ở cấp đó để đảm bảo chi tiêu không được quá phạm vi tỷ lệ % đã quy định so với thực chi quỹ lương của cấp đó. Đối với các xí nghiệp trực thuộc các Bộ trung ương, việc quản lý sẽ do Bộ chủ quản xét duyệt và điều hòa trong phạm vi tỷ lệ % đã quy định so với thực chi quỹ lương của Bộ đó.
Để theo dõi, kiểm tra tình hình thu chi của nhà trẻ và việc sử dụng số tiền của Nhà nước đã trợ cấp nhà trẻ được tốt, từng thời gian (năm, quý, tháng) các cơ quan, xí nghiệp có nhà trẻ phải mở sổ sách cần thiết để ghi chép đầy đủ, rành mạch, theo hướng dẫn trong Thông tư và mẫu quy định thống nhất đính kèm theo Thông tư này.
1. Một sổ thu tiền gửi trẻ của nữ cán bộ, công nhân viên chức (mẫu số 1)
2. Một sổ chi của nhà trẻ (mẫu số 2)
(Mẫu sổ không đăng Công báo).
Ngoài ra, đối với những nhà trẻ đã có đủ điều kiện tổ chức việc ăn uống, tắm giặt cho các cháu, các nữ cán bộ, công nhân, viên chức có con gửi phải đóng góp tiền ăn, tiền củi than đun nước, nấu ăn, tiền xà phòng để giặt tã lót, tắm cho các cháu. Mức đóng góp do nhà trẻ cùng với các nữ cán bộ công nhân, viên chức có con gửi ở nhà trẻ bàn bạc quy định và phải có sổ sách thu chi riêng về các khoản ấy.
Trong khi thi hành, nếu gặp khó khăn, trở ngại gì, đề nghị các Bộ, các cơ quan, các ngành, các cấp phản ảnh cho Bộ Tài chính biết để kịp thời nghiên cứu góp ý kiến giải quyết.
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Chỉ thị 126-TTg năm 1961 về cải tiến chế độ gửi trẻ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2 Thông tư 1864-UB-TC-1964 hướng dẫn Thông tư 75-TTg-TN-1964 về cách hạch toán đối với một số khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp do Ủy ban kế hoạch Nhà nước ban hành
- 3 Nghị định 43-CP năm 1960 ban hành điều lệ tạm thời về việc lập kế hoạch, hạch toán và thống kê giá thành và phí lưu thông hàng hóa do Hội Đồng Chính Phủ ban hành
- 4 Thông tư 18-TT/LB năm 1961 hướng dẫn Chỉ thị 126/TTg về việc cải tiến chế độ gửi trẻ của nữ công nhân, nữ viên chức do Bộ Nội Vụ- Bộ Lao Động ban hành
- 5 Thông tư liên bộ 01-TC-TVHC năm 1963 về việc quản lý thu chi nhà trẻ và việc chuyển kinh phí trợ cấp nhà trẻ sang Tổng công đoàn Việt Nam quản lý do Liên Bộ Tổng Công đoàn Việt Nam và Bộ Tài chính ban hành.
- 1 Chỉ thị 126-TTg năm 1961 về cải tiến chế độ gửi trẻ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2 Thông tư 1864-UB-TC-1964 hướng dẫn Thông tư 75-TTg-TN-1964 về cách hạch toán đối với một số khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp do Ủy ban kế hoạch Nhà nước ban hành
- 3 Nghị định 43-CP năm 1960 ban hành điều lệ tạm thời về việc lập kế hoạch, hạch toán và thống kê giá thành và phí lưu thông hàng hóa do Hội Đồng Chính Phủ ban hành
- 4 Thông tư 18-TT/LB năm 1961 hướng dẫn Chỉ thị 126/TTg về việc cải tiến chế độ gửi trẻ của nữ công nhân, nữ viên chức do Bộ Nội Vụ- Bộ Lao Động ban hành
- 5 Thông tư liên bộ 01-TC-TVHC năm 1963 về việc quản lý thu chi nhà trẻ và việc chuyển kinh phí trợ cấp nhà trẻ sang Tổng công đoàn Việt Nam quản lý do Liên Bộ Tổng Công đoàn Việt Nam và Bộ Tài chính ban hành.