Thông tư 72/2017/TT-BTNMT do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định chi tiết về việc xử lý, trám lấp các loại giếng không sử dụng nhằm bảo vệ nguồn nước dưới đất khỏi nguy cơ ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Phạm vi điều chỉnh: Thông tư này áp dụng đối với việc xử lý, trám lấp các loại giếng khoan, lỗ khoan, giếng đào sau khi sử dụng xong hoặc bị hỏng (gọi chung là giếng không sử dụng) trong các hoạt động: thăm dò, khai thác nước dưới đất; khoan khảo sát địa chất công trình; thăm dò địa chất, thăm dò và khai thác khoáng sản; xử lý nền móng công trình; tháo khô mỏ; nghiên cứu, điều tra, đánh giá nước dưới đất và các hoạt động khoan, đào khác. Thông tư không áp dụng đối với giếng khoan tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và giếng khoan địa nhiệt.
- Đối tượng áp dụng: Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước; các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có liên quan đến việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam.
Nguyên tắc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng
- Việc trám lấp phải được thực hiện kịp thời nhằm ngăn chặn nước bẩn, chất ô nhiễm từ trên mặt đất xâm nhập vào các tầng chứa nước và ngăn ngừa sự lưu thông giữa các tầng, lớp chứa nước khác nhau qua giếng.
- Quá trình thi công phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn, bảo vệ môi trường và chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất.
Phân loại giếng không sử dụng để xử lý, trám lấp
Giếng không sử dụng được phân chia thành ba nhóm chính để áp dụng biện pháp xử lý phù hợp:
- Nhóm 1: Giếng khai thác nước dưới đất thuộc trường hợp không phải xin phép khai thác, sử dụng nước (chủ giếng không còn nhu cầu sử dụng; giếng nằm trong khu vực giải phóng mặt bằng; giếng bị hỏng, ô nhiễm không thể khắc phục; giếng bị buộc phải trám lấp do vi phạm pháp luật).
- Nhóm 2: Giếng khai thác nước dưới đất thuộc trường hợp phải xin phép khai thác, sử dụng nước (chủ giếng trả lại hoặc điều chỉnh giấy phép; giấy phép bị thu hồi; giếng không có giấy phép và bị buộc trám lấp; giếng không đủ điều kiện gia hạn giấy phép).
- Nhóm 3: Các loại giếng khác bao gồm: giếng khoan thăm dò nước dưới đất đã hoàn thành nhiệm vụ; giếng quan trắc bị hỏng hoặc phải thay đổi vị trí; giếng thuộc dự án nghiên cứu, điều tra đã sử dụng xong; giếng tháo khô mỏ, khảo sát địa chất công trình đã hoàn thành; giếng không xác định được chủ sở hữu; giếng gây sự cố sụt lún đất hoặc bị sự cố trong quá trình khoan không thể khắc phục.
Quy trình xử lý, trám lấp đối với từng nhóm giếng
- Đối với giếng thuộc Nhóm 1: Chủ giếng tự tổ chức thi công trám lấp và phải thông báo bằng văn bản về thời gian, địa điểm trám lấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã. Đối với giếng trong khu vực giải phóng mặt bằng, tổ chức nhận bàn giao mặt bằng phải thực hiện trám lấp trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành đền bù. Sau khi hoàn thành, chủ giếng báo cáo kết quả bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong vòng 10 ngày làm việc.
- Đối với giếng thuộc Nhóm 2: Chủ giếng phải lập phương án trám lấp chi tiết theo mẫu quy định. Trong vòng 90 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi, điều chỉnh giấy phép hoặc văn bản thông báo của cơ quan thẩm quyền, chủ giếng phải hoàn thành việc trám lấp. Chủ giếng có trách nhiệm thông báo cho Sở Tài nguyên và Môi trường trước khi thi công 10 ngày làm việc và báo cáo kết quả thi công trong vòng 10 ngày làm việc sau khi hoàn thành.
- Đối với giếng khoan thăm dò nước dưới đất: Chủ giấy phép thông báo danh sách giếng dự kiến trám lấp cho Sở Tài nguyên và Môi trường trước khi thi công 10 ngày làm việc. Kết quả trám lấp phải được thể hiện rõ trong báo cáo kết quả thăm dò hoặc báo cáo thi công giếng khai thác.
- Đối với giếng quan trắc, nghiên cứu, địa chất, tháo khô mỏ: Chủ giếng lập phương án trám lấp, thông báo cho Sở Tài nguyên và Môi trường trước khi thi công 10 ngày làm việc. Báo cáo kết quả trám lấp là một thành phần bắt buộc trong hồ sơ sản phẩm kết quả thực hiện dự án.
- Đối với giếng bị sự cố: Trường hợp giếng gây sụt lún đất hoặc sự cố ảnh hưởng đến cộng đồng, chủ giếng phải lập tức thực hiện các biện pháp an toàn, khắc phục sự cố, trám lấp giếng và báo cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và Sở Tài nguyên và Môi trường trong vòng 10 ngày làm việc sau khi hoàn thành khắc phục. Trường hợp giếng bị sự cố trong lúc khoan, chủ giếng phối hợp đơn vị thi công trám lấp ngay và báo cáo kết quả cho Sở Tài nguyên và Môi trường.
Yêu cầu kỹ thuật thi công trám lấp giếng khoan, lỗ khoan
- Đối với giếng thuộc Nhóm 1: Phải lấp đầy hỗn hợp vữa xi măng vào giếng khoan. Nếu không thể lấp đầy toàn bộ thì phải bịt kín miệng giếng và đổ bê tông xung quanh miệng giếng với kích thước tối thiểu 0,3m tính từ miệng giếng.
- Đối với giếng thuộc Nhóm 2 và Nhóm 3:
- Vật liệu trám lấp: Sử dụng vật liệu có tính thấm nước kém hoặc không thấm nước như vữa xi măng, vữa xi măng trộn sét tự nhiên/bentonit, sét tự nhiên dạng viên (đường kính viên không quá 0,25 lần đường kính nhỏ nhất của giếng).
- Chuẩn bị thi công: Đo đạc chiều sâu, đường kính, kiểm tra độ thông thoáng và khả năng rút ống giếng để chuẩn bị thiết bị phù hợp.
- Thi công trám lấp: Thực hiện trám lấp từ dưới lên trên theo từng đoạn. Ít nhất 10m trên cùng của giếng phải được trám bằng hỗn hợp vữa xi măng; miệng giếng đổ bê tông bảo vệ tối thiểu 0,3m. Nếu dùng vữa lỏng, phải dẫn vữa qua ống dẫn chuyên dụng, không đổ trực tiếp từ miệng giếng. Nếu dùng vật liệu dạng viên, phải đổ từ từ để tránh tạo nút tắc và tiến hành đầm nén theo từng đoạn không quá 10m. Trường hợp rút được ống giếng, việc rút ống phải tiến hành song song với quá trình đổ vật liệu trám lấp.
Yêu cầu kỹ thuật thi công trám lấp giếng đào
- Sử dụng vật liệu đất, sét tự nhiên có tính cách nước tương đương hoặc tốt hơn các lớp đất đá xung quanh giếng.
- Thi công theo từng lớp, đổ vật liệu đến đâu phải đầm nện chặt đến đó.
- Tối thiểu 1m trên cùng của giếng đào phải được trám lấp bằng sét tự nhiên hoặc vật liệu có tính chất tương đương để ngăn nước bề mặt thấm xuống.
Chế độ báo cáo và giám sát
- Định kỳ 6 tháng một lần, Ủy ban nhân dân cấp xã tổng hợp danh sách giếng đã trám lấp trên địa bàn gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện.
- Định kỳ 6 tháng một lần, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện tổng hợp danh sách báo cáo lên Sở Tài nguyên và Môi trường.
- Trước ngày 15 tháng 12 hằng năm, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường (qua Cục Quản lý tài nguyên nước) và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình xử lý, trám lấp giếng trên địa bàn quản lý.
Điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành
- Điều khoản chuyển tiếp: Đối với các giếng không sử dụng chưa được trám lấp trước ngày Thông tư này có hiệu lực, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với cấp huyện, cấp xã tiến hành rà soát, lập danh mục giếng phải trám lấp, niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã trong 30 ngày làm việc trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Đối với giếng không xác định được chủ sở hữu, Nhà nước tổ chức thi công trám lấp bằng ngân sách và phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2022.
- Hiệu lực thi hành: Thông tư 72/2017/TT-BTNMT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12 tháng 02 năm 2018 và thay thế hoàn toàn Quyết định số 14/2007/QĐ-BTNMT ngày 04 tháng 9 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
| BỘ TÀI NGUYÊN VÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 72/2017/TT-BTNMT | Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2017 |
Căn cứ Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, ngày 21 tháng 6 năm 2013;
Căn cứ Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước;
Căn cứ Nghị định số 36/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước và Vụ trưởng Vụ Pháp chế;
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư quy định về việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng.
1. Thông tư này quy định về xử lý, trám lấp các loại giếng khoan, lỗ khoan, giếng đào sau khi sử dụng xong hoặc bị hỏng (sau đây gọi tắt là giếng không sử dụng) trong hoạt động thăm dò, khai thác nước dưới đất, khoan khảo sát địa chất công trình, thăm dò địa chất, thăm dò, khai thác khoáng sản, xử lý nền móng công trình, tháo khô mỏ, nghiên cứu, điều tra, đánh giá nước dưới đất, và các hoạt động khoan, đào khác.
2. Việc xử lý, trám lấp các loại giếng khoan tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và các giếng khoan địa nhiệt không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này.
Thông tư này áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có liên quan đến việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng.
Điều 3. Nguyên tắc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng
1. Phải bảo đảm thực hiện kịp thời, ngăn chặn nước, chất bẩn từ trên mặt đất xâm nhập vào các tầng chứa nước và sự lưu thông giữa các tầng, lớp chứa nước khác nhau qua giếng.
2. Tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất.
Điều 4. Phân loại giếng không sử dụng để xử lý, trám lấp
1. Đối với các giếng khai thác nước dưới đất thuộc trường hợp không phải xin phép khai thác, sử dụng nước theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước, bao gồm các giếng không sử dụng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Giếng có thể tiếp tục khai thác, nhưng chủ giếng không có nhu cầu tiếp tục khai thác, sử dụng nước và không có kế hoạch để sử dụng cho các mục
đích khác;
b) Giếng không sử dụng nằm trong phạm vi bị thu hồi đất, giải phóng mặt bằng mà tổ chức, cá nhân nhận bàn giao mặt bằng không sử dụng;
c) Giếng bị hỏng không khắc phục được; giếng không thể tiếp tục khai thác do bị ô nhiễm, chất lượng nước không đáp ứng yêu cầu cho mục đích sử dụng hoặc do các nguyên nhân khác;
d) Giếng mà chủ giếng vi phạm pháp luật về tài nguyên nước, đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp buộc phải trám lấp giếng theo quy định của pháp luật.
2. Đối với các giếng khai thác nước dưới đất của công trình khai thác thuộc trường hợp phải xin phép khai thác, sử dụng nước (sau đây gọi tắt là giấy phép) theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước, bao gồm các giếng không sử dụng thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Giếng thuộc công trình khai thác nước dưới đất đã có giấy phép, nhưng chủ giấy phép trả lại giấy phép hoặc điều chỉnh giấy phép, trong đó có việc điều chỉnh giếng khai thác hoặc giếng quan trắc hoặc giấy phép bị thu hồi vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và đã được Nhà nước bồi thường, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định của pháp luật;
Đối với trường hợp quy định tại Điểm này thì việc xử lý, trám lấp giếng được thực hiện sau khi đã hoàn thành việc trả lại, thu hồi hoặc điều chỉnh giấy phép theo quy định của pháp luật.
b) Giếng thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này thuộc công trình khai thác nước dưới đất phải xin phép theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước mà không có giấy phép và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp buộc phải trám lấp giếng theo quy định của pháp luật;
c) Giếng thuộc công trình khai thác nước dưới đất phải xin phép theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước mà không đủ điều kiện để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, gia hạn giấy phép và có yêu cầu phải trám lấp giếng theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước.
3. Đối với các giếng không sử dụng không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, bao gồm:
a) Giếng khoan thăm dò nước dưới đất mà chủ giấy phép xác định đã hoàn thành nhiệm vụ và không sử dụng để khai thác hoặc quan trắc;
b) Giếng khoan quan trắc nước dưới đất của mạng lưới quan trắc tài nguyên nước mà đơn vị quản lý, vận hành xác định đã bị hỏng, không thể khắc phục hoặc phải thay đổi vị trí hoặc vì các lý do khác mà không thể tiếp tục quan trắc;
c) Giếng khoan thuộc các dự án nghiên cứu, điều tra, đánh giá nước dưới đất mà đơn vị thực hiện dự án xác định đã sử dụng xong và không có nhu cầu, kế hoạch sử dụng cho các mục đích khác;
d) Giếng sử dụng để tháo khô mỏ, hố móng, giếng khoan thuộc các dự án nghiên cứu, điều tra, tìm kiếm, thăm dò địa chất và khoáng sản; giếng khoan khảo sát địa chất công trình (trừ giếng khoan thuộc phạm vi hố móng và được thi công ngay sau đó) mà chủ giếng xác định đã sử dụng xong và không có nhu cầu, kế hoạch sử dụng cho các mục đích khác hoặc bị hư hỏng không thể tiếp tục sử dụng;
đ) Giếng tồn tại trên thực tế nhưng không sử dụng và không xác định được chủ giếng;
e) Giếng khoan gây ra sự cố sụt, lún đất, làm ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng nước dưới đất hoặc gây sự cố bất thường khác ảnh hưởng đến công trình xây dựng và đời sống của cộng đồng dân cư trong khu vực lân cận;
g) Giếng khoan bị sự cố trong quá trình khoan và không thể khắc phục được hoặc giếng khoan chưa hoàn thành nhưng buộc phải thay đổi vị trí khoan.
1. Giếng thuộc trường hợp quy định tại Điểm a và Điểm c
2. Giếng thuộc trường hợp quy định tại Điểm b
3. Giếng thuộc trường hợp quy định tại Điểm d
4. Trong thời hạn không quá mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành việc thi công trám lấp giếng không sử dụng quy định tại Điều này, chủ giếng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã thực hiện trám lấp giếng không sử dụng để theo dõi, tổng hợp.
Việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng thuộc trường hợp quy định tại
1. Sau khi có quyết định thu hồi, điều chỉnh giấy phép, xử lý vi phạm hành chính mà trong đó có áp dụng biện pháp phải trám lấp giếng hoặc có văn bản thông báo chấm dứt hiệu lực giấy phép đối với trường hợp trả lại giấy phép hoặc văn bản thông báo không đủ điều kiện để được cấp, gia hạn giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ giếng phải lập phương án trám lấp giếng theo quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.
Trong thời hạn chín mươi (90) ngày kể từ ngày có quyết định hoặc văn bản thông báo, chủ giếng phải hoàn thành việc trám lấp giếng. Trường hợp trong các quyết định hoặc văn bản thông báo có quy định cụ thể về thời hạn hoàn thành việc trám lấp thì thực hiện theo các quyết định, văn bản thông báo này.
2. Trong thời hạn không quá mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định hoặc văn bản theo quy định tại Khoản 1 Điều này, chủ giếng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về thời gian, địa điểm thực hiện việc thi công trám lấp giếng tới Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Sở Tài nguyên và Môi trường) để theo dõi, kiểm tra (nếu cần).
3. Trong thời hạn không quá mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành việc thi công trám lấp giếng không sử dụng, chủ giếng có trách nhiệm báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường về kết quả thi công trám lấp giếng.
Nội dung chính của báo cáo kết quả thi công trám lấp giếng, gồm: các thông tin chung về giếng phải trám lấp; nội dung, khối lượng đã thực hiện trong quá trình thi công trám lấp; đánh giá mức độ đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật trong việc trám lấp giếng theo quy định; những vấn đề phát sinh trong quá trình trám lấp giếng (nếu có).
Điều 7. Xử lý, trám lấp giếng khoan thăm dò nước dưới đất
Việc xử lý, trám lấp giếng thuộc trường hợp quy định tại Điểm a
1. Trong thời hạn không quá mười (10) ngày làm việc, trước ngày thi công các giếng khoan thăm dò, chủ giấy phép thông báo bằng văn bản tới Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có công trình thăm dò về danh sách dự kiến các giếng khoan thăm dò phải trám lấp và thời gian, địa điểm dự kiến thực hiện thi công trám lấp giếng để theo dõi, kiểm tra (nếu cần).
2. Sau khi hoàn thành việc trám lấp, chủ giấy phép có trách nhiệm báo cáo kết quả thi công trám lấp giếng, trong đó phải nêu rõ việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật trong việc trám lấp giếng theo quy định của Thông tư này, những vấn đề phát sinh trong quá trình trám lấp giếng (nếu có) và được thể hiện trong báo cáo kết quả thăm dò, đánh giá trữ lượng nước dưới đất hoặc báo cáo kết quả thi công giếng khai thác theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước.
Việc xử lý, trám lấp giếng thuộc trường hợp quy định tại Điểm b, Điểm c và Điểm d
1. Chủ giếng có trách nhiệm xây dựng phương án trám lấp giếng theo quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. Trong thời hạn không quá mười (10) ngày làm việc, trước ngày thi công trám lấp giếng, chủ giếng thông báo bằng văn bản về thời gian, địa điểm thực hiện trám lấp giếng tới Sở Tài nguyên và Môi trường để theo dõi, kiểm tra (nếu cần).
2. Sau khi hoàn thành việc trám lấp giếng, chủ giếng có trách nhiệm báo cáo kết quả thi công trám lấp giếng theo quy định tại
Điều 9. Xử lý, trám lấp giếng khoan bị sự cố
Việc xử lý, trám lấp giếng thuộc trường hợp quy định tại Điểm e và Điểm g
1. Đối với trường hợp quy định tại Điểm e
Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành việc khắc phục sự cố, chủ giếng báo cáo kết quả khắc phục sự cố tới Ủy ban nhân dân cấp xã và Sở Tài nguyên và Môi trường, trong đó nêu rõ các biện pháp bảo đảm an toàn, kết quả trám lấp giếng và khu vực bị sụt lún, kết quả bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật (nếu có).
2. Đối với trường hợp quy định tại Điểm g
Điều 10. Yêu cầu kỹ thuật thi công trám lấp giếng khoan, lỗ khoan không sử dụng
1. Việc thi công trám lấp giếng khoan nước dưới đất quy định tại
a) Lấp đầy hỗn hợp vữa xi măng vào trong giếng khoan, trường hợp không thể lấp đầy giếng thì phải có biện pháp bịt kín miệng giếng; xung quanh miệng giếng phải đổ bê tông với kích thước không nhỏ hơn 0,3m tính từ miệng giếng khoan;
b) Khuyến khích thực hiện thi công trám lấp giếng theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
2. Việc thi công trám lấp giếng khoan, lỗ khoan không sử dụng quy định tại Khoản 2 và
a) Vật liệu trám lấp phải có tính thấm nước kém hoặc không thấm nước, gồm hỗn hợp vữa hoặc vật liệu dạng viên như sau:
Hỗn hợp vữa, gồm: vữa xi măng; vữa xi măng trộn với sét tự nhiên hoặc bentonit; vữa bentonit, sét tự nhiên; vữa được trộn bằng các vật liệu khác có tính chất đông kết, trương nở tương đương với sét tự nhiên;
Vật liệu dạng viên, gồm: sét tự nhiên dạng viên; vật liệu dạng viên khác có tính chất thấm nước, trương nở tương đương với sét tự nhiên. Vật liệu dạng viên phải bảo đảm có dạng hình cầu và kích thước không lớn hơn 0,25 lần đường kính nhỏ nhất của giếng khoan hoặc đường kính trong của đoạn ống nhỏ nhất.
b) Chuẩn bị trám lấp giếng:
Căn cứ điều kiện cụ thể từng giếng khoan, lựa chọn vật liệu trám lấp và biện pháp thi công, công nghệ, thiết bị trám lấp phù hợp;
Kiểm tra, đánh giá hiện trạng của giếng khoan; đo chiều sâu, đường kính, xác định đường kính nhỏ nhất và đánh giá mức độ thông thoáng của giếng khoan;
Kiểm tra, đánh giá khả năng rút, nhổ cột ống giếng. Trường hợp rút, nhổ được cột ống giếng thì chuẩn bị thiết bị, dụng cụ phù hợp để bảo đảm việc trám lấp được thực hiện đồng thời với quá trình rút, nhổ cột ống giếng;
Chuẩn bị các điều kiện để bảo đảm quá trình trám lấp giếng được thực hiện liên tục, không gián đoạn.
c) Thi công trám lấp giếng:
Việc thi công trám lấp phải bảo đảm giếng khoan được lấp đầy bằng các vật liệu trám lấp ở trạng thái đông kết; thực hiện trám lấp theo từng đoạn, từ dưới lên trên, bắt đầu từ đáy giếng; ít nhất 10m trên cùng của giếng phải được trám lấp bằng hỗn hợp vữa; miệng giếng phải được đổ bê tông với kích thước không nhỏ hơn 0,3m kể từ miệng giếng khoan;
Trường hợp sử dụng hỗn hợp vữa dạng lỏng phải bảo đảm vữa được dẫn qua ống tới độ sâu của từng đoạn trám lấp bằng dụng cụ, thiết bị phù hợp, không đổ vữa trực tiếp qua miệng giếng; chiều dài mỗi đoạn trám lấp tuỳ thuộc điều kiện của từng giếng khoan và khả năng thực tế của thiết bị trám lấp;
Trường hợp sử dụng vật liệu dạng viên phải bảo đảm không tạo thành "nút" ở trong giếng; vật liệu được đổ từ từ, khối lượng phù hợp với thể tích của từng đoạn; kết thúc mỗi đoạn trám lấp phải đầm, nén vật liệu bằng dụng cụ, thiết bị phù hợp; chiều dài mỗi đoạn trám lấp không quá 10m;
Trường hợp rút, nhổ được cột ống giếng, thì phải rút, nhổ cột ống đó trong quá trình trám lấp. Việc rút, nhổ cột ống phải thực hiện theo từng đoạn, phù hợp với chiều dài mỗi đoạn trám lấp, chân của cột ống giếng luôn nằm trong lớp vật liệu trám lấp và bảo đảm đất đá không sập lở vào giếng trước khi vật liệu lấp đầy đoạn giếng khoan.
Điều 11. Yêu cầu kỹ thuật thi công trám lấp giếng đào
1. Vật liệu sử dụng gồm vật liệu đất, sét tự nhiên có tính cách nước tốt hơn hoặc tương đương với các lớp đất đá xung quanh giếng đào.
2. Việc thi công trám lấp giếng phải thực hiện theo từng đoạn; vật liệu được đổ theo từng lớp và phải được đầm, nện; tối thiểu 1m trên cùng của giếng phải được trám lấp bằng sét tự nhiên hoặc vật liệu khác có tính chất tương đương.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
1. Định kỳ, sáu (06) tháng một lần, Ủy ban nhân dân cấp xã tổng hợp danh sách giếng đã trám lấp trên địa bàn và gửi báo cáo tới Phòng Tài nguyên và Môi trường các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện).
2. Định kỳ, sáu (06) tháng một lần, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện tổng hợp, lập danh sách giếng đã trám lấp trên địa bàn, báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường.
3. Định kỳ, trước ngày 15 tháng 12 hằng năm, Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường (qua Cục Quản lý tài nguyên nước) và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về thực hiện việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng trên địa bàn.
Điều 13. Điều khoản chuyển tiếp
1. Đối với trường hợp giếng không sử dụng phải trám lấp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt danh mục giếng phải trám lấp theo quy định tại Quyết định số 14/2007/QĐ-BTNMT ngày 04 tháng 9 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, thì tiếp tục thực hiện theo quyết định đã phê duyệt.
2. Đối với giếng khai thác nước dưới đất không sử dụng phải trám lấp thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 và Điểm đ
a) Căn cứ điều kiện cụ thể ở từng địa phương, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức điều tra, thống kê, rà soát, phân loại và lập danh mục giếng không sử dụng phải trám lấp;
b) Danh mục giếng không sử dụng phải trám lấp, bao gồm danh sách từng giếng không sử dụng phải trám lấp, được phân loại theo quy định tại Khoản 1 và Điểm đ
c) Sở Tài nguyên và Môi trường gửi dự thảo danh mục giếng không sử dụng phải trám lấp tới Ủy ban nhân dân cấp xã để niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban trong thời hạn ba mươi (30) ngày làm việc. Đối với trường hợp quy định tại Điểm a
d) Trên cơ sở kết quả niêm yết, thông báo theo quy định tại Điểm c Khoản này và đề nghị của chủ giếng, Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát, hoàn thiện danh mục giếng không sử dụng phải trám lấp, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt;
đ) Trên cơ sở danh mục giếng không sử dụng phải trám lấp đã được phê duyệt, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân cấp xã thông báo tới chủ giếng để thi công trám lấp giếng theo quy định tại Thông tư này;
e) Đối với trường hợp giếng phải trám lấp trong danh mục giếng không sử dụng phải trám lấp mà không xác định được chủ giếng thì Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thi công trám lấp. Việc thi công trám lấp phải đảm bảo hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2022.
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12 tháng 02 năm 2018.
2. Bãi bỏ Quyết định số 14/2007/QĐ-BTNMT ngày 04 tháng 9 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy định về việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.
3. Cục Quản lý tài nguyên nước có trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện Thông tư này.
4. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có liên quan có trách nhiệm thực hiện Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện Thông tư này, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Tài nguyên và Môi trường để xem xét, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
MẪU PHƯƠNG ÁN TRÁM LẤP GIẾNG KHÔNG SỬ DỤNG
(Ban hành kèm theo Thông tư số 72/2017/TT-BTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường)
|
(Trang bìa trong) PHƯƠNG ÁN TRÁM LẤP GIẾNG KHÔNG SỬ DỤNG ........... (1) | |
| CHỦ GIẾNG Ký, đóng dấu (nếu có) và ghi rõ họ, tên | TỔ CHỨC/CÁ NHÂN Ký, đóng dấu (nếu có) và ghi rõ họ, tên |
| Địa danh, ngày tháng năm | |
(1) Ghi loại giếng (khai thác, thăm dò, quan trắc, tháo khô mỏ, hố móng hoặc giếng khoan thuộc dự án....), của (tên chủ giếng)
Phương án trám lấp giếng phải nêu rõ các biện pháp sẽ được thực hiện để bảo đảm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật phù hợp với loại giếng theo quy định của Thông tư này. Các nội dung chính của Phương án cụ thể như sau:
Mở đầu:
Nêu tóm tắt thông tin chung về chủ giếng có giếng phải trám lấp, vị trí, địa điểm; số lượng, loại giếng (khai thác, thăm dò, quan trắc, tháo khô mỏ, hố móng hoặc giếng khoan thuộc dự án....), mục đích khoan giếng hoặc mục đích sử dụng giếng (đối với giếng đã có); lý do phải trám lấp.
1. Mô tả giếng khoan:
- Liệt kê danh mục (số hiệu, vị trí, chiều sâu) giếng khoan phải trám lấp.
- Mô tả địa tầng (nếu có), cấu trúc của giếng khoan (đường kính, chiều sâu, đường kính nhỏ nhất, loại ống chống (nếu có),....và tự nhận xét, đánh giá về khả năng thực tế của việc rút, nhổ cột ống, những vấn đề cần chú ý trong quá trình thi công trám lấp giếng khoan.
2. Vật liệu trám lấp:
- Nêu các loại vật liệu sử dụng để trám lấp (hỗn hợp vữa, vật liệu dạng viên, vật liệu bở rời hoặc vật liệu tự nhiên tại chỗ...);
- Nêu cụ thể từng loại vật liệu sử dụng để trám lấp từng đoạn chiều sâu của giếng khoan (nếu sử dụng các loại vật liệu khác nhau để trám lấp) hoặc toàn bộ chiều sâu giếng khoan;
- Dự kiến khối lượng vật liệu sử dụng;
- Trường hợp sử dụng hỗn hợp vữa thì nêu các loại vật liệu sử dụng để trộn vữa, tỷ lệ pha trộn và phụ gia (nếu có);
- Trường hợp sử dụng vật liệu dạng viên hoặc vật liệu bở rời khác thì nêu loại vật liệu, kích thước tối đa và biện pháp, cách thức kiểm soát kích thước đó.
3. Thiết bị, dụng cụ chủ yếu để trám lấp:
- Nêu các loại thiết bị chủ yếu được sử dụng để thi công trám lấp (máy khoan, máy bơm,..) và mô tả những tính năng, kỹ thuật chủ yếu liên quan trực tiếp tới quá trình rút, nhổ cột ống, thi công trám lấp;
- Nêu các loại dụng cụ chủ yếu được sử dụng trực tiếp để trám lấp (đường kính, chiều dài bộ cần khoan hoặc ống; bộ dụng cụ, thiết bị trộn vữa,...).
4. Quy trình thực hiện trám lấp:
Tuỳ điều kiện cụ thể từng giếng khoan, chiều sâu, đường kính, loại vật liệu, thiết bị, dụng cụ sử dụng để trám lấp, quy trình thực hiện trám lấp bao gồm các nội dung sau:
- Mô tả việc phân chia các đoạn trám và chiều dài các đoạn trám lấp tương ứng;
- Mô tả trình tự các bước công việc dự kiến để thực hiện trám lấp cho mỗi đoạn và toàn bộ giếng khoan;
- Mô tả phương pháp, cách thức, quá trình rút, nhổ cột ống (nếu có);
- Mô tả phương pháp, cách thức, quá trình đưa vữa trám lấp xuống giếng khoan (nếu sử dụng vữa trám);
- Mô tả biện pháp, cách thức, quá trình đầm, nện vật liệu trám lấp ở trong giếng khoan (nếu sử dụng vật liệu dạng viên hoặc bở rời);
- Mô tả cách thức, biện pháp kiểm tra, kiểm soát khối lượng vật liệu, chiều dài mỗi đoạn trám lấp trong giếng khoan;
- Mô tả phương pháp, quá trình bổ sung vật liệu trám lấp và đổ lớp bê tông miệng giếng khoan.
5. Kết luận:
Tự nhận xét, đánh giá và kết luận mức độ đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật về vật liệu, quá trình trám lấp giếng khoan và những đề xuất, kiến nghị.
Phụ lục kèm theo:
1) Hình vẽ cột địa tầng (nếu có) và cấu trúc giếng khoan phải trám lấp (trường hợp nhiều giếng khoan thì chỉ cần hình vẽ của giếng khoan điển hình, đại diện).
2) Hình vẽ cột địa tầng (nếu có) và dự kiến cấu trúc giếng khoan (các lớp vật liệu trám lấp) sau khi hoàn thành công tác trám lấp (trường hợp nhiều giếng khoan thì chỉ cần hình vẽ của giếng khoan điển hình, đại diện).
Ghi chú:
- Phương án trám lấp giếng khoan có thể được lập cho một, một số giếng khoan hoặc toàn bộ giếng khoan phải trám lấp của chủ giếng;
- Trường hợp gồm nhiều loại giếng khoan (giếng khoan nước dưới đất, giếng khoan khác) có yêu cầu kỹ thuật khác nhau thì có thể lập phương án trám lấp chung và nêu cụ thể đối với từng loại giếng khoan đó.
- 1 Thông tư 22/2024/TT-BTNMT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trám lấp giếng không sử dụng do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 2 Quyết định 280/QĐ-BTNMT năm 2025 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2024
- 1 Quyết định 399/QĐ-BCN năm 2006 đính chính Quy chế Bảo quản và Huỷ bỏ giếng khoan dầu khí kèm theo Quyết định 37/2005/QĐ-BCN do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 2 Quyết định 14/2007/QĐ-BTNMT Quy định về việc xử lý, trám lấp giếng không sử dụng do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 3 Công văn 1212/BXD-HĐXD góp ý kiến dự án thành lập Công ty TNHH liên doanh kỹ thuật giếng khoan PV Drilling và Baker Hughes do Bộ Xây dựng ban hành
- 4 Thông báo 3956/TB-TCHQ năm 2015 về kết quả phân loại đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu là Chế phẩm chống ăn mòn dạng lỏng có tác dụng bảo vệ ống và thiết bị lòng giếng khoan do Tổng cục Hải quan ban hành
- 5 Thông tư 22/2024/TT-BTNMT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trám lấp giếng không sử dụng do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 6 Quyết định 280/QĐ-BTNMT năm 2025 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2024
- 1 Quyết định 399/QĐ-BCN năm 2006 đính chính Quy chế Bảo quản và Huỷ bỏ giếng khoan dầu khí kèm theo Quyết định 37/2005/QĐ-BCN do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành
- 2 Công văn 1212/BXD-HĐXD góp ý kiến dự án thành lập Công ty TNHH liên doanh kỹ thuật giếng khoan PV Drilling và Baker Hughes do Bộ Xây dựng ban hành
- 3 Luật tài nguyên nước 2012
- 4 Nghị định 201/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật tài nguyên nước
- 5 Thông báo 3956/TB-TCHQ năm 2015 về kết quả phân loại đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu là Chế phẩm chống ăn mòn dạng lỏng có tác dụng bảo vệ ống và thiết bị lòng giếng khoan do Tổng cục Hải quan ban hành
- 6 Nghị định 36/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường