Tóm tắt Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7875:2008 về Nước - Xác định dầu và mỡ - Phương pháp chiếu hồng ngoại
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7875:2008 là văn bản kỹ thuật quy định quy trình phân tích và xác định hàm lượng dầu, mỡ có trong các nguồn nước bằng phương pháp phổ hồng ngoại. Đây là công cụ kiểm soát chất lượng nước quan trọng đối với các phòng thử nghiệm và cơ quan quản lý môi trường tại Việt Nam. Dưới đây là phần phân tích chi tiết nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (từ Điều 1 đến Điều 4) của tiêu chuẩn này:
- Điều 1: Phạm vi áp dụng
- Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định hàm lượng dầu và mỡ (bao gồm dầu mỡ động thực vật và dầu mỡ khoáng) có trong các loại nước khác nhau như nước mặt, nước ngầm, nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp.
- Phương pháp chiếu hồng ngoại (IR) được áp dụng tối ưu cho các mẫu nước có nồng độ dầu mỡ nằm trong dải đo tiêu chuẩn, giúp phát hiện và định lượng chính xác các hợp chất hydrocacbon và các chất béo có liên kết C-H đặc trưng.
- Điều 2: Tài liệu viện dẫn
- Tiêu chuẩn viện dẫn các tài liệu, tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế liên quan đến việc lấy mẫu nước, bảo quản mẫu và các phương pháp thử nghiệm bổ trợ.
- Việc áp dụng TCVN 7875:2008 yêu cầu người sử dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình lấy mẫu và xử lý mẫu theo đúng các tiêu chuẩn viện dẫn này để đảm bảo tính đồng nhất và độ tin cậy của kết quả phân tích.
- Điều 3: Thuật ngữ và định nghĩa
- Tiêu chuẩn đưa ra định nghĩa rõ ràng về "dầu và mỡ" trong ngữ cảnh phân tích hóa học nước. Theo đó, dầu và mỡ được hiểu là tất cả các chất có thể chiết được từ mẫu nước bằng dung môi quy định trong những điều kiện thử nghiệm cụ thể.
- Các chất này bao gồm các hydrocacbon, axit béo, xà phòng, chất béo trung tính, sáp và các chất phân cực hoặc không phân cực khác có khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại ở vùng số sóng đặc trưng (thường xung quanh dải từ 2900 cm-1 đến 3000 cm-1).
- Điều 4: Nguyên tắc của phương pháp
- Quá trình chiết tách: Dầu và mỡ trong mẫu nước được chiết bằng một dung môi hữu cơ thích hợp (thường là dung môi halogen hóa không chứa hydro hoặc dung môi được phê duyệt khác có tính chất tương tự) ở điều kiện pH thích hợp.
- Loại bỏ chất cản trở: Dịch chiết thu được có thể được xử lý bằng chất hấp phụ (như silica gel hoạt hóa) để tách riêng biệt phần hydrocacbon (dầu khoáng) và phần chất béo có cực (dầu mỡ động thực vật) nếu cần xác định riêng từng thành phần.
- Đo phổ hồng ngoại: Tiến hành đo độ hấp thụ hồng ngoại của dịch chiết tại các bước sóng đặc trưng cho dao động kéo dãn của liên kết C-H (nhóm CH, CH2, CH3). Hàm lượng dầu và mỡ trong mẫu nước được tính toán dựa trên đường chuẩn được xây dựng từ các chất chuẩn tương ứng.
NƯỚC - XÁC ĐỊNH DẦU VÀ MỠ - PHƯƠNG PHÁP CHIẾU HỒNG NGOẠI
Water - Determination of oil and grease - Partition-infrared method
Lời nói đầu
TCVN 7875 : 2008 được xây dựng trên cơ sở SMEWW "Standard methods for the examination of water and wastewater 5520 C Partition-infraed method".
TCVN 7875 : 2008 do Tiểu Ban kỹ thuật tiêu chuẩn TCVN/TC47/SC2 Hóa học - Phương pháp thử biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
NƯỚC - XÁC ĐỊNH DẦU VÀ MỠ - PHƯƠNG PHÁP CHIẾU HỒNG NGOẠI
Water - Determination of oil and grease - Partition-infrared method
Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định hàm lượng dầu và mỡ có trong nước bằng phương pháp chiếu hồng ngoại.
Tiêu chuẩn này sử dụng các định nghĩa sau
2.1. Dầu đã biết (known oil)
Mẫu dầu và/hoặc mỡ đại diện cho một loại nguyên liệu được sử dụng hoặc được sản xuất trong quá trình xử lý nước thải.
2.2. Dầu chưa biết (unknown oil)
Mẫu đại diện của dầu và/hoặc mỡ không có sẵn trong quá trình chuẩn bị dung dịch tiêu chuẩn.
Sử dụng triclrotrifloroetan làm dung môi chiết để hấp thụ liên kết cacbon-hydro có trong dầu và mỡ, dùng phương pháp hấp thụ hồng ngoại để định lượng. Việc bỏ qua quy trình bay hơi cho phép phát hiện bằng hồng ngoại tương đối nhiều hydrocacbon dễ bay hơi. Do vậy, các sản phẩm chưng cất dầu mỏ nhẹ hơn, không bao gồm xăng, có thể được đo một cách chính xác. Bằng thiết bị thích hợp có thể xác định được lượng dầu và mỡ đến 0,2 mg/l.
Trong quá trình phân tích, chỉ dùng các loại hóa chất có chất lượng tinh khiết phân tích và chỉ dùng nước cất hoặc nước có độ tinh khiết tương đương.
4.1. Axit clohydric, HCI, dung dịch 1:1
4.2. Triclorotrifloroetan (1,1,2-triclo-1,2,2-trifloroetan) có điểm sôi 47 °C. Dung môi không được còn cặn sau khi bay hơi: chưng cất, nếu cần. Không sử dụng ống nhựa để chuyển dung môi giữa các bình chứa.
4.3. Natri sulfat, Na2SO4, khan, tinh thể
4.4. Dầu chuẩn
Chuẩn bị hỗn hợp gồm 37,5 % isooctan, 37,5 % hexadecan và 25,0 % benzen theo thể tích. Bảo quản trong bình kín để tránh bay hơi.
Các thiết bị, dụng cụ thông thường trong phòng thử nghiệm và
5.1. Phễu chiết, dung tích 2 I, có van khóa TFE 1)
5.2. Bình định mức, dung tích 100 ml.
5.3. Phễu thuỷ tinh.
5.4. Giấy lọc, đường kính 11 cm.
5.5. Máy ly tâm, có khả năng quay ít nhất bốn ống ly tâm bằng thuỷ tinh dung tích 100 ml với tốc độ 2400 vòng/min hoặc nhanh hơn.
5.6. Ống ly tâm bằng thuỷ tinh, dung tích 100 ml.
5.7. Thiết bị quang phổ hồng ngoại, có hai chùm tia và có bộ ghi.
5.8. Cuvet thạch anh sử dụng trong vùng hồng ngoại gần.
Lấy mẫu đại diện vào trong bình thủy tinh miệng rộng, đã được rửa sạch bằng xà phòng, rửa bằng nước và cuối cùng tráng bằng dung môi để loại bỏ cặn lắng bất kỳ có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích. Nếu rửa bằng dung môi, đậy bình bằng lá nhôm và nung nóng ở nhiệt độ 200 °C đến 250 °C ít nhất trong 1 h. Đối với bình chứa mẫu có joăng PTFE; rửa sạch joăng như ở trên, nhưng giới hạn nhiệt độ từ 110oC đến 200 oC. Lấy mẫu riêng biệt để xác định dầu và mỡ. Không đổ tràn bình chứa mẫu và không chia nhỏ mẫu trong phòng thử nghiệm. Lấy hai mẫu giống nhau để phân tích hai lần hoặc kiểm soát đảm bảo chất lượng (QA). Cùng lúc lấy hai mẫu giống nhau liên tiếp hoặc lấy vào một bình chứa lớn có thiết bị khuấy cơ học (trong trường hợp lấy mẫu vào bình chứa lớn, dùng xifông cho chảy riêng từng phần). Lấy khoảng một lít mẫu nước. Nếu nồng độ mẫu mong muốn lớn hơn chất chiết 1000 mg/l, lấy các thể tích nhỏ hơn theo tỷ lệ tương ứng. Nếu quá 2 h mẫu chưa được phân tích thì phải axit hoá đến pH 2 hoặc thấp hơn bằng HCI 1:1 hoặc H2SO4 1:1 và giữ lạnh.
Mẫu được đưa đến phòng thử nghiệm, đánh dấu mức nước trên chai mẫu hoặc cân chai để xác định thể tích mẫu. Nếu mẫu chưa được axit hoá trước (xem điều 6), thì axit hoá bằng HCI 1:1 hoặc H2SO4 1:1 xuống pH 2 hoặc thấp hơn (thông thường, đối với 1 l mẫu cần 5 ml axit là đủ). Chuyển cẩn thận mẫu sang phễu chiết, tráng chai mẫu bằng 30 ml triclorotrifloroetan và rót phần dung môi tráng vào phễu. Lắc mạnh trong 2 min. Để tách lớp. Mở khoá phễu cho tất cả chảy ra, còn một phần rất nhỏ lớp triclorotrifloroetan phía dưới cho chảy qua phễu có sẵn giấy lọc và 10 g Na2SO4, cả hai đều được tráng bằng dung môi, vào bình định mức sạch có dung tích 100 ml. Nếu không thu được lớp dung môi trong và có khoảng hơn 5 ml nhũ tương xuất hiện, đổ phần nhũ và dung môi vào ống ly tâm và ly tâm trong 5 min với tốc độ khoảng 2400 vòng/min. Chuyển phần đã ly tâm vào phễu chiết thích hợp và cho lớp dung môi chảy qua phễu có giấy lọc và 10 g Na2SO4, cả hai đã được rửa sạch trước, vào trong bình cất sạch đã trừ bi. Gộp các lớp dung dịch và nhũ còn lại hoặc các chất rắn trong phễu chiết. Đối với mẫu có phần nhũ nhỏ hơn 5 ml, chỉ cho phần dung môi sạch chảy qua phễu có giấy lọc đã được làm ẩm trước và 10 g Na2SO4. Gộp lớp dung môi và phần nhũ còn lại hoặc các chất rắn vào trong phễu chiết. Chiết thêm hai lần nữa, mỗi lần bằng 30 ml dung môi, nhưng trước tiên tráng bình chứa mẫu bằng dung môi. Lặp lại bước ly tâm nếu nhũ tương tiếp tục xuất hiện ở bước chiết tiếp theo. Gộp các phần chiết vào bình định mức, bao gồm phần rửa lọc cuối và Na2SO4 với lượng dung môi bổ sung từ 10 ml đến 20 ml. Thêm dung môi đến thể tích là 100 ml.
Chuẩn bị dung dịch gốc của dầu đã biết bằng cách chuyển nhanh khoảng 1 ml (0,5 g đến 1 g) dầu hoặc mỡ vào bình định mức dung tích 100 ml đã biết khối lượng. Đậy nút bình và cân chính xác đến miligam. Thêm dung môi để hoà tan và pha loãng đến vạch mức. Nếu dầu là dầu chưa biết (2.2), sử dụng dầu chuẩn (4.4) làm mẫu chuẩn. Sử dụng kỹ thuật định mức, chuẩn bị một dãy các dung dịch tiêu chuẩn trong dải quan tâm. Chọn một cặp cuvet thạch anh hồng ngoại gần phù hợp nhất. Cuvet thạch anh có độ dày 1 cm thích hợp đối với dải làm việc từ 4 mg đến 40 mg. Quét các dung dịch tiêu chuẩn và mẫu từ 3200cm-1 đến 2700 cm-1 với dung môi trong chùm tia chuẩn và ghi lai kết quả. Đo độ hấp thụ của mẫu và dung dịch tiêu chuẩn bằng cách xây dựng đường nền thẳng trong phạm vi nồng độ khảo sát và đo mức độ hấp thụ lớn nhất ở 2930 cm -1 và trừ đi độ hấp thụ của đường nền tại điểm đó. Nếu độ hấp thụ vượt quá 0,8 đối với mẫu, chọn cuvet thạch anh có độ dày nhỏ hơn hoặc pha loãng theo yêu cầu. Sử dụng các dung dịch tiêu chuẩn để xây dựng đường chuẩn.
Nồng độ của dầu và mỡ, c. tính bằng mg/l theo công thức
c = ![]()
Trong đó
A là khối lượng dầu hoặc mỡ trong phần chiết được xác định từ đường chuẩn, tính bằng mg;
V là thể tích mẫu, tính bằng ml.
- 1 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7876:2008 về Nước - Xác định hàm lượng thuốc trừ sâu clo hữu cơ - Phương pháp sắc ký khí chiết lỏng-lỏng
- 2 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7874:2008 về Nước - Xác định phenol và dẫn xuất của phenol - Phương pháp sắc ký khi chiết lỏng-lỏng
- 3 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7872:2008 về Nước - Xác định hàm lượng amoniac - Phương pháp điện cực chọn lọc amoniac
- 1 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7876:2008 về Nước - Xác định hàm lượng thuốc trừ sâu clo hữu cơ - Phương pháp sắc ký khí chiết lỏng-lỏng
- 2 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7874:2008 về Nước - Xác định phenol và dẫn xuất của phenol - Phương pháp sắc ký khi chiết lỏng-lỏng
- 3 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7872:2008 về Nước - Xác định hàm lượng amoniac - Phương pháp điện cực chọn lọc amoniac