Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Vào năm 1957, Bộ Lao Động đã ban hành Thông tư 16-LĐTT nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định về thì giờ làm việc đã được thiết lập trước đó tại Thông tư 05-LĐ/TT năm 1955. Đây là văn bản pháp lý quan trọng trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển kinh tế, nhằm điều chỉnh thời gian lao động và nghỉ ngơi của người lao động một cách hợp lý, khoa học, bảo đảm sức khỏe cho lực lượng sản xuất đồng thời nâng cao năng suất lao động xã hội.

Phạm vi và đối tượng áp dụng của Thông tư

Thông tư này hướng tới việc điều chỉnh chế độ làm việc đối với các đối tượng và phạm vi cụ thể sau:

  • Phạm vi áp dụng: Áp dụng thống nhất tại các cơ quan hành chính nhà nước, các doanh nghiệp, xí nghiệp quốc doanh, công trường, nông trường, lâm trường và các cơ sở sản xuất, kinh doanh tư nhân trên toàn quốc.
  • Đối tượng áp dụng: Toàn thể công nhân, viên chức, người lao động làm công ăn lương, không phân biệt tính chất công việc là lao động chân tay hay lao động trí óc.

Các nội dung điều chỉnh cốt lõi về thì giờ làm việc

Thông tư 16-LĐTT năm 1957 tập trung sửa đổi các quy định tại Thông tư 05-LĐ/TT năm 1955 với các nội dung trọng tâm sau:

1. Quy định về tổng số giờ làm việc tiêu chuẩn hàng ngày

  • Xác định rõ thời gian làm việc tiêu chuẩn trong ngày đối với các ngành nghề sản xuất trực tiếp và gián tiếp, đảm bảo không vượt quá giới hạn bảo vệ sức khỏe của người lao động.
  • Quy định cụ thể về thời gian nghỉ ngơi giữa ca làm việc, đảm bảo người lao động có đủ thời gian ăn uống, nghỉ ngơi để phục hồi thể lực trước khi bước vào ca làm việc tiếp theo.

2. Điều chỉnh giờ làm việc linh hoạt theo mùa

  • Chế độ làm việc mùa hè: Điều chỉnh giờ bắt đầu làm việc sớm hơn vào buổi sáng và kéo dài thời gian nghỉ trưa nhằm tránh thời điểm nắng nóng gay gắt, bảo vệ sức khỏe cho công nhân làm việc ngoài trời hoặc trong môi trường nhiệt độ cao.
  • Chế độ làm việc mùa đông: Lùi giờ bắt đầu làm việc muộn hơn vào buổi sáng để phù hợp với điều kiện thời tiết lạnh giá, đảm bảo an toàn sức khỏe và sinh hoạt của người lao động.
  • Ủy ban hành chính các địa phương và thủ trưởng các đơn vị căn cứ vào tình hình thời tiết thực tế để áp dụng khung giờ làm việc theo mùa một cách linh hoạt nhưng phải tuân thủ tổng số giờ làm việc quy định.

3. Quy định về làm việc ban đêm và làm thêm giờ (phụ trội)

  • Xác định rõ ràng ranh giới thời gian được tính là ca đêm để làm cơ sở tính toán các chế độ phụ cấp độc hại, phụ cấp làm đêm cho người lao động.
  • Nghiêm cấm việc lạm dụng làm thêm giờ, làm việc phụ trội vượt quá mức trần quy định. Việc tổ chức làm thêm giờ chỉ được thực hiện trong các trường hợp đặc biệt khẩn cấp (khắc phục thiên tai, hỏa hoạn, sự cố máy móc đột xuất) và phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền.

4. Tổ chức thực hiện và giám sát thi hành

  • Thủ trưởng các cơ quan, giám đốc các xí nghiệp, công trường có trách nhiệm niêm yết công khai lịch làm việc, giờ giấc ra vào xưởng để người lao động nắm rõ và tự giác chấp hành.
  • Các tổ chức Công đoàn tại cơ sở có vai trò phối hợp, giám sát chặt chẽ việc thực hiện giờ giấc làm việc của ban quản lý, kịp thời phản ánh và kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạm quyền lợi của người lao động.

Hiệu lực thi hành của văn bản

Thông tư 16-LĐTT năm 1957 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây về thì giờ làm việc tại Thông tư 05-LĐ/TT năm 1955 và các văn bản hướng dẫn khác của Bộ Lao động có nội dung trái với Thông tư này đều bãi bỏ hoặc được thực hiện theo các điều khoản sửa đổi mới tại văn bản này.

BỘ LAO ĐỘNG
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 16-LĐTT

Hà Nội, ngày 06 tháng 09 năm 1957

THÔNG TƯ

SỬA ĐỔI VỀ THÌ GIỜ LÀM VIỆC QUY ĐỊNH TRONG THÔNG TƯ SỐ 05-LĐ/TT NGÀY 09/3/1955

BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Các Bộ, các Ngành ở Trung ương.
Các Ủy ban hành chính các liên khu, khu Tự trị, các thành phố và các tỉnh trực thuộc Trung ương .
Các Khu, Sở Lao động và các Ty Lao động trực thuộc

Thông tư số 05-LĐ/TT ngày 09/3/1955 của Bộ Lao động, phần thứ II đã đặt những thì giờ dưới đây vào số giờ làm việc 8 tiếng một ngày:

- Lau chùi máy móc, sắp xếp dụng cụ trước khi rời xưởng.

- Rửa tay và thay quần áo, hoặc tắm rửa của một số công nhân phải vận dụng các chất bẩn.

- Nghỉ giải lao giữa thì giờ làm việc.

- Cho con bú.

- Lĩnh lương.

Thi hành thông tư này, một số đơn vị sản xuất đã tùy theo hoàn cảnh cụ thể của đơn vị mà xây dựng vào nội quy; nhưng cũng còn nhiều hiện tượng quy định chưa được hợp lý. Ví dụ: có nơi đặt thì giờ giải lao 10 hay 15 phút sau 2 tiếng làm việc cho toàn đơn vị không phân biệt công việc nặng hay nhẹ. Nhiều nơi cứ cuối ngày bỏ ra 15 phút để sắp xếp dụng cụ, lau chùi máy móc và hội ý công việc trong ngày, có nơi lại kể cả thì giờ đi, về của công nhân vào trong giờ làm việc 8 tiếng một ngày.

Việc quy định thì giờ làm việc như vậy đã làm cho thì giờ thực tế sản xuất giảm bớt không thích hợp với tinh thần cố gắng của toàn thể công nhân, viên chức và với yêu cầu kiến thiết kinh tế hiện nay.

Để đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích mở rộng làm khoán, thực hiện tốt chế độ kinh tế hạch toán ở các đơn vị sản xuất, Bộ Lao động ban hành thông tư này nhằm sửa đổi từng điểm của phần II trong Thông tư số 05 về thì giờ làm việc như sau:

1. Thì giờ lau chùi máy móc và sắp xếp dụng cụ trước khi rời xưởng.

Mỗi đơn vị sản xuất sẽ tùy theo điều kiện máy móc và hoàn cảnh công tác của từng nghề mà quy định trong nội quy về thì giờ lau chùi máy móc, sắp xếp dụng cụ trước khi rời xưởng, không nhất thiết phải đặt chung cho tất cả mọi công việc.

Ví dụ: Có những bộ phận máy móc như máy phát động lực hoặc những máy móc lớn hàng tuần phải lau chùi trong giờ sản xuất. Như vậy thì giờ lau chùi sẽ được coi như giờ làm việc.

- Có những bộ phận máy hàng ngày phải lau chùi nhưng có thể làm trong những giờ làm việc hoặc hàng tuần bỏ ra ít phút trong giờ sản xuất để lau chùi như máy tiện, máy phay, máy bào… hoặc những công việc thực tế không phải để một số thì giờ để lau chùi và sắp xếp dụng cụ cho những việc trên đây không cần thiết phải đặt ra mà chỉ nên quy định và chế độ trách nhiệm mà thường người công nhân chỉ ở nán lại ít phút sắp xếp khi đã hết giờ sản xuất.

2. Thì giờ rửa tay, thay quần áo.

Nói chung, thì giờ thay quần áo không tính vào giờ làm việc, trừ một số công việc như thợ lặn, phải mặc quần áo riêng để làm việc thì giờ mặc quần áo được tính vào giờ làm việc.

Thì giờ rửa tay, tắm giặt không tính vào thì giờ làm việc.

3. Thì giờ nghỉ giải lao:

Tùy điều kiện công tác của từng nghề hay từng loại công việc mà quy định nên có thì giờ nghỉ giải lao hay không cho thích hợp nhằm bảo vệ sức khỏe cho công nhân, chứ không phải nhất thiết nơi nào cũng quy định giữa buổi làm việc phải có giờ nghỉ giải lao cho tất cả mọi người làm mọi việc.

Ví dụ:

- Thợ lặn phải tùy theo mực nước nông, sâu khi làm việc để quy định giờ làm, giờ nghỉ.

- Công nhân làm việc thường xuyên ở ngoài trời về mùa nắng như gánh đất, gánh đá thì sau một hay hai giờ làm việc cần phải bố trí dành một ít thì giờ để nghỉ giải lao, nhưng về mùa rét thì có thể không cần phải nghỉ.

- Đối với những công việc có lúc làm, lúc nghỉ để cho sắp xếp hàng thì không cần quy định thì giờ để nghỉ giải lao.

Tóm lại thì giờ nghỉ giải lao có thể tính vào thì giờ làm việc nhưng phải căn cứ vào tính chất của từng loại công việc mà quy định cụ thể vào nội quy xí nghiệp, không thể cho đó là một quyền lợi dĩ nhiên bất cứ làm việc gì cũng phải có nghỉ giải lao.

Khi đã căn cứ vào tính chất công việc mà bố trí nghỉ giải lao thì coi như đã rút bớt thì giờ làm việc chính thức, chứ không phải vừa quy định rút bớt giờ làm rồi mà lại còn nghỉ giải lao nữa.

4. Thì giờ cho con bú:

- Thì giờ cho con bú được coi như thì giờ làm việc.

- Đối với nữ công nhân, nhân viên có con nhỏ dưới một năm nếu nhà gửi trẻ hay nhà riêng ở gần nơi làm việc thì được nghỉ mỗi buổi 30 phút cho con bú (kể cả thì giờ đi và về). Trường hợp công nhân làm cả thông 8 tiếng mà con nhỏ ở xã nơi làm việc, đi về không tiện hoặc phải chờ tàu, xe đã ở lại tiếp tục sản xuất vào số giờ quy định được nghỉ cho con bú, thì giờ đó sẽ được tính trả lương như giờ làm thêm.

5. Thì giờ ăn cơm.

Đối với những đơn vị làm việc một ngày cả 3 ca nhưng có những nghề phải làm việc liên tục không có thể ăn cơm trong giờ làm việc được như thợ dệt ở nhà máy dệt Nam Định, công nhân vận chuyển đất, đá ở nhà máy xi măng Hải Phòng thì đơn vị phải bố trí cho công nhân nghỉ 30 phút để ăn cơm trong 8 tiếng làm việc.

Trường hợp có những nghề tuy cùng làm cả 3 ca trong một ngày nhưng có hoàn cảnh sắp xếp luân phiên nhau để có thì giờ ăn cơm trong giờ làm việc như công nhân đốt lửa nồi hơi, thợ coi đồng hồ điện, coi bơm… thì không nhất thiết phải bố trí thì giờ dành ăn cơm trong số 8 giờ làm việc.

Đối với các trường hợp làm việc một ngày có hai ca thì thì giờ ăn cơm nhất thiết phải bố trí ngoài giờ làm việc để bảo đảm làm việc 8 tiếng một ngày.

6. Thì giờ lĩnh lương:

Giờ lĩnh lương công nhân, nhân viên được tính vào thì giờ làm việc. Các đơn vị cần nghiên cứu tổ chức phát lương cho được gọn gàng, thích hợp để khỏi ảnh hưởng nhiều đến sản xuất.

Thông tư này thi hành từ ngày ban hành và thay thế phần II của Thông tư số 05-LĐ/TT ngày 09/3/1955 về thì giờ làm việc. Nhận được thông tư này, các ngành, các địa phương cần phổ biến ngay và hướng dẫn các đơn vị sửa đổi những điểm đã quy định không hợp lý đồng thời giải thích cho anh chị em công nhân thấy rõ sự cần thiết phải thực hiện đầy đủ thì giờ làm việc để đẩy mạnh sản xuất, hoàn thành kế hoạch Nhà nước.

Chúng tôi tin chắc anh chị em công nhân sẽ tán thành vì quy định như trước đây không lợi cho sản xuất.

BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG




Nguyên Văn Tạo

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 16-LĐTT năm 1957 sửa đổi thì giờ làm việc quy định trong Thông tư 05-LĐ/TT 1955 do Bộ Lao Động ban hành

Số hiệu: 16-LĐTT
Loại văn bản: Thông tư
Ngày ban hành: 06/09/1957
Nơi ban hành: Bộ Lao động
Người ký: Nguyễn Văn Tạo
Ngày công báo: 25/09/1957
Số công báo: Số 39
Ngày hiệu lực: 21/09/1957
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thông tư 16-LĐTT năm 1957 sửa đổi thì giờ làm...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký