Thông tư 17/2015/TT-BVHTTDL do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy định chi tiết về công tác phòng, chống doping trong hoạt động thể thao tại Việt Nam. Văn bản này thiết lập hệ thống quy định toàn diện từ công tác tuyên truyền, giáo dục, quy trình kiểm tra, lấy mẫu xét nghiệm, cơ chế miễn trừ do điều trị, cho đến quy trình đánh giá, xử lý vi phạm và phân định trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan nhằm hướng tới một nền thể thao trung thực, cao thượng và an toàn.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Thông tư này quy định chi tiết về các hoạt động phòng, chống doping trong hoạt động thể thao bao gồm: công tác tuyên truyền, giáo dục; quy trình kiểm tra doping; thủ tục xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại; cùng trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân liên quan. Đối tượng áp dụng của Thông tư bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thể thao hoặc có liên quan đến thể thao tại Việt Nam, cũng như các tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia hoạt động thể thao ở nước ngoài. Riêng đối với các giải thể thao và đại hội thể thao quốc tế, việc kiểm tra doping sẽ được thực hiện theo quy định riêng của Ban tổ chức giải hoặc Ban tổ chức Đại hội đó.
Nguyên tắc phòng, chống doping trong hoạt động thể thao
- Hoạt động phòng, chống doping phải được tổ chức thường xuyên, liên tục, trong đó chú trọng đặc biệt vào các biện pháp thông tin, giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức về tác hại của doping.
- Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các tổ chức, cá nhân trong nước với các tổ chức quốc tế có liên quan trong công tác phòng, chống doping.
- Tuân thủ tuyệt đối các quy định của Tổ chức phòng, chống doping thế giới (WADA) và các quy định pháp luật liên quan của Việt Nam.
- Đảm bảo môi trường tập luyện và thi đấu của vận động viên hoàn toàn không có doping, đồng thời vận động viên phải được tiếp cận đầy đủ thông tin về tác hại của các chất bị cấm.
Các hành vi vi phạm Bộ luật phòng, chống doping thế giới
Thông tư quy định rõ 10 hành vi bị coi là vi phạm quy định về phòng, chống doping bao gồm:
- Sự hiện diện của chất bị cấm, các chất chuyển hóa hoặc dấu vết của chất bị cấm trong mẫu xét nghiệm của vận động viên.
- Sử dụng hoặc cố ý sử dụng chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm.
- Lảng tránh, từ chối hoặc bỏ lỡ việc lấy mẫu thử sau khi đã nhận được thông báo chính thức mà không có lý do bất khả kháng.
- Vi phạm các yêu cầu liên quan đến việc khai báo thông tin nơi ở, tập luyện để kiểm tra doping ngoài thi đấu.
- Làm sai lệch hoặc gây cản trở, can thiệp vào bất kỳ công đoạn nào của quy trình kiểm tra doping.
- Sở hữu các chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm mà không được cấp phép.
- Buôn bán, vận chuyển trái phép chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm.
- Cung cấp, cho vận động viên sử dụng chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm trong hoặc ngoài thi đấu; hoặc thực hiện các hành vi hỗ trợ, khuyến khích, giúp sức, sai khiến, bao che cho hành vi vi phạm.
- Đồng lõa, bao che hoặc dính líu đến bất kỳ hành vi vi phạm quy định về phòng, chống doping nào.
- Vận động viên có liên hệ về chuyên môn thể dục thể thao với huấn luyện viên, bác sĩ, người hướng dẫn hoặc bất kỳ ai đang trong thời gian bị kỷ luật do vi phạm doping.
Mục tiêu và Nội dung tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống doping
- Mục tiêu: Hướng tới xây dựng một nền thể thao lành mạnh, công bằng, không doping; bảo vệ tối đa quyền và nghĩa vụ hợp pháp của vận động viên; đồng thời thực hiện giám sát, kiểm tra và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm.
- Nội dung tuyên truyền: Tập trung phổ biến Bộ luật phòng, chống doping thế giới và các quy định của Việt Nam; cập nhật Danh mục chất bị cấm và phương pháp bị cấm hàng năm của WADA; cảnh báo về hậu quả pháp lý, sức khỏe và xã hội của việc dùng doping; hướng dẫn quy trình kiểm tra, thủ tục xin miễn trừ do điều trị (TUE), kiểm soát nguy cơ từ thực phẩm bổ sung và đề cao tinh thần thể thao chân chính.
Quy trình kiểm tra, lấy mẫu và xử lý kết quả xét nghiệm doping
- Thẩm quyền yêu cầu kiểm tra: Tổng cục Thể dục thể thao có quyền yêu cầu kiểm tra đối với mọi vận động viên. Ban tổ chức giải đấu có quyền yêu cầu kiểm tra đối với vận động viên tham gia giải. Ủy ban Olympic, Hiệp hội Paralympic, các liên đoàn thể thao quốc gia và đơn vị quản lý trực tiếp có quyền yêu cầu kiểm tra đối với vận động viên thuộc quyền quản lý của mình.
- Lấy mẫu xét nghiệm: Trung tâm Doping và Y học thể thao chịu trách nhiệm lập kế hoạch và tổ chức lấy mẫu. Quy trình lấy mẫu, bảo quản và xét nghiệm phải tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn kỹ thuật của WADA. Người thực hiện lấy mẫu phải có chứng nhận chuyên môn do WADA hoặc Trung tâm Doping và Y học thể thao cấp.
- Xử lý kết quả: Trung tâm Doping và Y học thể thao quản lý thông tin kết quả theo tiêu chuẩn bảo mật của WADA. Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi có kết quả, Trung tâm phải thông báo bằng văn bản đến Tổng cục Thể dục thể thao, cơ quan yêu cầu kiểm tra, vận động viên, đơn vị quản lý vận động viên và liên đoàn thể thao quốc gia liên quan.
Cơ chế miễn trừ do điều trị (TUE) cho vận động viên
- Vận động viên có hồ sơ bệnh án bắt buộc phải sử dụng chất hoặc phương pháp bị cấm để điều trị bệnh được quyền nộp hồ sơ xin hưởng Miễn trừ do điều trị (TUE) theo Tiêu chuẩn quốc tế. Việc sử dụng chất bị cấm trong trường hợp này không bị coi là vi phạm doping.
- Giám đốc Trung tâm Doping và Y học thể thao hoặc Trưởng ban tổ chức giải đấu quyết định thành lập Hội đồng Miễn trừ do điều trị gồm từ 05 đến 07 chuyên gia y tế.
- Thời hạn giải quyết hồ sơ xin miễn trừ tối đa là 10 ngày làm việc đối với Trung tâm Doping và Y học thể thao, và tối đa là 03 ngày làm việc đối với Ban tổ chức giải đấu (quyết định của Ban tổ chức giải chỉ có giá trị trong phạm vi giải đấu đó).
Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm và Quy trình xử lý kỷ luật
- Thành lập Hội đồng: Tùy thuộc vào thời điểm phát hiện vi phạm (trong giải đấu hay ngoài giải đấu), Trưởng ban tổ chức giải hoặc Giám đốc Trung tâm Doping và Y học thể thao sẽ quyết định thành lập Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm doping. Hội đồng gồm từ 05 đến 07 thành viên là các chuyên gia y tế, pháp lý và đại diện các tổ chức thể thao liên quan.
- Trách nhiệm và Kết luận: Hội đồng có trách nhiệm xem xét chứng cứ, hồ sơ giải trình của vận động viên và gửi hồ sơ đánh giá đến cơ quan thẩm quyền trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi kết thúc cuộc họp. Trên cơ sở đó, Giám đốc Trung tâm Doping hoặc Trưởng ban tổ chức giải ban hành kết luận đánh giá mức độ vi phạm và đề xuất hình thức xử lý. Kết luận phải được gửi đến các bên liên quan trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày ký.
- Xử lý vi phạm tại liên đoàn, hiệp hội: Trong vòng 07 ngày kể từ khi nhận được kết luận, liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia hoặc cơ quan có thẩm quyền phải ban hành Quyết định xử lý vi phạm (bao gồm hình thức xử phạt, thời gian cấm thi đấu và các hình phạt bổ sung). Các liên đoàn có trách nhiệm theo dõi và báo cáo định kỳ 6 tháng một lần về tình hình của vận động viên bị kỷ luật.
- Giải quyết khiếu nại: Vận động viên và các bên liên quan có quyền khiếu nại chuyên môn trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử lý hoặc quyết định miễn trừ do điều trị. Tổng cục Thể dục thể thao sẽ thành lập Hội đồng giải quyết khiếu nại chuyên môn. Các khiếu nại hành chính khác được giải quyết theo Luật Khiếu nại.
Phân định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân
- Tổng cục Thể dục thể thao: Tham mưu ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, kế hoạch phòng, chống doping; chỉ đạo thực hiện, tổ chức tuyên truyền, bồi dưỡng nhân lực và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
- Trung tâm Doping và Y học thể thao: Hướng dẫn chuyên môn, biểu mẫu theo chuẩn WADA; xây dựng mạng lưới cộng tác viên; hướng dẫn vận động viên khai báo thông tin nơi ở, tập luyện; quản lý hồ sơ và giám sát việc thực hiện các quyết định kỷ luật về doping.
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Sở Văn hóa và Thể thao): Xây dựng kế hoạch tuyên truyền tại địa phương; xử lý vi phạm theo thẩm quyền và báo cáo định kỳ hàng năm cho Tổng cục Thể dục thể thao.
- Ủy ban Olympic, Hiệp hội Paralympic và các liên đoàn thể thao quốc gia: Xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp gắn với phòng, chống doping; tổ chức tập huấn, kiểm tra; ban hành các hình thức xử lý kỷ luật nội bộ và báo cáo kết quả hàng năm.
- Các cơ sở đào tạo vận động viên: Cung cấp thông tin vận động viên phục vụ kiểm tra; lồng ghép nội dung phòng, chống doping vào chương trình đào tạo; giám sát chặt chẽ vận động viên, huấn luyện viên và nhân viên y tế thuộc quyền quản lý.
- Cán bộ y tế và Huấn luyện viên: Thường xuyên cập nhật danh mục chất cấm; tuyên truyền, ngăn chặn hành vi vi phạm; hướng dẫn vận động viên làm hồ sơ TUE và phối hợp với cơ quan chuyên môn trong việc lấy mẫu xét nghiệm.
- Vận động viên: Tuân thủ nghiêm ngặt Bộ luật phòng, chống doping thế giới và pháp luật Việt Nam; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kiểm tra; chỉ sử dụng thuốc, thực phẩm chức năng khi có sự đồng ý và hướng dẫn của bác sĩ hoặc huấn luyện viên.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 17/2015/TT-BVHTTDL có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2016.
Thông tư này bãi bỏ các quy định về sử dụng thuốc và nghiêm cấm sử dụng doping tại Mục III Chương II Quy chế đảm bảo y tế cho vận động viên các đội tuyển thể thao ban hành kèm theo Quyết định số 44/2005/QĐ-UBTDTT ngày 13 tháng 01 năm 2005 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao.
| BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 17/2015/TT-BVHTTDL | Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2015 |
Căn cứ Luật Thể dục, thể thao số 77/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 112/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thể dục, thể thao;
Căn cứ Nghị định số 76/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao,
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
1. Thông tư này quy định về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao, bao gồm:
a) Tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống doping;
b) Kiểm tra doping;
c) Xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại về doping;
d) Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong phòng, chống doping.
2. Việc kiểm tra doping tại các giải thể thao quốc tế, đại hội thể thao quốc tế được thực hiện theo quy định của Ban tổ chức giải, Ban tổ chức Đại hội.
Thông tư này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thể thao, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến thể thao tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia hoạt động thể thao tại nước ngoài.
Điều 3. Nguyên tắc phòng, chống doping trong hoạt động thể thao
1. Hoạt động phòng, chống doping được tổ chức thường xuyên; chú trọng biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông để nâng cao nhận thức về tác hại của việc sử dụng doping.
2. Thực hiện việc phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, các tổ chức thể thao quốc tế trong phòng, chống doping.
3. Đảm bảo tuân thủ các quy định của Tổ chức phòng, chống doping thế giới và các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan đến phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
4. Đảm bảo vận động viên được tập luyện và thi đấu trong môi trường không doping và được thông tin đầy đủ về tác hại của doping.
Điều 4. Hành vi vi phạm Bộ luật phòng, chống doping thế giới
1. Có chất bị cấm hoặc các chất chuyển hóa hoặc các dấu vết của chất bị cấm trong mẫu xét nghiệm của vận động viên.
2. Sử dụng chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm.
3. Lảng tránh, từ chối hoặc bỏ lỡ việc lấy mẫu thử mà không phải vì lý do bất khả kháng sau khi có thông báo.
4. Vi phạm các yêu cầu liên quan đến sự có mặt của vận động viên để kiểm tra doping ngoài thi đấu.
5. Làm sai lệch hoặc gây cản trở đối với bất kỳ công đoạn nào của việc kiểm tra doping.
6. Sở hữu chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm.
7. Buôn bán chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm.
8. Cho vận động viên uống, sử dụng chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm trong thi đấu hoặc ngoài thi đấu; hỗ trợ, khuyến khích, giúp sức, sai khiến, bao che hoặc dính líu đến bất kỳ hành vi đồng lõa nào khác vi phạm quy định về phòng, chống doping.
9. Đồng lõa, bao che cho một hoặc nhiều hành vi quy định từ Khoản 1 đến Khoản 8 Điều này.
10. Vận động viên có liên hệ về chuyên môn thể dục thể thao với huấn luyện viên, người hướng dẫn, bác sĩ hoặc bất kỳ ai đang trong thời gian bị kỷ luật do vi phạm quy định về phòng, chống doping.
TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC VỀ PHÒNG, CHỐNG DOPING TRONG HOẠT ĐỘNG THỂ THAO
Điều 5. Mục tiêu tuyên truyền, giáo dục
1. Vì một nền thể thao lành mạnh, công bằng, không doping.
2. Bảo vệ quyền và nghĩa vụ của vận động viên.
3. Thực hiện giám sát, kiểm tra, ngăn chặn việc vận động viên sử dụng doping trong thể thao.
Điều 6. Nội dung tuyên truyền, giáo dục
Việc tuyên truyền, giáo dục nhằm cung cấp cho vận động viên, các tổ chức và cá nhân liên quan thông tin chính xác về những nội dung sau:
1. Bộ luật phòng, chống doping thế giới; các quy định về phòng, chống doping tại Việt Nam.
2. Các chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm được đưa vào Danh mục cấm hàng năm do Tổ chức phòng, chống doping thế giới ban hành.
3. Các trường hợp vi phạm pháp luật về phòng, chống doping.
4. Hậu quả của việc sử dụng doping gồm các mức hình phạt, tổn hại về sức khỏe và xã hội.
5. Các quy định về thủ tục tiến hành kiểm tra doping.
6. Quyền và trách nhiệm của vận động viên, huấn luyện viên, cán bộ y tế.
7. Các trường hợp được miễn trừ do điều trị.
8. Kiểm soát các nguy cơ khi sử dụng các chất bổ sung dinh dưỡng.
9. Tác hại của doping đối với tinh thần thể thao.
Điều 7. Thẩm quyền yêu cầu vận động viên kiểm tra doping
1. Tổng cục Thể dục thể thao yêu cầu kiểm tra doping đối với mọi vận động viên.
2. Ban tổ chức giải thi đấu thể thao yêu cầu kiểm tra doping đối với vận động viên tham gia giải đấu.
3. Ủy ban Olympic Việt Nam, Hiệp hội Paralympic Việt Nam, Liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia, đơn vị sử dụng vận động viên yêu cầu kiểm tra doping vận động viên thuộc quyền quản lý.
Điều 8. Lấy mẫu xét nghiệm doping
1. Trung tâm Doping và Y học thể thao có trách nhiệm sau:
a) Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện lấy mẫu xét nghiệm doping;
b) Việc lấy mẫu, bảo quản mẫu và xét nghiệm doping được thực hiện theo quy trình kỹ thuật của Tổ chức phòng, chống doping thế giới.
2. Người được cơ quan có thẩm quyền giao trách nhiệm lấy mẫu xét nghiệm doping phải có chứng nhận đạt yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật lấy mẫu xét nghiệm doping do Tổ chức phòng, chống doping thế giới hoặc Trung tâm Doping và Y học thể thao cấp.
Điều 9. Xử lý kết quả xét nghiệm doping
1. Trung tâm Doping và Y học thể thao lưu giữ và quản lý thông tin về kết quả xét nghiệm doping theo các tiêu chuẩn kỹ thuật của Tổ chức phòng, chống doping thế giới.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xét nghiệm doping, Trung tâm Doping và Y học thể thao thông báo bằng văn bản kết quả xét nghiệm đến:
a) Tổng cục Thể dục thể thao;
b) Cơ quan, tổ chức yêu cầu kiểm tra doping, vận động viên, đơn vị quản lý vận động viên và liên đoàn thể thao quốc gia quản lý vận động viên đó.
Điều 10. Miễn trừ do điều trị cho vận động viên
1. Vận động viên có hồ sơ bệnh án đang cần phải sử dụng chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm được xin hưởng Miễn trừ do điều trị theo Tiêu chuẩn quốc tế về miễn trừ do điều trị.
2. Việc sử dụng chất bị cấm hoặc phương pháp bị cấm phù hợp với các quy định của điều khoản Miễn trừ do điều trị sẽ không bị coi là hành vi vi phạm doping.
1. Giám đốc Trung tâm Doping và Y học thể thao hoặc Trưởng ban tổ chức giải thành lập Hội đồng Miễn trừ do điều trị để xem xét tính hợp Iý trong điều trị bệnh theo hồ sơ xin miễn trừ do điều trị của vận động viên.
2. Hội đồng Miễn trừ do điều trị có từ 05 đến 07 thành viên, gồm các chuyên gia y tế, làm việc theo nguyên tắc dân chủ, biểu quyết theo đa số và phù hợp với quy định của Bộ luật phòng, chống doping thế giới.
Hội đồng Miễn trừ do điều trị chấm dứt hoạt động và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
3. Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin miễn trừ do điều trị, Trung tâm Doping và y học thể thao quyết định cho phép hoặc không cho phép miễn trừ do điều trị.
Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin miễn trừ do điều trị trong giải thi đấu, Ban tổ chức giải quyết định cho phép hoặc không cho phép miễn trừ do điều trị. Quyết định miễn trừ do điều trị do Trưởng ban tổ chức giải ban hành chỉ có giá trị trong giải đấu.
XỬ LÝ VI PHẠM VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ DOPING
Điều 12. Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm doping
1. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm doping, Giám đốc Trung tâm Doping và Y học thể thao quyết định thành lập Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm doping.
2. Đối với hành vi vi phạm doping phát hiện trong giải đấu, Trưởng ban tổ chức giải quyết định thành lập Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm doping.
Đối với hành vi vi phạm doping phát hiện sau khi giải đấu kết thúc, Giám đốc Trung tâm Doping và Y học thể thao quyết định thành lập Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm doping.
3. Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm doping có từ 05 đến 07 thành viên, gồm: Chủ tịch Hội đồng, Phó chủ tịch Hội đồng, Thư ký Hội đồng và các ủy viên. Thành viên Hội đồng là các chuyên gia y tế, chuyên gia pháp lý, đại diện của Ủy ban Olympic Việt Nam, Hiệp hội Paralympic Việt Nam, liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia có liên quan.
4. Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm doping làm việc theo nguyên tắc dân chủ, biểu quyết theo đa số và phù hợp với quy định chuyên môn của Bộ luật phòng, chống doping thế giới.
5. Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm doping chấm dứt hoạt động và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Điều 13. Trách nhiệm của Hội đồng Đánh giá mức độ vi phạm doping
1. Xem xét, đánh giá các chứng cứ và thông tin có liên quan.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc họp, Hội đồng đánh giá mức độ vi phạm doping phải gửi Hồ sơ đánh giá mức độ vi phạm doping đến Trung tâm Doping và Y học thể thao hoặc Ban tổ chức giải (đối với trường hợp phát hiện doping trong giải đấu). Hồ sơ đánh giá mức độ vi phạm doping gồm:
a) Chứng cứ về hành vi vi phạm;
b) Các thông tin có liên quan (nếu có);
c) Bản giải trình của vận động viên, đơn vị quản lý vận động viên, liên đoàn thể thao quốc gia quản lý vận động viên (nếu có);
d) Biên bản cuộc họp.
Điều 14. Kết luận đánh giá mức độ vi phạm doping
1. Căn cứ Hồ sơ đánh giá mức độ vi phạm doping, Giám đốc Trung tâm Doping và Y học thể thao hoặc Trưởng ban tổ chức giải (đối với trường hợp phát hiện doping trong giải đấu) ban hành kết luận đánh giá mức độ vi phạm doping.
2. Kết luận đánh giá mức độ vi phạm doping bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Xác định hành vi vi phạm doping;
b) Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi vi phạm doping;
c) Đề xuất hình thức xử lý vi phạm doping.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành, Giám đốc Trung tâm Doping, và Y học thể thao hoặc Trưởng ban tổ chức giải (đối với trường hợp phát hiện doping trong giải đấu) có trách nhiệm gửi kết luận đánh giá mức độ vi phạm doping đến vận động viên, đơn vị sử dụng vận động viên, liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia quản lý vận động viên, cơ quan yêu cầu kiểm tra doping, Ủy ban Olympic Việt Nam, Hiệp hội Paralympic Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định.
Điều 15. Xử lý vi phạm doping tại liên đoàn, hiệp hội
1. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được kết luận đánh giá mức độ vi phạm doping, cơ quan có thẩm quyền, liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia ban hành Quyết định xử lý vi phạm bao gồm: Hình thức xử phạt, thời gian cấm tham gia hoạt động thể thao trên cơ sở đánh giá mức độ vi phạm và hình phạt bổ sung theo quy định của liên đoàn, hiệp hội.
2. Quyết định xử lý vi phạm của liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia được gửi đến vận động viên, Tổng cục Thể dục thể thao, Trung tâm Doping và Y học thể thao và các cơ quan liên quan theo quy định chuyên môn về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
3. Liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia có trách nhiệm theo dõi và báo cáo định kỳ 6 tháng một lần về hoạt động tập luyện, thi đấu và công tác chuyên môn khác của vận động viên trong thời gian bị kỷ luật.
1. Trong thời hạn 21 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định miễn trừ do điều trị, quyết định xử lý vi phạm, vận động viên, cá nhân và tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại chuyên môn đối với quyết định miễn trừ do điều trị, quyết định xử lý vi phạm.
2. Khi có khiếu nại chuyên môn, Tổng cục Thể dục thể thao thành lập Hội đồng giải quyết khiếu nại để giải quyết theo quy định chuyên môn về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
3. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về quyết định hành chính và hành vi hành chính trong hoạt động phòng, chống doping được giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG PHÒNG, CHỐNG DOPING
Điều 17. Trách nhiệm của Tổng cục Thể dục thể thao
1. Trình Bộ trưởng ban hành và ban hành theo thẩm quyền văn bản, chiến lược, chính sách, kế hoạch về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện văn bản, chiến lược, chính sách, kế hoạch về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
3. Tổ chức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
4. Tổ chức bồi dưỡng và tăng cường nhân lực tham gia phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
5. Mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và trao đổi thông tin liên quan đến phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
Điều 18. Trách nhiệm của Trung tâm Doping và Y học thể thao
1. Hướng dẫn thực hiện các biểu mẫu, tài liệu kỹ thuật về phòng, chống doping theo quy định của Tổ chức phòng, chống doping thế giới.
2. Xây dựng đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên về tuyên truyền, giáo dục phòng, chống doping.
3. Phối hợp với các cơ quan báo chí thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tuyên truyền về phòng, chống doping.
4. Hướng dẫn các vận động viên đội tuyển thể thao quốc gia, vận động viên được phong đẳng cấp từ cấp I trở lên cung cấp thông tin chính xác và cập nhật về nơi ở và tập luyện, hồ sơ miễn trừ do điều trị.
5. Phối hợp với các liên đoàn, hiệp hội thể thao, cơ sở đào tạo vận động viên quản lý hồ sơ vận động viên theo quy định chuyên môn về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
6. Tổ chức tập huấn cho vận động viên, huấn luyện viên, cán bộ y tế và những đối tượng có liên quan đến phòng, chống doping.
7. Giám sát việc thực hiện các quyết định xử lý vi phạm về phòng, chống doping.
Điều 19. Trách nhiệm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Sở Văn hóa và Thể thao)
1. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống doping cho cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên.
2. Xử lý theo thẩm quyền đối với vận động viên, huấn luyện viên, cán bộ vi phạm quy định về phòng, chống doping.
3. Hàng năm, báo cáo Tổng cục Thể dục thể thao về công tác phòng, chống doping tại địa phương.
1. Xây dựng quy tắc hành nghề và tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài thể thao gắn với việc phòng, chống doping.
2. Xây dựng kế hoạch tuyên truyền, kiểm tra doping và tổ chức tập huấn bồi dưỡng kiến thức về công tác phòng, chống doping cho cán bộ, bác sỹ, huấn luyện viên, vận động viên tham gia luyện tập và thi đấu thể thao.
3. Xây dựng hình thức xử lý phù hợp đối với vận động viên, huấn luyện viên và cán bộ thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống doping ngoài quy định của Bộ luật phòng, chống doping thế giới.
4. Hàng năm, báo cáo kết quả công tác phòng, chống doping về Tổng cục Thể dục thể thao.
Điều 21. Trách nhiệm của các cơ sở đào tạo vận động viên
1. Cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin về vận động viên, tạo điều kiện cho cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra doping theo quy định.
2. Đưa nội dung tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống doping trong thể thao vào chương trình huấn luyện, đào tạo vận động viên.
3. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác phòng, chống doping đối với vận động viên, huấn luyện viên, cán bộ y tế.
Điều 22. Trách nhiệm của cán bộ y tế, huấn luyện viên
1. Thường xuyên học tập, nâng cao kiến thức, cập nhật thông tin về các chất bị cấm và phương pháp bị cấm trong tập luyện và thi đấu thể thao.
2. Tuyên truyền, giáo dục, ngăn chặn các hành vi vi phạm Bộ luật phòng, chống doping thế giới.
3. Hướng dẫn vận động viên hoàn thiện hồ sơ xin miễn trừ do điều trị, hồ sơ nơi ở và tập luyện.
4. Phối hợp với cơ quan chuyên môn tổ chức lấy mẫu kiểm tra doping.
Điều 23. Trách nhiệm của vận động viên
1. Tuân thủ các quy định của Bộ luật phòng, chống doping thế giới và các quy định pháp luật về phòng, chống doping của Việt Nam.
2. Thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vận động viên trong phòng, chống doping.
3. Sử dụng thuốc, chất bổ dưỡng, thực phẩm chức năng, các phương tiện hồi phục sức khỏe đặc biệt khác khi được bác sỹ và huấn luyện viên cho phép.
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2016.
2. Bãi bỏ quy định về sử dụng thuốc và nghiêm cấm sử dụng doping quy định tại Mục III Chương II Quy chế đảm bảo y tế cho vận động viên các đội tuyển thể thao ban hành kèm theo Quyết định số 44/2005/QĐ-UBTDTT ngày 13 tháng 01 năm 2005 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao.
1. Tổng cục Thể dục thể thao có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi thực hiện Thông tư này.
2. Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành thanh tra và xử lý theo thẩm quyền các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định tại Thông tư này.
3. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, đề nghị các tổ chức và cá nhân có liên quan báo cáo về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (qua Tổng cục Thể dục Thể thao) để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung kịp thời./.
| Nơi nhận: | BỘ TRƯỞNG |
- 1 Quyết định 2563/QĐ-BVHTTDL năm 2015 phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả hoạt động các thiết chế văn hóa, thể thao ở nông thôn” do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
- 2 Thông tư 14/2015/TT-BVHTTDL quy định về điều kiện chuyên môn của cơ sở tổ chức hoạt động lặn biển thể thao giải trí do Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch ban hành
- 3 Nghị định 106/2016/NĐ-CP quy định điều kiện kinh doanh hoạt động thể thao
- 4 Dự thảo Thông tư quy định hoạt động thể thao, văn hóa, văn nghệ học sinh, sinh viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 5 Thông tư 01/2024/TT-BVHTTDL quy định về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
- 1 Quyết định 44/2005/QĐ-UBTDTT về quy chế bảo đảm y tế cho vận động viên các đội tuyển thể thao do Ủy ban thể dục thể thao ban hành
- 2 Thông tư 01/2023/TT-BVHTTDL sửa đổi Thông tư 17/2015/TT-BVHTTDL về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
- 3 Văn bản hợp nhất 1284/VBHN-BVHTTDL năm 2023 hợp nhất Thông tư quy định về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
- 4 Thông tư 01/2024/TT-BVHTTDL quy định về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
- 1 Luật Thể dục, Thể thao 2006
- 2 Nghị định 112/2007/NĐ-CP Hướng dẫn Luật thể dục, thể thao
- 3 Nghị định 76/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- 4 Quyết định 2563/QĐ-BVHTTDL năm 2015 phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả hoạt động các thiết chế văn hóa, thể thao ở nông thôn” do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
- 5 Thông tư 14/2015/TT-BVHTTDL quy định về điều kiện chuyên môn của cơ sở tổ chức hoạt động lặn biển thể thao giải trí do Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch ban hành
- 6 Nghị định 106/2016/NĐ-CP quy định điều kiện kinh doanh hoạt động thể thao
- 7 Dự thảo Thông tư quy định hoạt động thể thao, văn hóa, văn nghệ học sinh, sinh viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành