Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Thông tư 80-TT/LB được ban hành năm 1958 bởi Liên bộ Bộ Nội vụ - Bộ Công an - Bộ Tư pháp nhằm hướng dẫn chi tiết về các trường hợp công dân bị mất quyền bầu cử và ứng cử theo quy định của pháp luật nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho công tác bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm tính giai cấp và tính nhân dân của chính quyền cách mạng thời kỳ đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Thông tư áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam trong độ tuổi bầu cử, đồng thời là căn cứ pháp lý để các Ủy ban hành chính, cơ quan Công an và Tòa án các cấp tiến hành rà soát, lập danh sách cử tri, loại bỏ những đối tượng không đủ tư cách chính trị hoặc năng lực hành vi dân sự ra khỏi danh sách bầu cử và ứng cử.

- Quy định đối với người mất trí (bệnh tâm thần)

  • Người bị bệnh tâm thần hoặc mất trí hoàn toàn, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì không được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử.
  • Việc xác định một người có bị mất trí hay không phải dựa trên sự chứng nhận của cơ quan y tế chuyên môn hoặc sự xác nhận rõ ràng của chính quyền địa phương và gia đình nơi người đó cư trú.
  • Trường hợp người bệnh đã được điều trị khỏi và khôi phục hoàn toàn năng lực nhận thức thì được trả lại quyền bầu cử và ứng cử theo quy định chung.

- Quy định đối với người bị Tòa án tước quyền công dân

  • Những cá nhân phạm pháp, bị Tòa án nhân dân tuyên án phạt tù và kèm theo hình phạt bổ sung là tước một số quyền công dân (trong đó có quyền bầu cử và ứng cử) sẽ bị mất các quyền này trong suốt thời gian ghi trong bản án.
  • Thời hạn mất quyền bầu cử, ứng cử được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi hết thời hạn tước quyền công dân được tuyên trong bản án hoặc cho đến khi được đặc xá, đại xá.

- Quy định đối với các phần tử phản cách mạng và bóc lột chưa được cải tạo

  • Các đối tượng thuộc giai cấp địa chủ chưa được cải tạo tốt, những kẻ phản cách mạng, tay sai cho thực dân Pháp và đế quốc cũ chưa qua quá trình giáo dục, cải tạo tư tưởng sẽ bị tước quyền bầu cử và ứng cử.
  • Những người đang trong thời gian chịu sự quản chế của chính quyền địa phương, người bị giam giữ để điều tra hoặc đang chấp hành hình phạt tù cũng không được tham gia bầu cử.
  • Quy định này nhằm bảo vệ thành quả cách mạng, ngăn chặn các phần tử thù địch xâm nhập vào bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân.

- Thủ tục lập danh sách và giải quyết khiếu nại về quyền bầu cử

  • Ủy ban hành chính cấp cơ sở (xã, thị trấn, khu phố) có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an để rà soát kỹ lưỡng lý lịch, tư cách của từng công dân trước khi lập danh sách cử tri.
  • Danh sách cử tri phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban hành chính hoặc những nơi công cộng để nhân dân kiểm tra, giám sát và phát hiện sai sót.
  • Mọi khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc mất quyền bầu cử, ứng cử hoặc sai sót trong danh sách cử tri phải được Ủy ban bầu cử và các cơ quan tư pháp xem xét, giải quyết dứt điểm trước ngày bầu cử theo thời hạn luật định.

Thông tư 80-TT/LB năm 1958 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành và được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ miền Bắc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong các kỳ bầu cử thời kỳ đó.

BỘ CÔNG AN-BỘ NỘI VỤ-BỘ TƯ PHÁP
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 80-TT/LB

Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 1958

THÔNG TƯ

VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP MẤT QUYỀN BẦU CỬ, ỨNG CỬ

Kính gửi:

- Ủy ban Hành chính các Khu Tự trị
- Khu Hồng Quảng
- Khu vực Vĩnh Linh và các tỉnh

Điều 4, tiết I, chương I, luật số 004-SLt ngày 20-07-1957 về bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp quy định những người sau đây không có quyền bầu cử, ứng cử:

- Người bị pháp luật hoặc tòa án tước công quyền.

- Người bị bệnh điên.

- Địa chủ chưa được thay đổi thành phần (trừ địa chủ thường được Ủy ban Hành chính và Ban chấp hành Nông hội xã đề nghị cho bầu cử, ứng cử và được Ủy ban Hành chính tỉnh chuẩn y, và địa chủ kháng chiến).

Để việc xét tư cách cử tri và ứng cử viên khỏi có sự thiếu sót, các địa phương cần nhận định đúng về phạm vi thi hành sắc luật trong những trường hợp trên.

Thông tư này nêu lên một số trường hợp cần được chú ý.

I. - TRƯỜNG HỢP NHỮNG NGƯỜI BỊ PHÁP LUẬT HOẶC TÒA ÁN TƯỚC CÔNG QUYỀN

Theo nguyên tắc tiến hành, những người sau đây bị tước công quyền:

1) Những người phạm tội phản cách mạng:

- Việt gian phản động, phá hoại an toàn Nhà nước (bị xử phạt theo sắc lệnh số 133 ngày 20-01-1953).

- Những người vì mục đích phá hoại, can tội làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch kinh tế và văn hóa của Nhà nước (bị xử phạt theo sắc lệnh 267-SL ngày 15-06-1956).

- Những địa chủ cường hào gian ác, địa chủ và tay sai chống phá pháp luật (bị xử phạt theo sắc lệnh số 151-SL ngày 12-04-1953).

- Những người đang bị quản chế vi hành vi phản cách mạng (sắc lệnh số 175-SL ngày 18-08-1953).

2) Những người phạm tội hình sự thường:

- Những người bị xử phạt tù hiện đang ở tù.

- Những người đang bị quản chế vì tội hình sự thường.

- Những người vì tham lam tư lợi bị xử phạt theo sắc lệnh số 267-SL ngày 15-06-1956, trong bản án có tuyên bố tước quyền công dân.

- Những người bị can vì tội hình sự thường thuộc loại nghiêm trọng, bị phạt từ 5 năm tù trở lên.

- Những người bị án vì tội hình sự thường thuộc loại không nghiêm trọng bị phạt dưới 5 năm tù nhưng trong bản án có tuyên bố mất quyền công dân.

Nói chung tất cả những phạm nhân kể trên về tội phản cách mạng và hình sự thường kể cả những người đang chịu án hoặc đã mãn án nhưng chưa được toà án cho khôi phục công quyền, đều không được tham gia bầu cử, ứng cử. Tuy nhiên những người phạm tội và bị xử phạt trước ngày 09-10-1945 đều được đại xá và được khôi phục công quyền, chỉ trừ một số ít người là không được hưởng đại xá.

Theo thông tư số 413-TTg ngày 01-11-1954 của Thủ tướng Chính phủ thi hành nghị quyết của Hội đồng Chính phủ ngày 12-10-1954 thì các tội phạm bị tòa án quân sự, tòa án nhân dân, tòa án hình truy tố và xét xử từ cách mạng tháng 8 đến ngày 09-10-1954, đều được đại xá, được hưởng mọi quyền công dân, có quyền bầu cử ứng cử.

Những phạm nhân được hưởng đại xá bao gồm tất cả những người đang ở thời kỳ bị truy tố hoặc bị xử vắng mặt hay có mặt, đã chịu án hay chưa chịu án hoặc đang chịu án mà lẩn trốn, kể cả những người can tội hợp tác với đối phương đã được tha hoặc miễn tố theo sắc lệnh số 218-SL ngày 01-10-1954. Riêng mấy loại phạm nhân sau đây không được hưởng đại xá:

- Địa chủ cường hào gian ác bị xử phạt trong phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất.

- Bọn có nhiều nợ máu với nhân dân, tra tấn giết người một cách dã man.

- Bọn côn đồ chưa thực sự cải tạo, chưa học được nghề gì để sinh sống lương thiện.

II. - TRƯỜNG HỢP NHỮNG NGƯỜI ĐIÊN

Những người điên là những người đã mất trí, tinh thần rối loạn liên miên, không phân biệt được phải trái, không nhận định được ngoại cảnh.

Trường hợp này nếu đa số nhân dân trong xã, khu phố hoặc cơ quan y tế địa phương xác nhận thì không để tham gia bầu cử ứng cử.

Cần phân biệt người điên với người gàn dở, lẩm cẩm, đồng bóng, hoặc những người bị bệnh thần kinh trong từng thời kỳ, lúc mất trí, lúc bình thường. Những người này trong lúc bình thường vẫn có quyền bầu cử và ứng cử.

III. - TRƯỜNG HỢP CÁC ĐỊA CHỦ

Nói chung, các địa chủ chưa được thay đổi thành phần đều không có quyền bầu cử, ứng cử. Nhưng để mở cho họ con đường lao động cải tạo nên Chính phủ đã có chính sách phân biệt đối xử.

Điều 3, tiết 1, chương I luật bầu cử, quy định những địa chủ sau đây, tuy chưa được thay đổi thành phần, cũng được bầu cử và ứng cử:

- Địa chủ kháng chiến.

- Địa chủ thường được Ủy ban Hành chính và Ban chấp hành Nông hội xã đề nghị cho bầu cử và ứng cử, và được Ủy ban Hành chính tỉnh chuẩn y.

Việc xét cho một địa chủ thường được tham gia bầu cử và ứng cử cần căn cứ trên 2 điều kiện:

1) Thái độ lao động:

Bản thân địa chủ phải thực sự tham gia lao động chính trong sản xuất nông nghiệp như cày bừa, cấy gặt, tát nước, làm cỏ bỏ phân.

Việc xét lao động của một địa chủ phải căn cứ theo mức lao động bình thường và có châm chước đối với những người già yếu, ốm đau, tàn tật, bận con mọn, mất sức lao động, v.v…

2) Thái độ đối với chính sách, pháp luật của Chính phủ:

Phải thi hành đúng đắn các chính sách, triệt để tuân theo luật pháp của Chính phủ. Đối với các thể lệ chung của địa phương, biết tôn trọng, không gây chia rẽ trong nhân dân, không làm rối trật tự ở nông thôn.

Cần chú ý là việc cho một địa chủ tham gia bầu cử, ứng cử không có nghĩa là cho họ thay đổi thành phần. Việc xét cho địa chủ thay đổi thành phần vẫn phải dựa trên nguyên tắc đã quy định.

Đối với vợ lẽ, con nuôi, người ở rể và con cái địa chủ mà sau sửa sai không vạch là thành phần địa chủ đều được coi như mọi công dân khác, được quyền bầu cử ứng cử.

IV. - MẤY TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

Trường hợp những người dưới đây, mặc dù tòa án chưa tuyên bố mất quyền công dân, nhưng vi phạm pháp luật Nhà nước và hiện bị giam giữ, thời không được tham gia bầu cử ứng cử:

1) Những người bị tạm giữ, tạm giam

2) Những người đang bị tập trung để lao động cải tạo.

Cần phân biệt những người sau đây là những người có thể tham gia bầu cử, ứng cử:

1) Những người bị án treo.

2) Những người đang bị tòa án truy tố hoặc đang chống án nhưng không bị giam giữ.

3) Những người hiện đang được nuôi và dạy nghề ở trong các trại cứu tế xã hội.

Trên đây là một số trường hợp cần thiết nêu lên để địa phương nghiên cứu áp dụng trong việc lập danh sách cử tri. Ngoài ra trong khi tiến hành, nếu có trường hợp nào chưa rõ, đề nghị báo cáo lên Bộ để xét và xử lý.

BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP




Vũ Đình Hòe

BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ




Phan Kế Toại

K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN
THỨ TRƯỞNG





Lê Quốc Thân

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 80-TT/LB năm 1958 về các trường hợp mất quyền bầu cử, ứng cử do Bộ Nội Vụ- Bộ Công An- Bộ Tư Pháp ban hành

Số hiệu: 80-TT/LB
Loại văn bản: Thông tư
Ngày ban hành: 06/12/1958
Nơi ban hành: Bộ Công An, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp
Người ký: Lê Quốc Thân, Phan Kế Toại, Vũ Đình Hoè
Ngày công báo: 24/12/1958
Số công báo: Số 44
Ngày hiệu lực: 21/12/1958
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Quyền dân sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Thông tư 80-TT/LB năm 1958 về các trường hợp...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký